Xuyên không thập niên 70
Chương6: Buổi sớm cửa hàng bách hóa
Cỡ chữ
Gió bấc cuối đông thổi ràn rạt qua rặng tre ngà đầu ngõ xóm Trại, rít lên từng hồi buốt buốt như cứa vào da thịt. Bốn giờ sáng, bóng tối vẫn còn đặc quánh như mực tàu bao trùm lấy khắp làng trên xóm dưới. Trong gian nhà tranh vách đất của cụ Khiêm, một đốm lửa nhỏ le lói bùng lên từ chiếc bùi nhùi rơm.
An cẩn thận châm ngọn đèn dầu hỏa được vặn nhỏ đến mức bấc chỉ còn như một hạt đậu đỏ. Dầu hỏa thời buổi này quý hơn cả mật ong, cả tháng tiêu chuẩn của gia đình ông giáo hưu trí chỉ vỏn vẹn nửa lít, nếu không phải việc hệ trọng thì chẳng ai dám thắp quá nửa tuần hương.
An khẽ khàng mặc thêm chiếc áo sơ mi bảo hộ lao động màu cỏ úa ra ngoài manh áo bà ba nâu đã sờn rách hai bên cùi chỏ. Bàn tay phải của cô, nơi những vết xước rách da thịt rỉ máu sau đợt vét mương Đầm Lội và dọn kho nồm ẩm, nay đã se miệng nhờ được rịt bột lá xoan khô và bọc cẩn thận bằng dải vải dù pháo sáng màu xanh rêu. Mùi vải dù khen khét quen thuộc của người lính chiến trường vẫn thoang thoảng quẩn quanh nơi đầu ngón tay, mang theo một cảm giác an tâm kỳ lạ.
“An à, con dậy chưa?”
Tiếng bà Khiêm thì thào khe khẽ từ phía giường trong. Tiếng ho húng hắng của cụ Khiêm lại vang lên sau tấm liếp nứa, khô khốc và tức tưởi trong màn sương giá. Bà Khiêm lập cập lần bước ra, trên tay cầm một chiếc túi vải thô được may lại từ bao tải gạo đã giặt trắng tinh.
“U, con dậy rồi. U nằm thêm đi kẻo lạnh, gió ngoài đê thổi dữ lắm.” An đỡ lấy bàn tay lạnh ngắt, gầy trơ xương của mẹ.
Bà Khiêm khẽ lắc đầu, run rẩy mở góc túi vải, lôi ra một xấp giấy nhỏ được buộc kỹ càng bằng một sợi chỉ đỏ:
“Đây là cuốn sổ gia đình với hai tấm phiếu vải loại D của cả nhà ta nhịn cả năm nay mới dám đem đổi. Còn có phiếu mua dầu hỏa với nửa cân muối hạt quýt. Nghe đâu chuyến này cửa hàng bách hóa huyện mới nhập về được mấy sấp vải thô Nam Định với ít mỡ nước, người ta đổ xô đi đông lắm. Con với cái Đượm đi sớm mà xếp nốt, chậm chân là hết tiêu chuẩn, lại phải đợi sang quý sau thì bố mày không có manh áo lành mà chống rét đâu con ơi.”
An đón lấy xấp tem phiếu mỏng manh. Những mảnh giấy in bằng mực xanh, mực đỏ mờ nhạt trên chất liệu giấy giang xơ xác, góc giấy đã quăn queo vì mồ hôi và sự nâng niu của người già. Đó không đơn thuần là vài mẩu giấy vụn, mà là mồ hôi, nước mắt và cả sự sinh tồn của cả một gia đình trong những năm tháng thắt lưng buộc bụng này.
“U yên tâm, con với chị Đượm đi bây giờ đây. Nhất định con sẽ mang đủ muối với vải về cho thầy bọc áo.”
Ngoài ngõ vang lên tiếng lách cách quen thuộc của xích líp xe đạp cọ vào hộp xích han gỉ, kèm theo tiếng ho “hèm” rất khẽ của chị Đượm. An vội vã nhét xấp tem phiếu sâu vào đáy túi áo trong ngực, cài chiếc kim băng han gỉ lại cho chắc chắn, rồi khoác chiếc túi bạt lên vai bước ra sân.
Sương mù giăng kín mặt ngõ, bám thành từng hạt li ti trên vành nón mê rách chóp của An. Đượm đứng co ro bên chiếc xe đạp Thống Nhất khung nam đã tróc gần hết sơn xanh, hai bàn chân xỏ trong đôi dép nhựa Tiền Phong mòn vẹt đế đang liên tục giậm giậm trên nền đất lạnh buốt để xua đi cái rét.
“Rét thấu xương thấu tủy cô An ạ!” Đượm xuýt xoa, phả ra một luồng khói trắng xóa trong đêm mịt mù. “Mau lên xe tôi đèo. Phải cắm cổ mà đạp cho kịp trước lúc chợ huyện mở cửa, chậm một bước là chỉ có nước húp cháo rùa!”
“Để tôi đạp một đoạn cho ấm người, chị ngồi sau che gió đi.” An mỉm cười, với tay cầm lấy ghi-đông.
“Thôi khỏi! Cái tay cô quấn giẻ như cái bánh tét thế kia, cầm ghi-đông qua mấy ổ gà đường đê nó dằn cho tòe máu ra bây giờ. Lên xe mau, sức trâu mộng như Đặng Thị Đượm này thì mười cây số đường đất nhằm nhò gì!”
Chiếc xe đạp Thống Nhất già nua rên lên ken két dưới sức nặng của hai cô gái trẻ. Con đường đất chạy dọc theo triền đê sông Đáy lồi lõm những ổ trâu, ổ gà đọng nước bùn quánh lại sau trận mưa phùn mấy hôm trước. Hai bên vệ đê, những rặng lau sậy xào xạc trong gió bấc, quất vào ống quần ướt đẫm hơi sương. Đượm gò lưng đạp thốc lên dốc, hơi th* d*c hòa cùng tiếng gió rít bên tai.
Sau hơn một tiếng đồng hồ gồng mình trên con đường gập ghềnh, ánh bình minh nhàn nhạt như lòng đỏ trứng gà muối mới lờ mờ rạng lên sau những rặng bạch đàn khẳng khiu của thị trấn huyện Chương Mỹ.
Trung tâm thị trấn hiện ra trong làn sương xám xịt với dãy nhà gạch một tầng quét vôi vàng đã bong tróc từng mảng lớn. Trước cổng Cửa hàng Mậu dịch Quốc doanh huyện, cảnh tượng đập vào mắt An khiến cô dù đã chuẩn bị tâm lý vẫn không khỏi ngỡ ngàng.
Mới hơn năm giờ rưỡi sáng, nhưng khoảng sân gạch trước cửa hàng đã chật kín người. Không khí đặc quánh mùi mồ hôi, mùi bùn đất đồng ruộng, mùi thuốc lào khét lẹt và cái ẩm mốc ngột ngạt của những manh áo bông cũ kỹ.
Nhưng kỳ lạ nhất là cái hàng dài dằng dặc nối đuôi nhau từ bậc thềm cửa hàng kéo dài ra tận mép mương lộ thiên. Đó không phải là một hàng người thẳng tắp, mà là một chuỗi những vật vô tri được xếp đặt trật tự một cách kỳ quái: những hòn gạch ba banh vỡ đôi, những chiếc nón rách tơi tả, những chiếc rổ sề thủng đáy, đôi dép lốp đứt quai, thậm chí là cả một khúc tre mục hay hòn đá cuội to bằng nắm tay.
“Đấy! Tôi đã bảo mà, thiên hạ họ mang gạch ra ‘đặt nốt’ từ nửa đêm hôm qua rồi!” Đượm đập tay vào đùi đánh đét một cái, vừa th* d*c vừa vội vã dắt xe nép vào gốc cây xà cừ gần đó.
“Xếp hàng bằng gạch thế này mà người ta cũng chịu à chị?” An ngạc nhiên hỏi, ánh mắt lướt qua hàng trăm “vật thế thân” nằm la liệt trên mặt đất.
“Chứ sao không! Luật bất thành văn ở cái đất mậu dịch này đấy cô nương ơi!” Đượm kéo tay An chạy vội lại phía cuối hàng. “Hòn gạch nào nằm trước thì người ấy được vào trước. Ai dám đá văng gạch của người khác là ăn đòn hội đồng ngay. Mau, nhặt lấy cục gạch non đằng kia đặt xuống mau lên!”
An nhanh chân nhặt nửa viên gạch chỉ màu đỏ vỡ vụn dưới mương nước, đặt cẩn thận nối tiếp sau chiếc rổ sề của một bà cụ xóm bên. Hai chị em vừa đứng vào vị trí thì phía sau đã có thêm năm, sáu người nữa lục tục kéo đến, lập tức chèn thêm nón rách và que củi xuống đất.
Gió sớm thổi qua khoảng sân gạch buốt lạnh thấu xương. Người đi mua hàng co ro túm tụm lại thành từng cụm, người xoa tay vào nhau phà hơi nóng, người sốt ruột nhón chân nhìn vào cánh cửa gỗ lim then cài đóng chặt của cửa hàng mậu dịch. Tiếng bàn tán xôn xao xen lẫn tiếng càu nhàu, tiếng trẻ con khóc ngằn ngặt vì lạnh tạo nên một thứ âm thanh hỗn tạp, ngột ngạt đến nghẹt thở.
Đúng sáu giờ ba mươi phút, tiếng lách cách của then sắt cọ vào móc khóa vang lên chói tai.
Cánh cửa gỗ nặng nề từ từ hé mở.
Cả khoảng sân như một tổ ong vỡ. Bất chấp những hòn gạch, đôi dép đã xếp hàng ngay ngắn từ trước, dòng người như một cơn sóng lũ ùa mạnh về phía trước, xô đẩy, chen lấn đến nghẹt thở. Tiếng la hét, chửi bới bắt đầu rộ lên:
“Ấy ấy, ai xô đấy! Đừng có lấn, nát cái rổ của tôi bây giờ!”
“Gạch của tôi ở đây từ bốn giờ sáng! Cái anh kia đi đâu mà chen ngang thế hả?”
“Tránh ra cho người già vào trước! Ối giời ôi, đứa nào giẫm tụt gót dép tao rồi!”
Dòng người cuồn cuộn ép chặt lấy hai cánh cửa hẹp. Đượm kéo chặt lấy vạt áo An, hai mắt trợn ngược, dùng cả tấm thân đẫy đà của mình gồng lên chống đỡ những cú huých cùi chỏ từ bốn phía:
“An! Bám chặt lấy tôi! Cẩn thận cái túi áo trong ngực, ở đây lắm kẻ gian móc túi lắm đấy!”
An nghiến chặt răng, cảm giác lồng ngực mình như bị ép đến mức không thể thở nổi. Những nắm đấm vô tình, những bờ vai thô báp của đám đàn ông đi mua sắt thép và phân bón cứ chực húc văng cô ra khỏi dòng người. Cô phải dồn toàn bộ sức lực của đôi chân cựu thanh niên xung phong, bám chặt lấy bậc thềm gạch rêu phong trơn trượt để không bị ngã dập mặt xuống đất.
Bên trong quầy hàng mậu dịch, ngăn cách với đám đông bằng một hàng chấn song gỗ tiện dày cộm là ba người phụ nữ mậu dịch viên. Họ khoác những chiếc áo bông trần hoa màu sắc sặc sỡ, mái tóc uốn xoăn bồng bềnh cài kẹp nhựa xanh đỏ – một biểu tượng xa xỉ tột cùng của thị dân thời bấy giờ.
Một cô mậu dịch viên trạc ba mươi tuổi, mặt hoa da phấn nhưng đôi mày cau có như đâm lê, đang cầm chiếc thước gỗ dài một mét gõ chan chát xuống mặt bàn kính:
“Trật tự! Có câm mồm đi không thì bảo? Chen lấn nữa là tôi đóng cửa nghỉ bán cả buổi bây giờ! Nghe rõ đây: hôm nay vải phin Nam Định về ít, mỗi hộ chỉ được đổi tối đa bốn mét loại B hoặc sáu mét loại D. Muối hạt bán theo sổ, không có sổ mang phiếu đi tôi xé ráng chịu!”
Giọng nói the thé, sắc như dao cạo của cô mậu dịch viên lập tức dội một gáo nước lạnh vào đám đông đang sôi sục. Tiếng chửi bới hạ bớt giọng nhưng sự chen lấn ngấm ngầm thì lại càng thêm tàn khốc. Mỗi người đều sợ mình sẽ là kẻ chậm chân phải ra về tay trắng.
Đượm và An bị đẩy dạt dần về phía góc quầy bán chất đốt và thực phẩm phụ.
Mùi hôi nồng nặc của mắm tôm nguyên chất trong những chiếc chum sành lớn hòa lẫn với mùi tanh nồng của cá khô mục và mùi dầu hỏa ngai ngái bốc lên nồng nặc, xộc thẳng vào cánh mũi khiến An cảm thấy lợm giọng. Chiếc máy bơm dầu bằng tay kêu cọt kẹt từng nhịp, mỗi lần bóp cò là một tia dầu màu vàng đục chảy nhỏ giọt vào chiếc bình thủy tinh bám đầy cáu ghét.
“Đưa chai với tem đây!” Người mậu dịch viên bán dầu hỏa lạnh lùng quát, mắt thậm chí không thèm liếc nhìn người đối diện.
Đượm luống cuống chìa chiếc can nhựa một lít và xấp tem ra. Người mậu dịch viên giật lấy, dùng kéo cắt xoẹt một góc tem ném vào chiếc hộp sắt Tây, rồi cắm phễu rót dầu vào can. Dầu chảy chưa đầy ba phần tư can thì người đó đã giật mạnh phễu ra, làm dầu hỏa rớt lênh láng ra mặt bàn:
“Xong! Đi chỗ khác cho người sau vào!”
“Kìa chị... cái vạch một lít ở tít trên này cơ mà, của tôi thiếu mất một đốt ngón tay rồi...” Đượm xót xa nhìn ngấn dầu, lí nhí thanh minh.
“Thiếu cái gì mà thiếu? Hao hụt đường ống, cặn bã ai chịu cho? Không lấy thì trả lại đây tôi xé hủy phiếu!” Người mậu dịch viên quắc mắt trừng trừng, tay đã chực với lấy cái can.
“Thôi chị Đượm, mình lấy đi!” An vội giữ tay bạn lại. Cô biết rõ quy tắc ngầm của cái thời này: cãi lại mậu dịch viên chỉ có thiệt thân, họ sẵn sàng viện cớ “thái độ không tốt với cán bộ nhà nước” để từ chối phục vụ, lúc ấy cả nhà sẽ phải chịu cảnh tối tăm cả tháng trời.
Hai người vừa chật vật chuyển sang góc quầy vải và muối hạt thì một đợt xô đẩy dữ dội khác lại ập tới.
Một nhóm người gồm bốn, năm gã đàn ông to con mặc áo bạt, nón cối sụp thấp che nửa mặt – đám đầu nậu chuyên mua gom tem phiếu chợ đen và hàng hóa mậu dịch để tuồn ra ngoài bán giá cắt cổ – bắt đầu dùng sức th*c m*nh vào đám đông nhằm cướp lấy những vị trí đầu tiên quầy vải.
“Tránh hết ra! Nhường đường cho thương binh!” Một gã râu quai nón gầm gừ, nhưng bàn tay gã thì đang thô bạo đẩy mạnh một bà lão sang một bên.
Đám đông bị hất nghiêng ngả. Một cú huých trời giáng từ khuỷu tay của gã đàn ông đập trúng bả vai An khiến cô lảo đảo, ngã nhào về phía chân quầy hàng. Cú va chạm mạnh làm chiếc kim băng gỉ ở miệng túi áo trong ngực bật tung ra.
Xấp tem phiếu – niềm hy vọng may manh áo ấm cho cụ Khiêm và nửa cân muối hạt quýt của cả gia đình – tuột khỏi miệng túi, rơi lả tả xuống nền gạch ẩm ướt đầy vết giày dép bẩn thỉu.
“Tem của tôi!” An thảng thốt kêu lên, hoảng loạn quỳ sụp xuống toan nhặt lấy.
Nhưng đúng lúc ấy, gót giày đinh của một tên đầu nậu đang sấn tới, mũi giày chỉ còn cách tấm phiếu vải mong manh nửa tấc. Nếu chiếc đế sắt ấy giẫm xuống, mẩu giấy ẩm ướt sẽ nát vụn thành bùn đất, mọi công sức và hy vọng sẽ tan thành mây khói. Đượm ở phía sau rú lên kinh hãi nhưng bị người ta chèn cứng ngắc không thể nhúc nhích.
Trong khoảnh khắc nghìn cân treo sợi tóc, một bàn tay to lớn, ngăm đen với những khớp xương gồ ghề bất thần lao xuống như cắt.
Bàn tay ấy nhanh như cắt chộp lấy xấp tem phiếu ngay trước mũi giày đinh. Đồng thời, một bờ vai vững như bàn thạch chen ngang vào khoảng trống, che chắn hoàn toàn cho An khỏi đám người đang hỗn loạn xô tới.
“Đứng lùi lại!”
Một giọng nói trầm vang, đanh thép và đầy uy lực của người lính vang lên ngay đỉnh đầu An, át đi mọi tiếng ồn ào hỗn tạp xung quanh.
Gã đàn ông mặc áo bạt bị chặn đứng lại, gã quắc mắt nhìn lên chực văng tục: “Thằng nào muốn chết...”Nhưng lời chưa kịp thốt ra trọn vẹn thì đã nghẹn ứ lại trong cổ họng gã.
Trần Bình đứng sừng sững như một cột gỗ lim nghìn năm giữa tâm bão hỗn loạn. Anh mặc chiếc áo chấn thủ trần bông màu xanh rêu bạc phếch bên ngoài bộ quân phục Tô Châu không quân hàm, chiếc mũ nồi dạ nghiêng nghiêng để lộ đôi lông mày rậm cau lại nghiêm nghị. Ánh mắt anh sắc lạnh, găm thẳng vào mặt tên đầu nậu như hai mũi dao nhọn đã từng kinh qua bao trận địa sinh tử. Cánh tay áo bên trái của anh để lộ vết sẹo đạn lồi dài vắt ngang bắp thịt cuồn cuộn.
“Đồng chí định dẫm lên tài sản của người dân đấy à?” Bình lạnh lùng cất tiếng, từng chữ thốt ra chắc nịch như đinh đóng vào cột. “Thương binh thật thì người ta xếp hàng đàng hoàng theo chính sách ưu tiên của Nhà nước ở cửa số một. Còn các anh, lợi dụng lộn xộn để chen lấn, chèn ép phụ nữ, đầu cơ trục lợi, có cần tôi mời đồng chí Trưởng công an thị trấn ra đây đối chất danh tính từng người không?”
Cái khí phách hiên ngang, dũng cảm toát ra từ vóc dáng cao lớn và ánh mắt không hề chớp của người cựu chiến binh khiến mấy gã đầu nậu chột dạ lùi lại nửa bước. Dân buôn chợ đen sợ nhất là đụng phải những người lính phục viên cương trực, bởi những người này một khi đã làm tới cùng thì chẳng ai cản nổi.
“Thôi... thôi, chen nhau tí làm gì mà căng thế chú em...” Gã râu quai nón lẩm bẩm chữa thẹn rồi lẩn nhanh vào dòng người.
Bình không thèm nhìn theo bóng gã. Anh lập tức cúi người xuống, vươn cánh tay rắn chắc đỡ lấy cánh tay An, nhẹ nhàng kéo cô đứng dậy:
“Có sao không? Có bị giẫm vào chân không?”
Giọng nói của anh lúc này đã chuyển từ đanh thép sang một vẻ trầm ấm, đầy ân cần và lo lắng. Đôi mắt sắc lạnh ban nãy giờ chỉ còn lại sự dịu dàng kín đáo, chăm chú nhìn lướt qua khắp người An để kiểm tra xem cô có vết thương nào mới không.
An đứng vững lại, nhịp tim vẫn còn đập thình thịch trong lồng ngực vì sợ hãi lẫn xúc động. Nhìn người đàn ông đang đứng che chắn trước mặt mình, che đi toàn bộ những xô bồ, hắt hủi của thế giới xung quanh, sống mũi cô bỗng cay cay:
“Tôi... tôi không sao. May mà có anh...”
Bình mở lòng bàn tay ra. Xấp tem phiếu vẫn còn nguyên vẹn, khô ráo, được những ngón tay thô ráp của anh giữ gìn cẩn thận. Anh đưa nó cho cô, khóe môi khẽ nhếch lên thành một nụ cười kín đáo:
“Cất cho kỹ vào. Đừng để rơi nữa.”
“Sao... sao anh lại ở đây?” An ngạc nhiên hỏi, vừa cẩn thận đón lấy xấp phiếu nhét lại vào túi áo.
“Sáng nay tôi phải lên Phòng Nông nghiệp huyện nộp báo cáo bổ sung về vụ kho giống hôm nọ, tiện thể nhận ít tài liệu kỹ thuật về mạ mùa.” Bình giải thích ngắn gọn, rồi quay sang nhìn Đượm lúc này vừa mới chen được tới nơi, mặt mũi vẫn còn tái mét: “Hai người đứng sau lưng tôi. Để tôi mua giúp cho.”
Có Bình đứng chắn phía trước như một bức tường thành kiên cố, không còn ai dám xô đẩy hay lấn lướt hai cô gái xóm Trại nữa.
Bình đưa giấy giới thiệu của Đội sản xuất và sổ hộ khẩu của nhà cụ Khiêm vào quầy. Nhìn thấy người lính thương binh cao lớn với ánh nhìn cương nghị, ngay cả cô mậu dịch viên mặt hoa da phấn ban nãy cũng bất giác bớt đi vài phần hách dịch. Cô ta đón lấy tem phiếu, dùng chiếc kéo sắt cắt roẹt roẹt từng mảnh tem một cách nhanh nhẹn hơn hẳn, rồi dùng chiếc thước gỗ nhẵn bóng đo đo, cắt ra đúng bốn mét vải thô màu cỏ úa dày dặn, cùng một túi muối hạt xám lạo xạo nặng trĩu.
Khi ba người bước ra khỏi khoảng sân của cửa hàng bách hóa tổng hợp thì mặt trời đã lên cao bằng con sào, xua tan bớt lớp sương mù dày đặc của thị trấn.
Không khí ngoài đường thông thoáng làm phổi An như dịu lại. Nhưng nhìn bao muối hạt nặng chừng mười lăm cân – vốn là tiêu chuẩn muối được mua tích trữ trong ba tháng của cả nhà – cùng chiếc can dầu hỏa lỉnh kỉnh, Đượm không khỏi lo lắng:
“Bao muối nặng thế này, đường đê lại trơn, hai đứa mình chở nhau kiểu gì cũng ngã kềnh ra cho xem!”
“Để tôi chở cho.” Bình lên tiếng.
Anh dắt chiếc xe đạp Thống Nhất khung nam của mình tới. Chiếc xe của Bình dù cũ nhưng được xích líp bảo dưỡng rất cẩn thận, không có tiếng kêu lọc xọc như xe của Đượm, phía sau đèo hàng còn được buộc sẵn hai thanh tre gia cố vô cùng chắc chắn.
Bình thoăn thoắt nhấc bổng bao muối hạt lên, đặt ngay ngắn lên giá đèo hàng phía sau xe mình, dùng sợi dây cao su cắt từ săm ô tô hỏng chằng chéo ba bốn vòng thật chặt. Anh kiểm tra lại độ căng của dây buộc, rồi quay sang nhìn An:
“Đượm chở can dầu với xấp vải về trước đi cho nhẹ. Cô An đi cùng tôi, tôi chở bao muối này về xóm Trại cho.”
Đượm nghe vậy thì mắt sáng rực lên, nụ cười tinh quái quen thuộc lại nở toe toét trên khuôn mặt tròn trịa:
“Ối giời, thế thì còn gì bằng nữa! Đội trưởng đã ra lệnh thì xã viên Đượm xin chấp hành ngay! Tôi đạp xe về trước báo cho u Khiêm mừng nhé, kẻo ở nhà u lại ngóng sốt cả ruột!”
Nói đoạn, chẳng đợi An kịp lên tiếng phản đối, Đượm đã thoăn thoắt trèo lên xe, nhấn bàn đạp lao vút đi trên con đường liên xã, tiếng xích líp khua vang lách cách xa dần.
Khoảng sân ven đường bỗng chốc chỉ còn lại hai người.
An nhìn Bình, cảm thấy hai má mình hơi nóng lên dù gió bấc vẫn đang thổi vù vù qua tán cây bạch đàn. Cô khẽ cất lời:
“Anh Bình... thế này phiền anh quá. Anh vừa đi họp huyện về mệt, lại phải thồ thêm bao muối nặng thế này...”
“Phiền gì mà phiền.” Bình thản nhiên gạt chân chống xe lên, đôi mắt nhìn thẳng vào cô, ánh lên vẻ chân thành mộc mạc: “Tiện đường một công đôi việc cả. Với lại... chân tôi khập khiễng thế này thôi chứ thồ cả tạ thóc vượt đê còn được, mười lăm cân muối có là bao. Cô đi bên cạnh tôi cho đỡ mỏi.”
Hai người cùng nhau sóng đôi bước đi trên con đường đê sông Đáy lộng gió.
Bình một tay giữ ghi-đông, một tay vịn nhẹ vào bao muối phía sau, từng bước chân anh nện đều đặn xuống nền đất đỏ, dẫu chân trái có hơi chấm phẩy một chút nhưng bước đi vô cùng vững chãi, đĩnh đạc. An bước đi bên cạnh anh, tà áo sơ mi bảo hộ phần phật bay trong gió.
Dưới chân đê, dòng sông Đáy mùa đông cạn nước, để lộ ra những bãi bồi phù sa pha cát rộng mênh mông, mọc đầy cỏ gấu và những vạt ngô đông còi cọc vì thiếu phân bón. Xa xa, những mái nhà tranh của xã An Hòa ẩn hiện sau những rặng tre xanh ngắt, khói bếp nhà ai bắt đầu lượn lờ bay lên trong làn gió lạnh.
Cảnh tượng thanh bình mà xơ xác ấy khiến lòng người chùng xuống.
“Anh Bình này,” An khẽ lên tiếng, phá vỡ sự im lặng giữa hai người. “Thời chiến tranh bom đạn ác liệt, mọi người nhịn đói nhịn khát chia nhau từng củ sắn lùi, viên đạn nhường nhau, sao đến khi hòa bình rồi... người ta lại phải đối xử với nhau cay nghiệt đến thế?”
Bình khựng lại nửa nhịp chân, rồi lại tiếp tục bước đi. Ánh mắt anh nhìn xa xăm về phía dòng sông Đáy uốn lượn, nơi những con thuyền nan đang chật vật cắm sào giữa dòng nước cạn:
“Thời ở chiến trường Tây Nam, bom đạn trên đầu, ranh giới giữa cái sống với cái chết chỉ cách nhau một gang tay. Lúc ấy người ta thương nhau thật lòng lắm, có hớp nước trong bi-đông cũng chuyền tay nhau uống, chẳng ai nghĩ đến việc giữ lại cho riêng mình.”
Giọng anh trầm xuống, đượm một nỗi xót xa kín đáo:
“Nhưng về đến hậu phương... cái đói, cái thiếu nó gặm nhấm con người ta từng ngày từng giờ. Nhìn cảnh bà con mình từ sáng tinh mơ đã phải mang gạch vỡ ra xếp nốt, quỵ lụy van xin một lạng mỡ, một mẩu vải thô... thú thật với cô, tôi thấy xót xa lắm. Người lính chúng tôi đổ máu ở chiến trường, chẳng phải là vì mong ngày hòa bình bà con mình được ăn no mặc ấm hay sao? Vậy mà bây giờ...”
Bình siết chặt bàn tay trên ghi-đông xe đạp, những đường gân xanh nổi cộm lên trên mu bàn tay chai sạn. Nỗi trăn trở ấy dường như đã đè nặng trong lòng người đội trưởng trẻ tuổi này suốt bao tháng ngày qua mà không thể giãi bày cùng ai. Nói ra những lời này giữa thời buổi mọi thứ đều phải nhìn trước ngó sau, bị soi xét từng câu chữ là một sự mạo hiểm lớn. Nhưng trước mặt An, anh cảm thấy mình không cần phải giấu giếm bất cứ điều gì.
An nhìn sườn mặt góc cạnh, phong sương của Bình, trong lòng dâng lên một niềm cảm phục sâu sắc. Anh không phải là một người làm chính trị vì chức tước như ông Khoát, anh là một người lính thực thụ, một người nông dân gắn liền máu thịt với đồng đất quê hương, luôn đau đáu với nỗi đau của những người xung quanh.
“Anh đừng nản lòng,” An cất giọng dịu dàng nhưng đầy kiên định. “Đất nước mình vừa qua mấy chục năm chiến tranh, đổ nát điêu tàn, khó khăn là điều không tránh khỏi. Nhưng cơ chế nào rồi cũng phải thay đổi khi nó không còn phù hợp với thực tế nữa. Người dân mình cần cù, đất đai mình màu mỡ, chỉ cần tìm ra đúng cách làm, để bà con được hưởng đúng mồ hôi công sức mình bỏ ra, thì nhất định làng mình sẽ không phải chịu cảnh đói rét thế này mãi đâu.”
Bình quay sang nhìn cô. Gió sông Đáy thổi mạnh làm những lọn tóc mai đen nhánh của An bay lòa xòa trước trán. Đôi mắt cô sáng lấp lánh một niềm tin kỳ lạ – thứ niềm tin khoa học, sáng suốt mà anh chưa từng thấy ở bất kỳ người con gái nào trong làng.
“Cô An... nhiều lúc tôi cứ ngỡ cô không phải là người ở cái làng An Hòa này.” Bình khẽ mỉm cười, ánh mắt chan chứa sự tò mò lẫn khâm phục. “Cách cô nghĩ, cách cô nhìn nhận mọi việc... nó rộng lớn và dứt khoát lắm. Cứ như thể cô đã nhìn thấy trước được ngày mai vậy.”
An giật mình thót tim, nhưng cô nhanh chóng lấy lại vẻ điềm tĩnh, khẽ cười trừ:
“Tôi thì thấy trước được gì đâu anh. Chẳng qua hồi ở thanh niên xung phong, tôi được tiếp xúc với nhiều kỹ sư, nhiều bác lớn tuổi từng đi học ở nước ngoài về, nghe các bác ấy nói chuyện nhiều nên mở mang ra đôi chút thôi. Như chuyện kho giống vừa rồi đấy, cũng là nhờ học lỏm được mẹo thông gió đối lưu của các cụ vùng cao. Cứ chịu khó quan sát, học hỏi từ đất đai cây cỏ thì kiểu gì cũng tìm ra lối thoát.”
“Đúng vậy!” Bình gật đầu đồng tình, vẻ mặt rạng rỡ hẳn lên. “Hôm nay ở huyện, mấy đồng chí bên Phòng Nông nghiệp khen ngợi Đội 3 mình nhiều lắm. Họ bảo sắp tới sẽ cử người về theo dõi sát sao vụ mạ chiêm này. Tôi đang tính, sau khi gieo mạ xong, tôi sẽ xin ý kiến Ban quản trị cho Đội 3 tận dụng mấy dải đất bãi bồi ven sông Đáy để trồng thêm ngô và hoa màu tăng gia. Chứ cứ bám chặt vào mấy sào ruộng trũng cấy lúa mất mùa thì giáp hạt năm tới lại đứt bữa.”
“Ý kiến đó của anh rất hay!” Mắt An sáng rực lên, bản năng của một kỹ sư công nghệ sinh học nông nghiệp lại trỗi dậy mạnh mẽ. “Đất bãi bồi sông Đáy là đất phù sa màu mỡ nhưng nhiều cát pha, thoát nước nhanh. Nếu biết cách giữ ẩm và bổ sung phân xanh ủ mục, trồng ngô lai ngắn ngày kết hợp xen canh đậu đỗ cải tạo đất, năng suất sẽ cao gấp đôi trên đồng chiêm trũng! Về kỹ thuật ủ đất và chọn giống, tôi có thể giúp anh!”
Nhìn sự hào hứng, say mê bừng sáng trên gương mặt thanh tú của An, lòng Bình bỗng trào dâng một cảm giác ấm áp khó tả. Giữa những tháng ngày tăm tối, đói kém và bế tắc của cơ chế quản lý ngột ngạt, sự xuất hiện của cô giống như một luồng gió mát lành, thổi bùng lên trong anh ngọn lửa hy vọng và quyết tâm hành động.
“Được! Vậy tôi với cô cùng làm!” Bình dõng dạc nói, nụ cười rạng rỡ nở trên môi. “Có cô đồng hành, việc khó mấy tôi cũng dám gánh vác!”
Hai người cứ thế vừa đi vừa trò chuyện say sưa về những luống ngô, về cách ủ phân xanh, về những dự định cải tạo mảnh ruộng phần trăm để cứu đói cho xóm Trại. Khoảng cách giữa họ dường như đã được kéo lại thật gần, tự nhiên và mộc mạc như chính đất trời đồng bãi nơi đây.
Gần về đến đầu làng, con đường đê ngoặt sang hướng bắc.
Một cơn gió bấc cực mạnh đột ngột quét qua rặng tre đầu xóm, cuốn theo bụi đất và những chiếc lá khô bay ràn rạt. Cái lạnh buốt giá thấu xương thấu thịt của đợt không khí lạnh tăng cường phả thẳng vào mặt, khiến An bất giác rùng mình, hai hàm răng va vào nhau cầm cập, bờ vai gầy khẽ co ro lại dưới lớp áo mỏng.
Bình lập tức nhận ra điều đó.
Không một chút do dự, anh khẽ dịch chuyển chiếc xe đạp sang phía bên phải, nhích người lên phía trước nửa bước, dùng chính tấm thân cao lớn, vạm vỡ của mình đứng chắn trọn luồng gió độc đang thốc tới từ hướng bắc.
Chiếc lưng áo chấn thủ màu xanh rêu bạc phếch, rộng lớn và vững chãi như một bức tường thành, che chở hoàn toàn cho bóng hình nhỏ bé của An ở phía sau.
Mùi vải dù quen thuộc, mùi mồ hôi nồng ấm của người lính và hơi thở mạnh mẽ của anh phảng phất trong làn gió bấc buốt giá. Cơn gió lạnh thấu xương vẫn rít gào bên ngoài, nhưng hơi ấm tỏa ra từ tấm lưng vững chãi của Bình phía trước bỗng khiến tim An khẽ hẫng đi một nhịp, rồi đập rộn ràng lên những thanh âm xao xuyến lạ kỳ.
, , vn, live
,
vn
Bình luận (0)
Đang tải bình luận...