Xuyên không thập niên 70
Chương5: Mẹo nhỏ tro trấu và vôi tôi
Cỡ chữ
Bàn tay Trần Bình thô ráp, chai sần những vết chai của báng súng và chuôi cuốc, nhưng hơi ấm truyền qua lớp vải áo bảo hộ lại khiến lồng ngực Hoài An khẽ chấn động. Giữa gian đình mịt mù khói đuốc và hơi ẩm nồng nặc đến nghẹt thở, cái nắm tay kín đáo mà dứt khoát của người đội trưởng như một điểm tựa vững chãi, kéo giật cô ra khỏi cảm giác chông chênh, bất lực.
An ngẩng đầu lên. Ánh mắt Bình nhìn xoáy vào cô, không một gợn hoài nghi. Trong con ngươi sâu thẳm của người lính từng đi qua lằn ranh sinh tử ấy, An nhìn thấy sự gửi gắm trọn vẹn, một niềm tin mộc mạc nhưng kiên định đến mức làm sống mũi cô cay sè.
“Tôi có cách,” An đáp, giọng cô không lớn nhưng từng tiếng rơi xuống nền gạch đình nghe rõ mồn một. “Nhưng chúng ta không được chậm trễ dù chỉ một khắc. Hạt giống như đứa trẻ sơ sinh đang lên cơn sốt co giật, để quá nửa đêm nay, phôi mầm chín rục thì có trải chiếu hoa mời trời xuống cũng chịu!”
Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát đứng chống nạnh bên bậu cửa, chiếc bút máy Kim Tinh cài trên túi áo bốn túi rung rinh theo từng nhịp thở dồn dập vì tức tối. Nghe An nói thế, ông ta cười khẩy một tiếng, ngón tay trỏ chỉ thẳng vào mặt cô:
“Liều lĩnh! Vô tổ chức! Cô tưởng hợp tác xã này là cái bếp nhà cô đấy à mà thích làm gì thì làm? Kho thóc này là mồ hôi nước mắt của hàng trăm xã viên, là chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nước! Cán bộ huyện còn chưa kịp về thẩm tra, cô dựa vào đâu mà dám bảo chữa được? Hay lại học đòi mấy cái thói mê tín dị đoan, bùa chú ma giáo?”
Mấy bác lão nông trong Ban quản trị và các đội viên đứng vòng trong vòng ngoài đều nín bặt. Lời chụp mũ của ông Khoát quá nặng. Ở cái thời buổi ranh giới giữa “tận tụy lao động” và “sai lệch lập trường tư tưởng” chỉ mỏng như sợi chỉ, một lời kết tội vô căn cứ cũng đủ khiến người ta mất hết công điểm, thậm chí bị gạt ra khỏi đời sống tập thể.
An hít một hơi thật sâu, nén cơn đau rát buốt từ những vết phồng rộp tứa máu nơi lòng bàn tay. Cô hiểu rõ, nếu lúc này cô đem những thuật ngữ như “quá trình hô hấp kỵ khí”, “sinh nhiệt cục bộ”, hay “nấm mốc Aspergillus” ra để giải thích, chẳng những không thuyết phục được ai mà còn tự đẩy mình vào chỗ chết vì lai lịch bất minh. Ở đây, tri thức của tương lai chỉ có thể sống sót dưới tấm áo choàng của kinh nghiệm dân gian lấm lem bùn đất.
“Báo cáo Chủ nhiệm, thưa các bác, các chú,” An bình tĩnh tiến lên nửa bước, thanh âm rành rọt, lễ phép nhưng không hề nao núng. “Cháu không dám qua mặt cấp trên, càng không dám làm bậy với tài sản chung. Nhưng cháu từng theo thanh niên xung phong mở đường qua mỏm rừng đá Trường Sơn, từng chứng kiến một cụ lang già người Mường bày cách cứu vựa ngô giống bị ngập mưa rừng cho bộ đội biên phòng. Hạt thóc, hạt ngô tích trong bồ kín gặp khí trời nồm ẩm thì phát nhiệt, dân gian gọi là hiện tượng ‘uất khí sinh hỏa’. Hạt đang bốc khói là do khí nóng và hơi nước bị nghẽn dưới đáy cót không thoát ra được, đọng lại làm chua vỏ trấu. Muốn cứu, việc đầu tiên là phải ‘thông phong hạ hỏa’, rút sạch độc ẩm từ bên trong ruột cót, tuyệt đối không được xới tung ra ngoài gió lạnh khiến hạt bị trúng hàn mà thối mầm!”
Lời giải thích của An vừa dứt, mấy bác nông dân có tuổi trong Đội 1 đưa mắt nhìn nhau. Một ông cụ râu tóc hoa râm, tay cầm chiếc điếu bát khẽ gật gù:
“Nghe con bé nói... phải đấy ông Khoát ạ. Ngày xưa thời còn làm ăn cá thể, các cụ nhà tôi trữ thóc giống trong chum lớn mùa nồm cũng hay bị hấp hơi. Nếu đem đổ vội ra sân gạch gặp gió bấc là hôm sau vỏ hạt nhớt dính, mầm thui chột ngay. Phải có cách rút hơi ẩm từ từ trong bồ ra mới giữ được phôi.”
“Phải cái gì mà phải!” Ông Khoát sẵng giọng, mặt đỏ gay vì bị xã viên phản bác. “Đấy là chuyện thời phong kiến lạc hậu! Bây giờ là thời đại sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, mọi việc phải theo quy trình khoa học của Ty Nông nghiệp! Ai dám bảo đảm cái mẹo rừng rú ấy thành công? Nếu hỏng, hàng chục tấn giống này quy ra thóc thịt, lấy cái gì đền cho Nhà nước? Ai đứng ra gánh trách nhiệm?”
Ánh mắt sắc lẹm của ông Khoát quét qua một lượt. Dưới cái nhìn đe dọa ấy, đám thanh niên dân quân lẫn các đội viên lớn tuổi đều bất giác lùi lại nửa bước, cúi đầu nhìn mũi dép lốp. Cái đói giáp hạt đang treo lơ lửng trên đầu từng mái nhà, không một ai đủ can đảm đem số phận cả gia đình mình ra thế chấp.
“Tôi gánh!”
Một tiếng quát trầm vang như lệnh xuất quân nơi chiến hào xé toang bầu không khí ngột ngạt.
Trần Bình bước lên, chiếc chân trái hơi khập khiễng nhưng từng bước đi lại nặng nề, dứt khoát như cắm rễ xuống nền đá xanh. Anh đứng chắn ngay trước mặt Hoài An, thân hình cao lớn sừng sững tựa bức tường thành, đôi mắt quắc lên nhìn thẳng vào vị Chủ nhiệm hợp tác xã.
“Đồng chí Khoát,” Bình gằn từng tiếng, giọng đanh thép mang trọn khí phách của người chỉ huy trận mạc. “Huyện cử tôi về đây làm Đội trưởng Đội 3, là để tôi cùng bà con cày sâu cuốc bẫm, làm ra củ khoai hạt lúa chứ không phải để tôi ngồi trơ mắt nhìn giống má thối rữa chờ một tờ giấy biên bản! Từ đây lên huyện hơn hai mươi cây số đường bùn lầy, chờ cán bộ nông nghiệp đạp xe về tới nơi thì đống giống này đã thành phân mục. Tôi lấy toàn bộ sinh mệnh chính trị, tư cách đảng viên và một nghìn hai trăm công điểm cả năm nay của bản thân ra bảo lãnh!”
Cả gian đình ồ lên kinh ngạc. Một nghìn hai trăm công điểm! Đó là toàn bộ mồ hôi, nước mắt, là tiêu chuẩn chia thóc chia sắn nuôi sống bà cụ Mẫn và Bình trong suốt cả một năm ròng rã!
Bình quay sang phía các xã viên Đội 3 đang đứng lố nhố ngoài cửa, giơ cao cánh tay cuồn cuộn gân guốc:
“Nếu Đội 3 thử nghiệm cách này mà làm hỏng giống, tôi nhận mọi hình thức kỷ luật trước Huyện ủy, chịu trừ sạch tiêu chuẩn lương thực! Nhưng nếu thành công, giống được cứu sống cho vụ chiêm sắp tới, thì đó là công sức của cả tập thể! Bà con Đội 3, ai còn muốn vụ tới có thóc giống tra hạt, có cơm độn cho con cái ăn, bước vào đây cùng tôi!”
Sự dũng cảm và tinh thần dám chịu trách nhiệm của Bình như một mồi lửa ném vào đống rơm khô. Chị Đượm là người đầu tiên nhảy phắt qua bậu cửa đình, xắn tay áo nâu lên quá khuỷu, giọng the the mà rắn rỏi:
“Tôi theo anh Bình! Chết vinh còn hơn sống nhục, nhìn thóc thối mà khoanh tay thì vụ tới cả làng đi ăn mày à? Chị em Đội 3 đâu, vào việc!”
“Đúng! Làm thôi! Anh Bình dám lấy công điểm ra cược, chúng tôi sợ cái gì!”
Tiếng hưởng ứng rộ lên như sóng trào. Đám thanh niên dân quân cũng rạo rực khí thế, chẳng còn ai để tâm đến sắc mặt xám ngoét như tro tàn của ông Khoát. Chủ nhiệm Khoát há hốc mồm, chiếc bút máy cài trên ngực áo như muốn rớt ra ngoài. Ông ta run run chỉ tay vào Bình, nuốt khan một ngụm nước bọt:
“Được... các người giỏi lắm! Đồng chí Cần, lập biên bản ghi rõ: Đội trưởng Trần Bình tự ý phá hoại hiện trường, tự tiện áp dụng phương pháp phi khoa học! Nếu có thiệt hại, Đội 3 hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật!”
Nói đoạn, ông Khoát giận dữ giật mạnh chiếc cặp da sờn góc, hậm hực quay lưng bước vội ra màn mưa phùn mịt mùng ngoài sân đình, để lại gian kho hỗn loạn nhưng bừng bừng ý chí.
An thở phào một hơi, nhưng cô biết, cuộc chiến thực sự bây giờ mới bắt đầu. Thời gian không chờ đợi ai. Cô quay sang Bình, ánh mắt lấp lánh sự cảm phục:
“Cảm ơn anh. Bây giờ phải chia người làm ngay bốn việc, chậm một khắc là hỏng hết.”
“Cô cứ ra lệnh, tôi đốc thúc anh em làm bằng xong!” Bình nhìn An, ánh mắt đầy vẻ tin cậy.
An gật đầu, lập tức phân công bằng tác phong nhanh gọn, chuẩn xác của một kỹ sư công nghệ:
“Việc thứ nhất: Chị Đượm dẫn mấy chị em chạy ngay ra lò gạch cũ đầu xóm hoặc nhà bác nào vừa dỡ bếp, gom cho tôi khoảng bốn đến năm thúng vôi tôi khô. Nhớ kỹ là vôi bột khô kiệt, không được lẫn một giọt nước! Kiếm thêm mấy tấm bao tải gai hoặc bao sợi đay rách, rũ sạch bụi.”
“Có ngay! Lò gạch xóm Trại sẵn vôi lắm, tôi đi một loáng là về!” Đượm thoăn thoắt kéo theo ba cô gái trẻ chạy vội ra cửa.
“Việc thứ hai,” An nhìn về phía đám thanh niên trai tráng. “Các anh mang dao rựa ra rặng tre đằng sau đình, chặt cho tôi mười lăm cây tre bương hoặc tre gai già, gióng dài và thẳng. Dùng dùi sắt nung đỏ đục thủng hết các mắt tre bên trong để tạo thành ống rỗng. Sau đó, trên thân mỗi ống tre, dùng dao khoét các lỗ so le cách nhau chừng một gang tay, lỗ to bằng đầu ngón tay cái, khoét chéo hướng lên trên để hạt không lọt vào trong nhưng hơi nóng có thể thoát ra!”
Đám thanh niên thoáng ngơ ngác trước yêu cầu kỳ lạ, nhưng thấy Bình nghiêm nghị gật đầu, một anh lập tức hô lớn:
“Rõ rồi! Đục ống tre làm ống dẫn khói chứ gì! Anh em mang rựa đi theo tôi!”
“Còn việc thứ ba,” An quay sang Bình và số xã viên còn lại. “Tìm mười cái nong lớn, quét sạch bụi, kê cao cách mặt đất nửa mét ở hai gian đình bên tả và bên hữu. Gom toàn bộ trấu khô và rơm nếp sạch trên gác bếp của các nhà gần đây. Đem trấu cho vào chảo gang lớn rang nóng già trên bếp lửa cho kiệt sạch hơi ẩm rồi tãi ra cho nguội hẳn. Chúng ta không đảo tung khối hạt, mà sẽ bóc tách từng lớp!”
Mệnh lệnh được ban ra rành rọt, khúc chiết đến mức không ai nghĩ đó là lời của một cô gái vừa ốm dậy. Gian đình cổ vốn thâm nghiêm, tịch mịch bỗng chốc biến thành một công trường hối hả giữa đêm đen. Ánh lửa bập bùng từ những ngọn đuốc dầu trẩu soi rõ những gương mặt lấm lem mồ hôi nhưng rạng ngời quyết tâm.
Nửa tiếng sau, những vật liệu cần thiết lần lượt được tập kết về gian kho.
An trực tiếp chỉ đạo quy trình xử lý. Dưới đáy của một chiếc cót quây bằng nứa đan cao lút đầu người, cô hướng dẫn bà con rải một lớp rơm nếp rang khô dày chừng hai gang tay để cách ẩm tuyệt đối với nền gạch ngậm nước. Bên trên lớp rơm, An cho đặt những chiếc bọc bằng vải bao tải gai chứa đầy vôi tôi khô.
“Vôi tôi khô có tính háo nước cực mạnh,” An thầm nghĩ trong đầu, cẩn thận kiểm tra từng mối buộc của bao gai. Ở thế kỷ 21, người ta dùng silicagel hay máy hút ẩm công nghiệp, nhưng giữa năm 1976 này, vôi sống và vôi tôi khô chính là chất hút ẩm rẻ tiền và hiệu quả nhất mà thiên nhiên ban tặng. Lớp vôi nằm dưới đáy sẽ hoạt động như một cỗ máy bơm ngầm, liên tục hút sạch lượng ẩm tích tụ rỉ xuống từ khối hạt bên trên mà không hề làm hạt bị nhiễm kiềm trực tiếp.
Tiếp đó, An cho rải một lớp tro trấu rang nguội để tạo màng ngăn vi sinh vật và chống nấm mốc xâm nhập ngược.
Khi lớp đệm đáy đã hoàn tất, khâu quan trọng nhất bắt đầu: cắm ống thông nhiệt.
Mười lăm ống tre bương dài hơn hai mét, đã được đục mắt rỗng tuếch và trổ chi chít những lỗ thoát hơi hình mang cá, được Bình và các thanh niên lực lưỡng cắm thẳng đứng và cắm chéo từ trên đỉnh đống hạt xuống tận đáy cót. Khoảng cách giữa các ống được An căn chỉnh tỉ mỉ theo bán kính tản nhiệt tự nhiên, chừng sáu mươi đến bảy mươi phân một ống.
Vừa cắm xong ống tre thứ năm, một luồng hơi nóng ẩm ngột ngạt kèm theo mùi chua nồng lập tức từ trong lòng ống tre bốc ngược lên trời, phả thẳng vào mặt An.
“Bốc hơi rồi! Ống tre đang nhả khói kìa!” Một anh dân quân reo lên kinh ngạc khi nhìn thấy làn khói mờ mờ cuộn tròn thoát ra từ miệng ống tre trên đỉnh cót ngô.“Đúng là ống khói thật!” Tiếng trầm trồ vang lên khắp gian đình.
Hiện tượng vật lý đối lưu nhiệt cực kỳ đơn giản: không khí nóng ẩm nhẹ hơn sẽ tự động luồn qua các lỗ đục trên thân tre, gom vào lòng ống rỗng rồi bốc thẳng lên cao thoát ra ngoài; đồng thời không khí khô mát từ bề mặt sẽ từ từ thẩm thấu ngược vào trong để bù đắp, hạ nhiệt độ vùng lõi hạt xuống mức an toàn. Nhưng với những người nông dân quanh năm chỉ biết làm theo kinh nghiệm truyền miệng, cảnh tượng ấy chẳng khác nào một phép màu kỳ diệu!
An không giấu được nụ cười nhẹ nhõm, nhưng cô không cho phép mình lơ là. Cô lấy xẻng gỗ, cẩn thận hướng dẫn mọi người xúc từng lớp hạt ngô và thóc ở bề mặt trên cùng — nơi nhiệt độ cao nhất — tãi mỏng ra các nong nia đã kê sẵn ở gian đình thoáng gió.
“Nhớ là chỉ tãi mỏng hai đốt ngón tay, dùng tay cào nhẹ theo hình gợn sóng để hạt thoát nhiệt từ từ!” An vừa nói vừa cúi xuống, tự tay dùng đôi bàn tay trần đảo từng vốc ngô vàng rực.
Cơn đau buốt từ những vết rách da do buổi vét mương ban chiều đột ngột nhói lên khi cạnh sắc của hạt ngô cọ sát vào da thịt. An khẽ rụt tay lại, cắn chặt môi, mồ hôi túa ra trên vầng trán thanh tú.
Một bóng đen cao lớn bỗng che khuất ánh đèn bão trước mặt cô.
Bình đã bước tới tự lúc nào. Anh không nói một lời, lặng lẽ nắm lấy cổ tay An, kéo nhẹ tay cô ra khỏi nong ngô. Nhìn thấy lòng bàn tay nhỏ nhắn của cô gái trẻ chằng chịt những vết phồng rộp vỡ nước, máu tươi rỉ ra thấm đỏ cả những hạt ngô bám dính, quai hàm Bình bạnh ra, ánh mắt anh chùng xuống, dâng lên một nỗi xót xa không sao che giấu nổi.
Bình móc từ trong túi chiếc áo trấn thủ ra một mảnh vải dù màu cỏ úa — có lẽ là kỷ vật cắt ra từ chiếc dù pháo sáng thời ở chiến trường. Anh cúi xuống, động tác vụng về nhưng vô cùng nhẹ nhàng, cẩn thận quấn từng vòng quanh lòng bàn tay An, thắt nút lại ngay ngắn.
“Cô ra góc đình ngồi nghỉ đi,” Bình trầm giọng, thanh âm khàn khàn chứa đựng sự quan tâm kín đáo. “Việc nặng ở đây để cánh đàn ông chúng tôi lo. Cô là đầu óc, là chỉ huy, phải giữ sức mà trông chừng đống hạt.”
An ngước nhìn khuôn mặt phong sương của người cựu chiến binh, cảm nhận hơi ấm từ dải vải dù mát rượi đang xoa dịu vết thương rát bỏng. Khoảng cách giữa hai người lúc này gần đến mức cô có thể ngửi thấy mùi mồ hôi mằn mặn hòa lẫn mùi khói thuốc lá Tam Đảo thoang thoảng trên áo anh. Trái tim An đập lệch một nhịp. Cô khẽ gật đầu, nở một nụ cười mệt mỏi nhưng chân thành:
“Tôi không sao đâu, anh Bình. Việc đảo hạt phải làm liên tục bốn tiếng một lần, không được ngơi tay.”
“Tôi biết rồi. Đội 3 sẽ chia ca trực thâu đêm. Cô cứ yên tâm.”
Đêm đầu tiên trôi qua trong sự căng thẳng tột độ. Tiếng kẻng canh ba, canh tư trên ngọn cây đa đầu làng lần lượt gióng lên những tiếng buồn bã, lạnh lẽo giữa làn sương đông buốt giá của vùng châu thổ sông Đáy. Nhưng bên trong ngôi đình cổ An Hòa, không khí lại hầm hập như một lò bánh mì.
Cứ cách bốn tiếng, An lại thức dậy cùng Bình đi kiểm tra từng cót thóc. Cô luồn tay vào sâu trong các ống tre, cảm nhận độ nóng ẩm của luồng khí thoát ra. Cứ mỗi lần luồng khí bớt nồng nặc mùi men chua, lòng An lại nhẹ nhõm đi một phần.
Sang ngày thứ hai, công việc đảo hạt và thay các bao vôi tôi dưới đáy bồ vẫn tiếp diễn không ngừng nghỉ. Những bao vôi ban đầu khô ráo, nhẹ bẫng nay đã nở trương phồng, nặng trịch và tỏa nhiệt ấm nóng — bằng chứng rõ ràng cho thấy chúng đã hút no nê hàng chục lít nước tù đọng dưới đáy cót. Lớp tro trấu cách ẩm phát huy tác dụng tuyệt vời, giữ cho những hạt giống tầng đáy không hề bị ẩm mốc hay biến màu.
Đến đêm thứ hai, một sự thay đổi rõ rệt đã diễn ra.
Khói trắng không còn bốc lên ngùn ngụt từ các miệng ống tre nữa. Không khí trong kho đình trở nên thông thoáng, dễ thở. Mùi chua nồng của tinh bột lên men biến mất hoàn toàn, thay vào đó là mùi thơm ngai ngái, khô ráo đặc trưng của rơm rạ và vỏ trấu sạch.
An thọc sâu cả cánh tay vào tận tâm của cót ngô giống lớn nhất. Cảm giác truyền lại qua da thịt không còn là cái nóng hầm hập như luộc của hai ngày trước, mà là một độ ấm nhẹ dịu, khô ráo và mát mẻ. Khối hạt đã hoàn toàn ngừng quá trình tự phát nhiệt! Phôi hạt ngô vàng óng, ráo hoảnh, lớp mày hạt cứng cáp bám chặt vào cùi.
Để cẩn thận tuyệt đối, An lấy một chiếc đĩa sành mẻ, lót vào đó một lớp bông gòn thấm nước mưa sạch, rồi tỉ mỉ gieo vào ba mươi hạt ngô và năm mươi hạt thóc giống lấy ngẫu nhiên từ các tầng cót khác nhau.
Sáng sớm ngày thứ ba, khi những tia nắng hiếm hoi của mùa đông yếu ớt rọi qua khe cửa gỗ lim của mái đình, soi rọi những hạt bụi lơ lửng trong không gian, An hồi hộp mở chiếc đĩa sành ra kiểm tra.
Trước mắt cô, những chiếc mầm ngô màu trắng ngà, mập mạp và rắn rỏi như những chiếc răng chuột đã đồng loạt đội lớp vỏ hạt nhú lên, vươn dài chừng hai milimet! Trên đĩa thóc, những mầm lúa chiêm xanh non li ti cũng cựa mình thức giấc, hoàn toàn không có bất kỳ dấu vết nào của sợi nấm mốc đen hay hiện tượng thối nhũn!
Tỷ lệ nảy mầm đạt trên chín mươi phần trăm! Hạt giống đã sống lại!
“Nảy mầm rồi! Mầm trắng muốt thế này thì vụ chiêm này cầm chắc thắng lợi rồi bà con ơi!”
Tiếng reo hò của bác thủ kho Cần làm rung chuyển cả mấy gian nhà đình. Bác Cần mừng đến mức run rẩy đánh rơi cả chiếc điếu cày xuống đất, vừa cười vừa lau nước mắt. Mấy chục xã viên Đội 3 đang nằm gà gật trên những đống rơm khô vội bật dậy, ùa lại quanh chiếc đĩa sành. Những bàn tay thô ráp, nứt nẻ vì giá rét run rẩy sờ vào những mầm ngô bé xíu như chạm vào những báu vật vô giá. Đó không chỉ là hạt giống, đó là bát cơm đầy, là sự sống, là hy vọng của cả làng An Hòa qua mùa giáp hạt khốc liệt!
Đúng lúc ấy, cánh cửa đình nặng nề ken két mở ra.
Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát bước vào, theo sau là hai cán bộ của Phòng Nông nghiệp huyện Chương Mỹ mặc áo đại hàn màu chàm, vai đeo túi cốt, nét mặt đăm chiêu nghiêm nghị. Rõ ràng, ông Khoát dẫn người về đây là để lập biên bản xử lý kỷ luật Trần Bình và Đội 3 như lời đe dọa hôm trước.
“Báo cáo hai đồng chí cán bộ huyện,” ông Khoát vừa đi vừa chỉ tay vào trong kho, giọng điệu đầy vẻ nghiêm trọng. “Hiện trường ở trong này. Mấy hôm trước kho bị sự cố, Đội trưởng Trần Bình bất chấp kỷ luật của Ban quản trị, nghe lời xúi bẩy của phần tử thiếu hiểu biết tự tiện phá dỡ, đảo lộn kho tàng...”
Lời nói của ông Khoát đột ngột nghẹn ứ lại nơi cổ họng.
Mùi hôi thối, chua nồng mà ông ta tưởng tượng không hề xuất hiện. Đập vào mắt vị Chủ nhiệm và hai cán bộ huyện là những cót hạt giống được quây gọn gàng, ngăn nắp. Khói đã tắt ngấm. Những ống tre thông phong cắm ngay ngắn như những người lính gác. Và quan trọng nhất, mùi thơm ngọt của hạt ngũ cốc khô ráo đang lan tỏa khắp không gian.
Một đồng chí cán bộ huyện trạc bốn mươi tuổi, đeo kính trắng, bước nhanh tới chiếc nong ngô gần nhất. Anh ta luồn cả hai tay vào đống hạt, bốc lên một nắm lớn, đưa lên mũi ngửi thật sâu, rồi dùng móng tay bấm mạnh vào từng phôi hạt.
“Hạt khô kiệt, độ ẩm không quá mười bốn phần trăm, phôi mầm hoàn toàn nguyên vẹn, không có hiện tượng nhớt hóa!” Vị cán bộ huyện thốt lên đầy vẻ kinh ngạc. Anh ta quay sang chiếc đĩa sành nảy mầm đặt trên bàn sổ sách, mắt sáng rực lên: “Tỷ lệ sống tuyệt vời! Thậm chí mầm còn mập hơn cả hạt giống bảo quản lạnh ở kho mẫu của huyện! Các đồng chí làm cách nào mà trong vòng chưa đầy ba ngày có thể hạ nhiệt và cứu sống được cả chục tấn hạt đang trong giai đoạn lên men nguy cấp thế này?”
Bình đứng thẳng người, bình thản tiến lên phía trước một bước, dõng dạc báo cáo:
“Báo cáo đồng chí cán bộ huyện, đây là sáng kiến cải tiến kỹ thuật của Đội 3 chúng tôi. Bằng cách áp dụng mẹo hút ẩm truyền thống bằng vôi tôi khô và tro trấu rang, kết hợp hệ thống ống tre thông phong đối lưu hạ nhiệt độ vùng lõi, chúng tôi đã bảo toàn thành công một trăm phần trăm số giống của hợp tác xã mà không tốn một đồng ngân sách nào của Nhà nước!”
Vị cán bộ huyện gật đầu tấm đắc, vỗ mạnh vào vai Bình:
“Xuất sắc! Rất sáng tạo, rất có tinh thần làm chủ tập thể! Đây là một bài học thực tiễn vô cùng quý giá cho công tác bảo quản lương thực mùa nồm ẩm. Chúng tôi sẽ ghi nhận thành tích này của Đội 3 và báo cáo lên Huyện ủy để biểu dương!”
Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát đứng chết trân tại chỗ. Toàn bộ kịch bản luận tội, lập biên bản kỷ luật mà ông ta chuẩn bị kỹ lưỡng suốt hai ngày qua bỗng chốc tan thành mây khói. Nhìn kho giống quý giá được cứu sống trong gang tấc, chiếc ghế Chủ nhiệm của ông ta coi như được an toàn tuyệt đối trước nguy cơ bị cách chức vì làm mất mùa màng của xã. Ông Khoát thở phào nhẹ nhõm một hơi dài, tảng đá đè nặng trong ngực rốt cuộc cũng rơi xuống.
Thế nhưng, khi ánh mắt ông ta lướt qua đám đông xã viên đang hân hoan reo hò, rồi dừng lại trên dáng hình mảnh khảnh của Nguyễn Hoài An đang lặng lẽ đứng nép mình bên góc cột đình, tia nhẹ nhõm trong mắt ông Khoát bỗng biến mất, thay vào đó là một vẻ dò xét, nghi hoặc đến lạnh người.
Một đứa con gái cựu thanh niên xung phong, con nhà ông giáo nghèo mạt rệp trong xóm, học hành chưa hết cấp ba trường làng, lấy đâu ra cái bản lĩnh dám đối đầu với Chủ nhiệm xã? Lấy đâu ra cái phương pháp bố trí ống tre, vôi bột mạch lạc, chuẩn xác đến từng chi tiết như một kỹ sư nông nghiệp đầu ngành thế kia? Cái gọi là “mẹo của cụ lang già Trường Sơn” nghe thì xuôi tai đấy, nhưng liệu phía sau nó... còn có uẩn khúc gì khác?
Ánh mắt soi mói đầy toan tính của ông Khoát như mũi kim nhọn chĩa thẳng vào An.
An cảm nhận được cái nhìn ấy. Sống lưng cô khẽ lạnh đi, nhưng cô vẫn giữ nét mặt bình thản, khẽ cụp mi mắt xuống giấu đi sự sắc sảo của một trí tuệ tương lai. Cô biết, trong cái thời buổi này, quá nổi bật cũng đồng nghĩa với việc tự biến mình thành mục tiêu của sự nghi kỵ.
Đúng lúc ấy, Bình từ phía bàn làm việc quay lại.
Bắt gặp ánh nhìn của An, khóe môi người đội trưởng khẽ cong lên thành một nụ cười đầm ấm, hiếm hoi nở trên khuôn mặt phong sương dãi dầu. Bình không nói gì, chỉ khẽ gật đầu với cô một cái thật chậm.
Cái gật đầu ấy thay cho muôn vàn lời cảm ơn, vừa là sự tán thưởng chân thành từ tận đáy lòng, vừa như một lời hẹn ước ngầm rằng: dù sóng gió phía trước có lớn đến đâu, bờ vai anh vẫn sẽ luôn ở đó, sẵn sàng che chở cho cô trước mọi giông bão của cuộc đời.
, , vn, live
,
vn
Bình luận (0)
Đang tải bình luận...