Xuyên không thập niên 70

Chương50: Khúc ca sum vầy

Cỡ chữ
Gió bấc cuối đông thổi lùa qua những rặng chuối tiêu trĩu quả ven triền đê, cuốn theo mùi phù sa nồng ngái quen thuộc của dòng sông Đáy quyện cùng hơi lạnh căm căm đặc trưng của đất trời Bắc Bộ. Chiều muộn ngày ba mươi tháng Chạp năm 1979, vạt nắng quái đỏ ối cuối cùng rớt xuống sau rặng núi Ba Vì mờ xa, dát lên mặt nước phẳng lặng một dải lụa màu tím biếc mênh mang. Tiếng loa nén bằng tôn thiếc trên ngọn đa cổ thụ đã tắt tự lúc nào sau bản tin đặc biệt về tinh thần cởi trói kinh tế của Hội nghị Trung ương 6, nhưng thanh âm trầm hùng, sang sảng ấy dường như vẫn còn đọng lại, rung ngân giữa không gian bao la của buổi hoàng hôn tịnh vắng. Bình khẽ dịch người về phía đầu ngọn gió, kéo vạt áo trấn thủ lót bông dày dặn che kín cho đứa con trai nhỏ đang say giấc nồng trong bọc chăn len màu xanh. Bàn tay to bè, ram ráp những vết chai sần của anh vẫn không quên đan chặt lấy những ngón tay thon nhỏ của vợ. An tựa nhẹ đầu vào bờ vai vững chãi của chồng, mắt dõi nhìn xuống toàn cảnh làng An Hòa trải dài tít tắp dưới chân đê. Mới ba năm thôi mà ngỡ như đã đi qua trọn một kiếp người. Trong tâm trí An, ký ức của những ngày đầu đông năm 1976 bỗng chốc ùa về rõ mồn một như một cuốn phim quay chậm. Ngày ấy, khi tâm thức của một nữ kỹ sư nông học thế kỷ hai mươi mốt bất ngờ tỉnh dậy trong thân xác gầy gò, xanh xao của cô thanh niên xung phong phục viên, thứ đón nhận cô là căn buồng ẩm mốc tối tăm, là tiếng gió rít qua những khe vách đất nứt nẻ và cái đói cồn cào thấu ruột gan của vụ giáp hạt. Những bữa cơm độn sắn củ mục đắng ngắt, mớ rau dại luộc chấm nước tương nhạt thếch, những cuốn sổ mua bán rách mép cùng ánh mắt âu lo của người mẹ già bên ngọn đèn dầu tù mù… Tất cả từng đè nặng lên mảnh đất này như một gánh nợ vô hình của thời cuộc. Thế nhưng giờ đây, bức tranh nghèo nàn xác xơ thuở nào đã hoàn toàn thay da đổi thịt. Từ trên mặt đê nhìn xuống, xóm Chùa, xóm Trại không còn là một vệt rơm rạ xám xịt ủ rũ dưới làn mưa phùn. Xen giữa những tán nhãn, rặng xoan khẳng khiu đón đông là hàng chục mái ngói sông Cầu đỏ au vừa mới dựng, phẳng phiu và kiên cố. Dưới chân đê, bãi Soi – dải đất từng bị coi là bãi tha ma sỏi đá hoang vu ngập mặn – nay đã được cày lật lớp đất ải màu mỡ, những luống ngô đông xanh mướt mát đan cài cùng hàng đậu tương trĩu quả đang vươn mình trong sương lạnh. Khói lam chiều từ những gian bếp ấm no bắt đầu bốc lên nghi ngút, mang theo hương thơm ngọt ngào, đậm đà của nồi bánh chưng đỏ lửa và mùi cơm gạo mới dẻo quánh, lan tỏa khắp ngõ xóm bình yên. “Nghĩ gì mà trầm ngâm thế mình?” Giọng nói trầm ấm của Bình kéo An trở về với thực tại. Anh cúi xuống nhìn cô, khóe mắt cương trực ánh lên nét cười dịu dàng vô bờ. Dù chân trái vẫn còn hơi khập khiễng bởi mảnh đạn năm xưa nơi chiến trường Tây Nam, nhưng dáng đứng của người cựu binh ấy lúc nào cũng sừng sững như một cây lim già bám rễ sâu vào lòng đất mẹ. An khẽ chớp mắt, nén lại niềm xúc động đang dâng lên nghẹn ngào nơi cuống họng. Cô đưa tay vuốt nhẹ gò má phúng phính, hồng hào của bé Bình An, khẽ thì thầm: “Em đang nhớ lại ngày đầu tiên ra bãi Soi làm cỏ cùng anh. Khi ấy, bùn ngập đến bắp chân, đói hoa cả mắt, ai cũng bảo vợ chồng mình ôm rơm rặm bụng, chuốc lấy cái vạ xé rào… Không ngờ mới đó mà chúng ta đã đi được tới tận ngày hôm nay.” “Là nhờ có em.” Bình nhìn sâu vào đôi mắt sáng ngời của vợ, giọng anh trầm xuống, chất chứa tất cả sự nâng niu và kính trọng trút ra từ đáy lòng. “Nếu không có tri thức của em, không có sự kiên trì nhẫn nại của em chỉ bảo từng cách ủ phân men vi sinh, cách khử chua đất bãi, rồi thức trắng bao đêm canh lò sấy thóc giống… thì anh dẫu có ba đầu sáu tay, có liều mạng đến mấy cũng chẳng thể đưa bà con Đội 3 qua nổi những mùa giáp hạt thắt ruột thắt gan ấy.” An mỉm cười lắc đầu. Cô hiểu, tri thức khoa học dẫu có tân tiến đến đâu, nếu không được gieo vào mảnh đất của lòng dũng cảm, của sự chở che và đức hy sinh vô điều kiện như tấm lưng trần chắn đá rơi của Bình, như sự đùm bọc trọn nghĩa vẹn tình của bà con xã viên An Hòa, thì những hạt mầm ấy cũng sẽ sớm chết yểu giữa phong ba bão táp của định kiến và cơ chế nghiệt ngã. Cô không còn là một kẻ lữ hành cô độc lạc loài từ tương lai nữa; từng thớ thịt, từng giọt mồ hôi, từng hơi thở của cô đã thực sự hòa quyện làm một với mảnh đất và con người nơi đây. Gió sông Đáy bỗng thổi mạnh hơn một cơn, mang theo cái rét ngọt ngào của đêm trừ tịch. Bình cẩn thận chuyển bọc con sang tay trái, tay phải anh khẽ thò vào túi trong của chiếc áo trấn thủ quân nhu. Những ngón tay thô ráp lần giở một vật nhỏ được bọc cẩn thận trong mảnh vải dù hoa rừng. “An này.” An ngước lên, thấy trên lòng bàn tay mở rộng của chồng là một chiếc kẹp tóc bằng vỏ đạn pháo sáng loáng. Vỏ kim khí màu đồng thau lấp lánh dưới ráng chiều muộn, mép kẹp được mài giũa tỉ mỉ, trơn nhẵn đến từng đường gân nhỏ, phần đuôi còn được anh khéo léo khắc chìm hai chữ cái “B - A” lồng vào nhau bên cạnh một nhành lúa trĩu hạt. Đó chính là kỷ vật anh đã trao cho cô vào đêm trăng rằm tháng Tám năm 1977, ngay sau chiến dịch hộ đê bão lốc bến đò sông Đáy. Suốt hai năm qua, chiếc kẹp tóc ấy luôn cài trên mái tóc thề của cô, cùng cô trải qua những ngày dầm mưa dãi nắng nơi đồng bãi, những phen thót tim trước các đợt kiểm tra xét hỏi gắt gao. Mấy hôm trước, thấy then kẹp hơi lỏng và nước đồng bị xỉn màu vì hơi mồ hôi, anh đã lặng lẽ mượn giũa sắt của tổ cơ khí, đêm đêm cặm cụi ngồi bên bệ cửa đánh bóng lại từng li từng tí. “Hôm nay gió to, tóc em bay nhiều quá.” Bình mỉm cười, giọng run run đầy xúc động. Anh cẩn thận nâng một lọn tóc mây đen dày của vợ, nhẹ nhàng cài chiếc kẹp bằng vỏ đạn pháo vào nếp bím lệch thân quen. Đầu ngón tay ấm nóng của anh khẽ lướt qua vành tai mềm mại của An, khiến cả người cô dâng lên một luồng nhiệt ấm áp, xua tan đi cái lạnh căm căm của chiều đông. “Ba năm trước ở chính khúc đê này, anh đã hứa với lòng mình rằng dẫu có phải đổi cả mạng sống, cũng phải giữ cho em một mái nhà yên ấm, không để em phải chịu thêm một ngày đói rét nào nữa.” Ánh mắt Bình sáng lên một ngọn lửa chân thành, nồng đượm. “Hôm nay, trước mặt con trai chúng mình, trước dòng sông Đáy và vong linh tiên tổ, anh muốn nói lại lời ấy… Cả đời này, Trần Bình tôi chỉ có một người vợ duy nhất là Nguyễn Hoài An. Gian khổ nào anh cũng gánh, bão giông nào anh cũng che, trọn đời trọn kiếp không bao giờ phụ rẫy.” Nước mắt An trào ra, nóng hổi lăn dài trên đôi gò má rám nắng. Cô không nói được thành lời, chỉ biết siết chặt lấy cánh tay rắn rỏi của chồng, nép sát vào v*m ng*c rộng lớn phập phồng sau lớp vải bông thô ráp. Giữa đất trời bao la chuẩn bị chuyển mình sang một thập kỷ mới, lời thề mộc mạc của người lính thương binh ấy nặng tựa thái sơn, vững chãi hơn bất kỳ vàng ngọc son phấn nào trên cõi đời này. Thằng bé Bình An trong bọc chăn dường như cảm nhận được hơi ấm của bố mẹ, nó cựa mình khe khẽ, chu chiếc miệng nhỏ xíu ngáp một cái thật dài rồi lại rúc sâu vào ngực bố, thiu thiu ngủ tiếp. “Kìa mình, u và các bác đang đợi ở nhà đấy. Ta về thôi kẻo sương xuống lạnh buốt con.” An quệt vội giọt nước mắt hạnh phúc, khẽ giục. “Ừ, về thôi em. Bữa cơm tất niên gạo mới đang chờ cả nhà rồi.” Hai vợ chồng sóng bước bên nhau thong thả bước xuống triền đê. Con đường đất trơn trượt lầy lội ngày nào giờ đã được nhân dân Đội 3 rải một lớp gạch vỡ và xỉ than nung cứng cáp, bước chân dẫm lên vang lên những tiếng lạo xạo giòn giã. * Cổng ngõ nhà Bình và An tối nay sáng rực bởi ánh đèn dầu hỏa và bếp lửa hồng bập bùng. Cánh cổng tre đơn sơ thuở trước nay đã được thay bằng đôi cánh gỗ xoan đào bào nhẵn, bên trên treo một cành đào phai chú thím Đượm vừa xin trên mạn rừng Kim Bôi về, những nụ hoa hồng phớt đang chúm chím ngậm sương, chực chờ khoe sắc đón giao thừa. Ngôi nhà ba gian lợp mái ngói sông Cầu đỏ tươi hiện ra sừng sững giữa mảnh vườn tươi tốt. Nhờ thiết kế đối lưu không khí và lớp móng lót xỉ than chống ẩm do An tính toán, bên trong nhà khô ráo, ấm sực, thoang thoảng mùi vôi mới quyện với hương thơm tinh khiết, ngan ngát của nồi nước lá mùi già đang sôi sùng sục trên chiếc kiềng sắt góc sân. “A, vợ chồng thằng Bình đã về đấy à! Mau vào nhà đi con, ngoài đê gió máy thế mà đem thằng bé đi lâu, khéo nó nhiễm lạnh thì khổ!” Bà cụ Mẫn từ trong gian bếp tất tả bước ra, trên tay vẫn cầm chiếc muôi gỗ thơm nồng mùi măng hầm. Dưới ánh sáng vàng óng của ngọn đèn măng-xông treo giữa xà nhà, nụ cười rạng rỡ làm bừng sáng khuôn mặt nhăn nheo của người mẹ già. Hàm răng đen nhánh hạt huyền lấp lánh sau bờ môi nhai trầu đỏ thắm, lưng u dường như đỡ còng hơn, từng bước đi thoăn thoắt tràn đầy sinh khí của người vừa trút bỏ được gánh nặng sinh nhai đè trĩu cả một đời. Bình vội bước tới, đỡ lấy mẹ: “U đừng lo, con bọc kín cháu trong chăn len Hải Phòng rồi, người nó ấm ran như hòn than ấy.” “Đưa đây, đưa thằng cháu đích tôn của bà đây nào!” Cụ Mẫn đón lấy bọc chăn nhỏ, ôm ấp vào lòng như ôm cả kho báu trời cho, miệng không ngớt nựng nịu: “Bình An của bà ngoan nhé, hôm nay cả làng ăn mừng cơm mới, mừng nhà mới cho cháu đấy!” Bước vào gian giữa, An thấy gian nhà ba gian hôm nay chật ních người và đầy ắp tiếng cười nói rộn rã. Trên bộ tràng kỷ bằng tre ngà đánh bóng bằng lá chuối khô, cụ giáo Khiêm – cha của An – đang ngồi đĩnh đạc trong bộ áo the khăn xếp màu đen chỉnh tề. Cụ nhấp một ngụm trà mạn mộc móc câu thơm ngát, tay vuốt chòm râu bạc rung rinh theo từng nụ cười khoan thai. Đối diện với cụ là Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát. Vị chủ nhiệm từng một thời khét tiếng giáo điều, nguyên tắc nay cởi bỏ chiếc áo đại cán bốn túi cứng nhắc, chỉ mặc chiếc áo len cổ lọ màu ghi giản dị, chiếc bút máy Kim Tinh cài ngay ngắn bên ngực áo. Gương mặt ông giãn ra, đôi mắt hằn sâu những vết chân chim của bao đêm mất ngủ lo toan giờ đây ánh lên niềm thanh thản, tự hào khôn xiết. “Báo cáo cụ giáo, báo cáo anh Khoát, vợ chồng cháu mới về ạ.” Bình kính cẩn cất tiếng chào. “Vào đây, vào đây cả hai đứa!” Ông Khoát vỗ đùi đánh đét một cái, hào sảng cất giọng: “Vừa hay bác đang khoe với cụ giáo bức công điện của Tỉnh ủy gửi về chiều nay. Mô hình khoán bãi Soi của Đội 3 xã ta không những được biểu dương toàn diện, mà đồng chí Bí thư Tỉnh ủy còn lấy đúng số liệu của cô An để làm báo cáo điển hình gửi thẳng lên Thường vụ Trung ương Đảng đấy! Cả đời làm cách mạng, làm chủ nhiệm của tôi, chưa bao giờ thấy cây lúa, cọng ngô xứ này nở mày nở mặt đến thế!” Cụ giáo Khiêm mỉm cười đôn hậu, ánh mắt nhìn con gái ngập tràn niềm tự hào: “Nhân hòa thì địa lợi, địa lợi ắt sinh vật thịnh. Cái gốc của mùa màng không nằm ở chỉ tiêu trên giấy, mà nằm ở giọt mồ hôi và lòng dân đồng thuận. Anh Khoát nhận ra điều đó, lại có vợ chồng thằng Bình con An hết lòng vì tập thể, ấy là phúc ấm của cả làng ta.” Ở góc nhà bên kia, một tràng cười giòn giã như ngô rang bỗng nổ tung. “Ối dào ôi, các bác cứ văn vẻ câu chữ mãi! Bữa nay là tất niên, là phải ăn cho đẫy nang, uống cho đẫy chén để tống tiễn cái đói cái khổ đi chứ!” Chị Đượm từ dưới bếp bê lên một chiếc mâm đồng sáng loáng, vừa đi vừa liến thoắng. Thân hình đẫy đà, phốp pháp của chị lắc lư theo từng nhịp bước, trên khuôn mặt tròn xoe phúc hậu mồ hôi lấm tấm nhưng nụ cười thì rạng rỡ như hoa nở ban mai. Đi ngay sau chị là anh Cán. Người thương binh kiên cường của mặt trận Pò Hèn nay mặc bộ quân phục Tô Châu mới toanh không mang quân hàm. Dù cẳng chân trái bị cưa cụt đến đầu gối, phải chống chiếc nạng gỗ nghiến kêu cọt kẹt theo từng bước chân, bàn tay phải cũng mất đi hai ngón vì đạn pháo, nhưng lưng anh vẫn thẳng tắp, đôi mắt sáng quắc ngời ngời khí chất bộ đội cụ Hồ. Anh dùng cánh tay lành lặn xách một âu đất nung bốc khói nghi ngút, miệng tươi cười phụ họa với vợ:“Nhà tôi nói chỉ có phải! Hôm nay tôi nhất quyết xin phép cụ giáo và anh Khoát cho tôi nâng chén rượu trắng với chú Bình. Không có giống lúa mới của cô An, không có cái máy tuốt lúa liên hoàn đạp chân của chú Bình cải tiến cho thằng cụt một chân này ngồi làm việc, thì đời tôi coi như phế bỏ rồi!” “Bác Cán cứ nói gở!” An bước vội lại, đỡ lấy âu đất từ tay anh, xúc động nói: “Bác vì non sông mà để lại một phần xương máu nơi biên cương, chúng em ở hậu phương làm được chút việc mọn có thấm tháp gì. Bác đứng vững thế này, chị Đượm và cả làng mới có chỗ dựa chứ!” “Đúng đấy! Nào, các con các cháu xúm cả lại đây, cơm chín tới rồi!” Tiếng cụ Mẫn giục giã từ gian trong. Mọi người cùng ùa vào phụ giúp, chỉ một lát sau, ba chiếc mâm đồng lớn đã được bày biện tươm tất trên nền chiếu hoa dệt mới trải khắp gian giữa. Đó là một mâm cỗ tất niên mà suốt mấy chục năm qua, người dân làng An Hòa chưa từng dám mơ tới giữa thời buổi tem phiếu ngặt nghèo. Ở giữa mâm là đĩa thịt gà thiến luộc vàng ươm, da giòn bóng bẩy, rắc những sợi lá chanh thái chỉ mỏng như tơ nhện. Bên cạnh là đĩa giò thủ xào mộc nhĩ nấm hương thơm lừng hạt tiêu sọ – món quà từ chú lợn xuất chuồng vượt khoán của Đội 3; bát canh măng vầu khô nấu với lòng mề béo ngậy; đĩa dưa hành nén trong vại sành trắng phau, cắn vào giòn tan chua ngọt; và đĩa nem rán vỏ mỏng tang vàng rộm. Nhưng trung tâm của sự chú ý, linh hồn của toàn bộ bữa tiệc, lại chính là âu cơm gạo mới đặt ngay ngắn chính giữa mâm. Khi cụ Mẫn run run mở chiếc vung đất nung ra, một luồng hơi nóng nghi ngút bốc lên, mang theo hương thơm ngào ngạt, tinh khiết làm ngây ngất lòng người. Từng hạt cơm trắng muốt, bóng bẩy, tròn mẩy đều tăm tắp như những hạt ngọc trai, dẻo quánh quyện vào nhau. Không có một mẩu sắn khô thâm sì. Không có một sợi khoai lang xơ xác. Cũng tuyệt nhiên không còn bóng dáng của những hạt bo bo xám ngoét, dai nhách từng ám ảnh bao gia đình trong những năm tháng gian truân. Cụ giáo Khiêm nhìn âu cơm trắng ngần, đôi bàn tay gầy gò khẽ run lên. Cụ đứng dậy, chỉnh lại vạt áo the, hướng về phía bàn thờ tổ tiên nơi khói hương trầm đang lượn lờ thanh tịnh, rồi quay lại nhìn con cháu, giọng run run đầy xúc động: “Mấy mươi năm tao loạn, từ nạn đói năm Ất Dậu đến những năm tháng bom đạn gầm rú, chưa bao giờ mảnh đất An Hòa này được thấy một bữa cơm tinh tươm, trắng trong hạt ngọc như chiều ba mươi Tết hôm nay. Hạt gạo này là mồ hôi, là nước mắt, là trí tuệ và cả máu xương của bao người đổ xuống đất bãi. Xin tạ ơn trời đất, tạ ơn tiên tổ đã che chở cho xóm làng qua cơn bĩ cực!” Cụ Mẫn ngồi bên cạnh, lặng lẽ chấm vạt áo nâu lau đi giọt nước mắt đang lăn dài trên gò má nhăn nheo. Nhưng đó là những giọt nước mắt của sự mãn nguyện tột cùng. Đời bà đi làm dâu từ năm mười sáu tuổi, nếm đủ đắng cay tủi nhục, nay cuối đời được ngồi trong ngôi nhà ngói ba gian kiên cố, bế cháu nội kháu khỉnh, nhìn mâm cơm đầy đặn không còn vương bóng ma của cái đói giáp hạt, ước nguyện lớn nhất của một đời người nông dân coi như đã trọn vẹn. “Nào, nâng chén đi các đồng chí, các anh em!” Chủ nhiệm Khoát đứng dậy, rót đầy những chén rượu nếp cái hoa vàng thơm lừng. “Mừng cho Đội 3, mừng cho xã An Hòa ta từ nay dứt hẳn cảnh ăn cơm độn! Mừng cho đất nước ta sang năm mới sẽ mở toang cánh cửa khoán hộ, để người nông dân thực sự làm chủ ruộng đồng!” “Uống! Mừng năm mới!” Tiếng bát đĩa va vào nhau lách cách, tiếng cụng chén giòn tan hòa cùng những lời chúc tụng râm ran làm rực sáng cả gian nhà ngói mới. Anh Cán hào sảng uống cạn chén rượu, mặt đỏ bừng, quay sang gắp cho chị Đượm miếng thịt gà đẫy đà. Chị Đượm liếc chồng một cái sắc lẹm nhưng nụ cười thì tít cả mắt, miệng nhai dưa hành giòn sần sật. Cụ giáo Khiêm từ tốn nhắp chén rượu cay nồng, gật gù đàm đạo việc đồng áng với ông Khoát. Còn Bình, anh lặng lẽ gắp một miếng thịt lườn trắng nõn, chấm vào bát muối tiêu chanh rồi đặt nhẹ vào bát của An. “Ăn nhiều vào em, mấy tháng nay chăm con vất vả, người gầy đi nhiều quá.” An ngước nhìn chồng, bắt gặp ánh mắt chan chứa yêu thương và sự săn sóc kín đáo của anh. Cô cắn một miếng cơm gạo mới, vị ngọt đậm đà, bùi béo tự nhiên lan tỏa nơi đầu lưỡi, thấm sâu vào từng giác quan. Đó không chỉ là vị ngọt của tinh bột, mà là vị ngọt của sự hồi sinh, vị ngọt của những tháng ngày đồng cam cộng khổ, nếm mật nằm gai để giành giật từng mầm sống từ tay nghịch cảnh. Bên ngoài hiên, màn đêm ba mươi Tết đã buông xuống đặc quánh, nhưng trong căn nhà ngói đỏ, ngọn đèn măng-xông vẫn tỏa sáng rực rỡ, xua tan mọi giá lạnh của mùa đông. Tiếng cười nói của những người nông dân chân lấm tay bùn vang vọng mãi, hòa thành một khúc ca sum vầy ấm áp, mộc mạc mà bi tráng lạ thường. * Gần nửa đêm, tiệc tất niên dần tàn. Cụ giáo Khiêm được ông Khoát và chú Đượm cẩn thận soi đèn đưa về nhà. Vợ chồng anh Cán cũng bịn rịn dắt díu nhau ra về để chuẩn bị mâm cúng giao thừa bên gian nhà mới được Đội 3 hỗ trợ dựng lại. U Mẫn sau một ngày bận rộn đã thấm mệt, bà ôm bé Bình An ngủ say sưa trên chiếc giường gỗ gụ lót đệm rơm thơm phức ở gian buồng trong. Cả gian nhà tĩnh lặng trở lại, chỉ còn tiếng tích tắc đều đặn của chiếc đồng hồ để bàn bằng vỏ kim loại hiệu Poljot – chiến lợi phẩm Bình mang về từ chiến trường – đặt trang trọng trên nóc tủ chè. Bình khoác chiếc áo dạ chiến lợi phẩm rộng thùng thình lên vai An, rồi nhẹ nhàng dắt tay cô bước ra ngoài hiên ngắm trời đêm. Trời đêm trừ tịch tối như mực, một màu đen thăm thẳm và huyền bí của khoảnh khắc chuyển giao trời đất. Gió bấc đã ngừng thổi, sương đêm giăng mờ ảo trên những ngọn cây xoan đầu ngõ. Đất trời dường như đang nín thở, lắng nghe từng mạch ngầm chuyển động của vạn vật dưới lòng đất mẹ sâu thẳm. Bình vòng tay ôm lấy eo An từ phía sau, kéo cô nép sát vào lồng ngực ấm áp của mình. Cằm anh tựa nhẹ l*n đ*nh đầu cô, nơi chiếc kẹp tóc bằng vỏ đạn pháo vẫn đang lặng lẽ tỏa ra một ánh kim mờ dịu. “Mệt không em?” Anh thì thầm bên tai cô. “Không anh, em thấy lòng nhẹ nhõm và thanh thản lắm.” An ngửa đầu nhìn lên vòm trời đêm, hai bàn tay đan chặt lấy bàn tay thô ráp của chồng đang ôm trước bụng mình. “Anh có nghe thấy gì không?” “Nghe thấy gì cơ?” “Tiếng mầm cây đang nứt vỏ dưới bãi Soi đấy.” An khẽ cười, giọng nói trong trẻo như tiếng suối reo. “Những hạt ngô vụ đông, những mầm đậu tương em ủ men vi sinh… chúng đang cựa mình trong lòng đất ải. Chỉ cần qua đêm nay, đón một cơn mưa xuân đầu mùa, cả bãi Soi sẽ lại phủ kín một màu xanh ngút ngàn.” Bình siết chặt vòng tay hơn một chút, anh cúi xuống hôn nhẹ lên mái tóc thoang thoảng hương bồ kết và lá bưởi của vợ: “Ừ, mùa xuân đang về thật rồi. Một mùa xuân trọn vẹn, không còn bom đạn, không còn chia ly, và cũng không còn cái đói rình rập nữa.” Đúng lúc ấy, chiếc kim dài của chiếc đồng hồ Poljot trong nhà khẽ nhảy một nấc, chạm đúng vào số mười hai. Bỗng nhiên, từ phía đầu làng An Hòa, một tiếng “đùng… đoàng!” xé toang không gian tĩnh mịch của đêm trừ tịch. Ngay sau đó, như một hiệu lệnh đồng loạt được phát ra, khắp các ngõ xóm ven đê sông Đáy rộ lên những tràng pháo tép nổ giòn giã: “Tách… đoành đoành… lẹt đẹt… đùng!” Mùi thuốc pháo nồng đượm, ngai ngái mà thân thương lập tức theo làn gió nhẹ lan tỏa khắp không gian. Dưới ánh sáng chớp giật liên hồi của những chùm pháo đỏ, những xác pháo màu hồng tươi rơi rụng lả tả như những cánh hoa đào trước cổng ngõ từng ngôi nhà ngói mới. Tiếng trẻ con reo hò vang dậy khắp bờ tre, tiếng chuông chùa cổ kính bên kia sông Đáy ngân nga từng hồi thong thả, trầm hùng, đón chào thời khắc thiêng liêng chuyển giao của đất trời. Năm 1979 đầy biến động, máu lửa và gian truân đã chính thức khép lại. Năm 1980 đã tới gõ cửa từng mái nhà. Đứng bên hiên nhà vững chãi, dưới ánh sáng lấp lánh của pháo hoa và ngọn lửa ấm no nơi xóm nghèo, An ngước nhìn lên người đàn ông của đời mình. Khuôn mặt vuông vức, sương gió của Bình ngời sáng dưới ánh pháo giao thừa, đôi mắt anh kiên định và rạng rỡ niềm tin, phản chiếu trọn vẹn hình bóng của cô và đứa con thơ. An biết, chặng đường phía trước của đất nước, của quê hương An Hòa vẫn còn đó muôn vàn thử thách trong những bước chuyển mình thoát thai khỏi cơ chế cũ. Nhưng cô không còn chút âu lo, sợ hãi nào nữa. Giữa đất trời bao la, bên cạnh người chồng thủy chung như vách đá và những người dân lam lũ mà trọn nghĩa vẹn tình, cô hiểu rằng mầm sống của tình yêu, của tri thức chân chính và sức lao động quật cường đã bén rễ thật sâu vào lòng đất mẹ. Cánh cửa của một kỷ nguyên mới đang rộng mở đón chào non sông, và khúc ca sum vầy của họ sẽ còn ngân vang mãi giữa mùa xuân bất tận của cuộc đời. , , vn, live , vn

Bạn cũng là tác giả hoặc dịch giả?

Đăng sáng tác hoặc bản dịch của riêng bạn lên Say Truyện — miễn phí, chỉ mất vài phút.

Đăng truyện ngay

Bình luận (0)

Đang tải bình luận...