Xuyên không thập niên 70
Chương49: Hạt lúa hồi sinh
Cỡ chữ
Trong gian buồng hộ sinh nồng đượm mùi thuốc sát trùng và hơi ấm của chậu than củi ủ kín dưới gầm, Hoài An nằm bất động trên mép dát tre của chiếc giường bệnh đơn sơ. Tấm chiếu cói trải bên dưới đã sờn mép, ráp ráo cọ vào lưng áo bảo hộ ướt đẫm mồ hôi của cô. Trải qua một đêm vượt cạn kinh hoàng giữa cơn áp thấp nhiệt đới làm rung chuyển cả mái ngói trạm xá, từng thớ thịt trên người An như rã rời, xương chậu ê ẩm buốt nhức từng cơn. Nhưng nỗi đau đớn thể xác ấy dường như chẳng thấm tháp vào đâu so với niềm hạnh phúc ngọt ngào đang dâng trào trong lồng ngực: con trai cô đã bình an chào đời.
Bình vừa ôm bọc tã đỏ au sưởi ấm cho con bước ra phía cửa hiên để đón ngọn gió mát lành sau mưa bão. An nằm nghiêng đầu sang một bên, ánh mắt dõi theo bóng lưng cao lớn, vạm vỡ của chồng đang in đậm trên nền trời rạng đông bên ngoài khung cửa sổ chấn song gỗ tróc sơn.
Bỗng nhiên, từ ngoài con ngõ đất dẫn vào trạm xá, một âm thanh lạ lùng dội tới.
“Cộp... cộp...”
Tiếng gỗ khô đập xuống nền gạch ẩm ướt vang lên từng nhịp ngập ngừng, nặng nhọc nhưng vô cùng kiên định. Âm thanh ấy như từng nhát búa nện thẳng vào bầu không khí tĩnh mịch của buổi sớm mai.
An khẽ nhíu mày, căng tai lắng nghe. Qua khung cửa sổ mở hé, cô thấy bóng lưng Bình bỗng khựng lại ở bậu cửa, đôi vai anh căng cứng như một pho tượng đá.
“Anh... anh Cán?”
Giọng Bình thốt lên, run rẩy và khàn đặc như vỡ vụn giữa khoảng không gian vừa dứt hạt mưa.
Ngay sau tiếng gọi thảng thốt ấy, từ góc gian nhà trong, tiếng bát sứ rơi xuống nền gạch vỡ toang đánh “xoảng”. An giật mình nhìn sang. Chị Đượm – người vừa xuống bếp trạm xá bưng bát cháo hoa nghi ngút khói lên cho cô tẩm bổ – đang đứng chôn chân nơi ngưỡng cửa thông gió. Hai cánh tay thô ráp của chị buông thõng giữa trời, đôi mắt tròn xoe mở lớn đến mức dại đi, nhìn trân trân qua bờ vai của Bình hướng ra ngoài cổng.
“Mình ơi... Có phải mình thật không... hay là hồn ma mình hiện về...”
Tiếng thì thào của chị Đượm mỏng manh như làn khói, rồi đột ngột vỡ òa thành một tiếng thét nghẹn tắc nơi cổ họng. Chị lảo đảo lao qua bậc cửa, bước chân quýnh quáng trượt ngã dúi dụi xuống khoảng sân gạch rêu phong vừa ráo nước mưa. Chị không buồn gượng dậy mà cứ thế bò nhoài tới, hai bàn tay lấm lem bùn đất bấu chặt lấy một thân người đang đứng tựa vào chiếc nạng gỗ thô sơ bên hiên.
Từ giường bệnh, An rướn người nhìn qua chấn song. Đập vào mắt cô là một bóng hình gầy gộc trong chiếc áo trấn thủ bạc phếch, loang lổ những vệt ố màu thuốc sát trùng vàng khè. Chiếc ba lô cóc quân nhu lép kẹp trễ xuống một bên vai áo đã sờn rách. Và điều làm thắt nghẽn lồng ngực An chính là ống quần bên trái của người lính ấy: nó được gấp gọn gàng, thắt nút lơ lửng ngang gối, để lộ một khoảng trống tê tái lòng người.
Chị Đượm gục đầu vào phần đầu gối cụt của chồng, đôi vai mập mạp rung lên bần bật trong từng cơn nấc xé ruột xé gan:
“Trời phật ơi! Còn sống... Mình còn sống mà về với bu con em rồi! Cụt một chân cũng được, tàn phế cũng được, miễn là mình còn thở... Mình ơi là mình ơi!”
“Tôi về rồi... Đồn Pò Hèn anh em nằm lại nhiều lắm... Nhưng tôi nhớ bu con mình, tôi bò qua bãi mìn, bò về trạm phẫu... Tôi giữ được cái mạng này về cày bừa nuôi bu con mình rồi...”
Tiếng anh Cán nghẹn ngào, bàn tay chai sần run rẩy v**t v* mái tóc khét mùi rơm rạ của người vợ tào khang. Một bên nạng gỗ buông rơi đánh cạch xuống sân, cả thân hình người thương binh đổ sụp xuống, ôm ghì lấy chị Đượm trong bùn đất và nước mắt.
Nằm trong gian buồng ấm, An cắn chặt môi để ngăn tiếng nấc chực trào ra. Nước mắt cô ứa ra, lăn dài qua khóe mắt thấm ướt vạt chiếu cói. Chiến tranh biên giới phía Bắc khốc liệt dường nào, sự hy sinh của những người lính nơi phên dậu Tổ quốc lớn lao dường nào, tất cả đều hiển hiện tr*n tr** ngay trước mắt cô qua đôi nạng gỗ và ống quần thắt nút kia. Nhưng trên hết, người lính ấy đã sống sót trở về. Quê hương và nghĩa tình mộc mạc của người phụ nữ nông thôn Bắc Bộ đã đón anh về trong vòng tay bao dung trọn vẹn.
“Vào đây... Vào trong buồng với mẹ con cô An đã, anh Cán, chị Đượm ơi!”
Tiếng Bình cất lên đầm ấm phá vỡ cơn xúc động nghẹn ngào ngoài sân. Anh trao bọc tã con trai cho bà cụ Mẫn đang đứng cạnh cột hiên gạt nước mắt, rồi một tay xốc nách anh Cán, một tay đỡ chị Đượm đứng dậy.
An vịn tay vào mép dát tre của giường bệnh, nén cơn đau âm ỉ ở vết rạch dạ con, gượng chống người tựa lưng vào vách tường vôi tróc lở để đón khách.
Bình dìu anh Cán bước qua bậc cửa. Khi người thương binh khập khiễng bước vào phòng, luồng gió sớm mang theo mùi khói súng dường như vẫn còn phảng phất đâu đây, hòa quyện với mùi sữa non thơm ngát của gian buồng sản phụ. Nhìn thấy An trên giường bệnh, gương mặt nhợt nhạt nhưng ánh mắt sáng ngời vẻ kiên cường, rồi nhìn sang chiếc nôi tre lót rơm nếp bên cạnh, anh Cán run rẩy buông tay nạng, quệt vội giọt nước mắt trên gò má hốc hác chằng chịt vết sẹo.
“Cô An... Chúc mừng cô chú... Thằng bé trộm vía khôi ngô quá, vầng trán rộng hệt như bố nó...” Bàn tay cụt mất hai ngón của anh Cán ngập ngừng giữa không trung, dường như sợ lớp da chai sần sương gió làm xước làn da đỏ au của đứa trẻ.
An mỉm cười, chủ động đưa bàn tay ấm áp của mình đón lấy bàn tay người lính biên cương, nhẹ nhàng đặt nó lên mép tã lót của con trai:
“Anh Cán về là phúc lớn của cả làng, của chị Đượm, anh ạ. Chân anh bị thương, nhưng bàn tay anh còn nguyên vẹn, khối óc anh còn sáng. Về đến An Hòa rồi, bãi Soi vụ này được mùa lớn lắm, lúa gạo không thiếu, việc hợp tác xã không thiếu. Vợ chồng em và cả Đội 3 sẽ cùng anh chị gánh vác, tuyệt đối không để anh phải chịu thiệt thòi một ngày nào nữa.”
Chị Đượm đứng tựa vào vai chồng, nước mắt giàn giụa nhưng nụ cười rạng rỡ đã bừng nở trên khuôn mặt tròn phúc hậu: “Cô An ơi... Đời chị ơn cô chú không biết chừng nào mà kể. Thằng bé Bình An này sinh ra đúng ngày lành tháng tốt, mang lại cái phúc lớn cứu sống cả nhà chị...”
Đứa bé trong nôi khẽ cựa mình, đôi bàn tay nhỏ xíu huơ huơ vào khoảng không ấm áp rồi lại chép miệng ngủ tiếp. Ngoài hiên trạm xá, ánh nắng vàng hanh của buổi sớm mùa thu bắt đầu rọi qua những tán bàng đỏ ối, rải lên nền đất phù sa một sắc vàng ấm áp. Nỗi nhọc nhằn của đêm bão, nỗi đau của chiến tranh dường như đang lùi dần về phía sau, nhường chỗ cho những mầm sống hồi sinh kiên cường.
*
Thời gian thấm thoắt thoi đưa như dòng nước sông Đáy cuộn chảy phù sa bồi đắp đôi bờ.
Chưa đầy một tháng sau ngày An vượt cạn, tiết trời miền Bắc chuyển dần sang đầu đông. Những cơn gió heo may se lạnh thổi rười rượi trên các ngọn tre ngà đầu làng An Hòa, mang theo cái rét ngọt đầu mùa đặc trưng của châu thổ Bắc Bộ. Nhờ sự chăm sóc chu đáo của u Mẫn với những nồi nước lá bưởi lá sả xông ấm, những bát cháo gạo nếp hầm móng giò giã nhuyễn hạt sen khô, sắc mặt An nhanh chóng hồng hào trở lại. Thằng bé Bình An nết ăn nết ngủ rất ngoan, hai má phúng phính trắng trẻo, cái miệng cười toe toét mỗi khi nghe tiếng chuông lắc bằng vỏ đạn đồng của bố đung đưa trên nôi.
Thế nhưng, điều làm rúng động cả vùng quê An Hòa cuối năm 1979 không chỉ là tiếng khóc chào đời của đứa trẻ, mà là một mùa gặt chưa từng có trong lịch sử nửa thế kỷ qua.
Đồng bãi Soi và toàn bộ cánh đồng chiêm trũng của xã An Hòa bước vào vụ thu hoạch rộ. Mô hình khoán gọn theo nhóm hộ gia đình mà Bình và An dũng cảm “xé rào” thử nghiệm – sau khi được Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Đặng Cự đỡ đầu và bảo vệ trước Huyện ủy – nay đã được Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát mạnh dạn cho phép nhân rộng ra toàn bộ ba đội sản xuất.
Từ tờ mờ sáng, khi sương mù còn bảng lảng như dải lụa trắng giăng ngang triền đê, tiếng kẻng đồng từ ngọn cây đa đầu làng đã vang lên từng hồi giòn giã. Không còn cảnh “đánh trống ghi tên, xuất quân tập thể” uể oải, lờ đờ như những năm trước; không còn những người đứng tựa cán cuốc hút thuốc lào vặt, nhìn đồng hồ chờ hết giờ để chấm công điểm A, công điểm B. Khắp các ngả đường ra đồng, tiếng cười nói râm ran, tiếng gọi nhau í ới làm bừng tỉnh cả một vùng quê lam lũ.
Sáng hôm ấy, An quấn chiếc khăn len xanh ấm áp ngang cổ, tay dắt chiếc xe đạp Thống Nhất cũ, cùng Bình chậm rãi bước lên mặt đê nhìn xuống cánh đồng bãi Soi.
Dưới lăng kính của một kỹ sư nông nghiệp, An không giấu nổi niềm xúc động khi thu trọn vào tầm mắt một biển vàng rực rỡ trải dài ngút ngát đến tận mép nước sông Đáy. Những bông lúa giống mới được tuyển chọn và ủ mầm bằng quy trình vi sinh đối lưu nhiệt kỹ lưỡng trĩu nặng hạt, uốn cong như những chiếc lưỡi liềm vàng ruộm. Cả một thảm lúa dày đặc, đều tăm tắp, thân cây cứng cáp đứng vững trước những đợt gió đông đầu mùa, tuyệt nhiên không hề có dấu vết của rầy nâu hay bệnh bạc lá.
Dưới ruộng, hàng trăm xã viên thoăn thoắt vung liềm. Tiếng “xoàn xoạt... xoàn xoạt...” của những lưỡi thép sắc ngọt cắt qua gốc rạ khô giòn hòa cùng tiếng hát ví von, tiếng trêu đùa của đám trai gái rộn rã cả góc trời.
“Kìa, cô An! Chú Bình!”
Chị Đượm từ dưới ruộng ngẩng lên, chiếc nón mê phe phẩy trên tay, vạt áo nâu ướt đẫm mồ hôi nhưng gương mặt rạng ngời như bắt được vàng. Chị chỉ tay vào những gánh lúa cao ngất ngưởng đang được dồn lên bờ đê:
“Lúa năm nay mẩy hạt từ chân gié đến ngọn bông cô An ơi! Tôi làm ruộng ba mươi năm có lẻ, chưa từng thấy vụ nào hạt thóc bấm vào nghe giòn đanh như vụ này! Ruộng nhà tôi khoán hai sào bãi Soi, cắt mới được một nửa mà đã xếp chật bốn bồ to rồi! Vụ này tha hồ mà ăn cơm trắng, không phải sắn củ độn bo bo nữa rồi!”
Cách đó không xa, bên bờ mương dẫn nước, anh Cán đang ngồi trên một chiếc ghế gỗ ba chân tự đẽo. Mất một chân trái, anh vẫn dùng chân phải khỏe khoắn đạp đều từng nhịp vào chiếc bàn đạp của máy tuốt lúa cải tiến mà An đã vẽ kiểu cho xưởng rèn của xã. Tiếng guồng quay ro ro cuốn những bông lúa vào trong, hạt thóc rụng rào rào như mưa mùa hạ xuống tấm bạt trải phẳng phiu.
“Đúng là hạt vàng hạt ngọc cô An ạ!” Anh Cán cười ha hả, hàm răng sún khói thuốc lào ánh lên niềm vui sướng tột cùng: “Sức tàn phế của tôi mà mỗi ngày tuốt được cả tạ thóc thế này, công điểm vẫn đủ, lúa vượt khoán lại được mang về nhà. Vợ chồng tôi đội ơn cô chú suốt đời!”
Bình đứng bên cạnh An, bàn tay to lớn, ấm áp của anh khẽ siết nhẹ lấy bờ vai thon thả của vợ. Anh nhìn cánh đồng ngút ngàn, rồi lại nhìn vào đôi mắt trong veo của An, ánh mắt chan chứa sự khâm phục vô bờ:
“An này... Em có nghe thấy không? Đó là tiếng reo vui của đất, của lúa, và của lòng người đấy. Nếu không có những đêm em thức trắng bên ngọn đèn dầu nghiên cứu men vi sinh ủ phân xanh từ rơm rạ, nếu không có cái ngày em kiên quyết giữ lại từng hạt giống trong kho... thì An Hòa hôm nay làm sao có được cảnh tượng này.”
An mỉm cười, tựa đầu vào cánh tay vững chãi của chồng, khẽ lắc đầu: “Không phải chỉ nhờ một mình em đâu anh. Khoa học mà không có mồ hôi của anh, không có bàn tay chai sần của bà con Đội 3 và sự dũng cảm dám đứng mũi chịu sào của chú Khoát, thì tất cả cũng chỉ nằm lại trên những trang giấy úa vàng mà thôi. Chính sức lao động thật lòng của mọi người mới làm nên sự hồi sinh của hạt thóc.”
Giữa lúc không khí thu hoạch đang ở đỉnh điểm náo nức, từ phía đầu đường liên xã bỗng vang lên tiếng động cơ xe ô tô ròn rã. Hai chiếc xe – một chiếc com-măng-ca mui bạt và một chiếc U-oát màu xanh rêu phủ đầy bụi đường – rẽ qua rặng tre ngà, đi thẳng xuống lối dẫn ra đồng bãi Soi.
Bà con xã viên đồng loạt dừng tay liềm, ngơ ngác nhìn nhau. Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát trong chiếc áo bốn túi màu cỏ úa, ngực cài chiếc bút máy Kim Tinh quen thuộc, đang lúi húi kiểm tra bờ mương vội vã chạy lại.Cửa chiếc com-măng-ca bật mở. Đồng chí Đặng Cự, Trưởng phòng Nông nghiệp huyện bước xuống trước, nhanh nhẹn vòng sang mở cửa sau cho một cán bộ trung niên dáng người quắc thước, mặc bộ âu phục kaki phẳng phiu, mái tóc hoa râm nhưng đôi mắt sáng ngời và cương nghị.
“Báo cáo các đồng chí!” Đặng Cự cất giọng sang sảng, nụ cười tươi rói trên môi: “Hôm nay, đồng chí Phó Bí thư Tỉnh ủy kiêm Trưởng Ty Nông nghiệp tỉnh Hà Sơn Bình về tận ruộng bãi Soi để thẩm định thực tế mô hình khoán hộ của xã ta đấy!”
Cả cánh đồng thoáng chốc xôn xao. Chủ nhiệm Khoát giật mình bối rối, hai bàn tay lấm lem bùn đất lúng túng chùi vội vào vạt áo: “Dạ... báo cáo đồng chí lãnh đạo tỉnh... Đoàn về đột xuất quá, Đảng ủy và Ban Quản trị chúng tôi chưa kịp chuẩn bị đón tiếp chu đáo...”
Đồng chí Trưởng Ty Nông nghiệp cười xòa, bước nhanh tới xua tay: “Kìa đồng chí Khoát! Chúng tôi về đây là để lội ruộng xem lúa, xem cách làm ăn của dân, chứ có phải về hội trường nghe báo cáo đâu mà đón với rước! Nào, các đồng chí dẫn tôi xuống ruộng ngay đi!”
Không đợi cán bộ xã kịp trải chiếu hay chuẩn bị dép rọ, vị cán bộ tỉnh đã thoăn thoắt xắn cao ống quần kaki lên quá gối, đi chân trần bước thẳng xuống bờ ruộng bãi Soi phù sa màu mỡ. Đặng Cự và ông Khoát vội vã bước theo sau.
Vị Trưởng Ty Nông nghiệp cúi người xuống sát gốc rạ vừa gặt, tỉ mỉ quan sát tầng đất mặt xốp mịn tơi xốp, rồi đưa tay nhổ một gốc lúa còn sót lại. Ông bóp nhẹ chùm rễ dài trắng muốt, không hề bị thối rễ hay nghẹt đồng. Đoạn, ông bước tới một gánh lúa trĩu hạt của chị Đượm, bốc một vốc thóc lên lòng bàn tay, dùng ngón tay cái bóc thử lớp vỏ trấu vàng ươm. Hạt gạo bên trong tròn mẩy, bóng mượt và trong vắt như hạt ngọc, không hề vướng một vệt xám của nấm mốc.
“Thóc tốt lắm! Bông dài, tỷ lệ hạt chắc đạt trên chín mươi phần trăm, độ ẩm ngoài đồng rất lý tưởng!” Vị Trưởng Ty quay sang nhìn Đặng Cự, giọng đầy phấn chấn: “Báo cáo sơ bộ của Phòng Nông nghiệp huyện nói vụ này An Hòa đạt năng suất bình quân trên sáu tấn một héc-ta ở vùng bãi bồi, ban đầu Thường vụ Tỉnh ủy còn nghi ngờ các đồng chí 'thổi phồng' thành tích thi đua để chạy theo phong trào. Nhưng tận mắt lội xuống bãi Soi này, nhìn tầng đất được bồi bổ phân hữu cơ vi sinh tơi xốp thế này, nhìn từng gié lúa uốn câu thế này, tôi khẳng định: đây là thành quả khoa học và mồ hôi thật sự!”
Đặng Cự bước lên một bước, tươi cười hướng tay về phía vợ chồng Bình và An đang đứng chờ bên vệ cỏ:
“Báo cáo anh, đây chính là hai nhân tố nòng cốt khởi xướng và kiên trì bám trụ mô hình điểm An Hòa đấy ạ! Đồng chí Trần Bình, Xã đội trưởng kiêm Đội trưởng Đội 3, thương binh chiến trường Tây Nam. Còn đây là cô Nguyễn Hoài An, con gái cụ giáo Khiêm, người đã trực tiếp nghiên cứu quy trình ủ vi sinh rơm rạ, cải tạo đất phù sa bãi Soi và thiết kế hệ thống sấy đảo nhiệt đối lưu cứu kho thóc giống của xã!”
Vị Trưởng Ty Nông nghiệp bước lại gần, ánh mắt đôn hậu dừng lại trên gương mặt An. Ông quan sát người phụ nữ trẻ mảnh khảnh với vạt áo nâu giản dị, chiếc khăn len xanh ấm áp quấn quanh cổ, toát lên vẻ điềm tĩnh và thông tuệ hiếm thấy ở một cô gái thôn quê:
“Đồng chí Hoài An... Tôi đã đọc rất kỹ tập nhật ký nông học và bản thuyết minh quy trình khoán gọn bãi Soi do đồng chí Đặng Cự chuyển lên tỉnh. Từng công thức ủ men, từng bảng tính công điểm và phân chia sản phẩm vượt khoán đều cực kỳ khoa học, chặt chẽ. Cô xuất thân từ gia đình nhà giáo, làm thế nào mà nắm vững được những nguyên lý vi sinh và tổ chức lao động thực tiễn sâu sắc đến như vậy giữa lúc cơ chế quản lý của chúng ta còn nặng tính bao cấp?”
An khẽ nghiêng mình chào vị cán bộ cấp tỉnh. Trước hàng trăm ánh mắt của bà con xã viên đang đổ dồn về phía mình, giọng nói trong trẻo, bình tĩnh và đĩnh đạc của cô vang lên rõ ràng giữa gió đồng:
“Thưa đồng chí lãnh đạo Ty Nông nghiệp, tri thức nông học vốn dĩ nằm ngay trong lòng đất và kinh nghiệm ngàn đời của người nông dân. Những thứ chúng ta thường bỏ đi như rơm mục, tro trấu, bèo hoa dâu hay bùn ao... thực chất đều là nguồn dinh dưỡng vô giá nếu biết cách kích hoạt vi sinh vật phân giải tự nhiên. Nhưng quan trọng hơn cả khoa học kỹ thuật, chính là lòng tin của con người. Người nông dân An Hòa nghìn đời nay cần cù, đất phù sa sông Đáy nghìn đời nay màu mỡ. Cái thiếu duy nhất của chúng ta bấy lâu nay là một cơ chế gắn mồ hôi của người lao động với kết quả cuối cùng trên từng tấc đất. Khi bà con biết chắc rằng hạt thóc mình làm ra sau khi hoàn thành nghĩa vụ cho nhà nước sẽ thuộc về bữa cơm của gia đình mình, thì không cần tiếng kẻng thúc giục, ai cũng sẽ tự giác ra đồng chăm chút từng nhánh lúa. Khoán hộ không làm mất đi tính tập thể, mà trái lại, nó bồi đắp cho hợp tác xã vững mạnh từ chính sự ấm no thực sự của mỗi mái nhà.”
Từng lời nói rành rọt, thấu tình đạt lý của An như rót vào tâm can những người có mặt. Không gian bên triền đê bỗng chốc im phăng phắc, chỉ còn tiếng gió đông thổi qua những bông lúa chín vàng xào xạc như một bản hòa âm đồng tình.
Đồng chí Trưởng Ty Nông nghiệp gật đầu liên hồi, đôi mắt ánh lên niềm xúc động sâu sắc. Ông bước tới, vỗ mạnh vào bờ vai rắn rỏi của Bình, rồi nắm chặt lấy bàn tay thon nhỏ của An:
“Nói hay lắm! Rất đúng đắn và thực tế! 'Khoán hộ làm cho hợp tác xã vững mạnh từ chính sự ấm no của mỗi mái nhà'... Đó mới chính là chân lý của nền nông nghiệp cách mạng! Tôi xin thay mặt lãnh đạo Ty Nông nghiệp và Tỉnh ủy Hà Sơn Bình, chính thức biểu dương sáng kiến cải tiến kỹ thuật nông nghiệp và mô hình quản lý khoán gọn của xã An Hòa. Hiện nay, Trung ương đang chuẩn bị những bước ngoặt lớn để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất nông nghiệp. Những gì vợ chồng cô An, chú Bình và Hợp tác xã An Hòa làm được trên bãi Soi hôm nay sẽ là những cứ liệu thực tiễn vô cùng quý giá để tỉnh báo cáo lên cấp trên, mở đường cho những chính sách đổi mới sắp tới!”
Tiếng vỗ tay lập tức bùng nổ như sấm dậy khắp bãi bồi ven sông Đáy. Tiếng reo hò của bà con Đội 3 làm rúng động cả khúc sông, xua tan hoàn toàn cái lạnh buốt của ngọn gió đầu đông.
Đoàn cán bộ tỉnh cùng Ban Quản trị hợp tác xã và đông đảo bà con rồng rắn kéo nhau về sân đình An Hòa.
Sân đình cổ kính lát gạch Bát Tràng trưa nay biến thành một biển vàng rực rỡ. Những đống thóc mẩy vàng ươm được đổ cao như những ngọn núi nhỏ giữa sân. Mùi thơm ngọt ngào, ấm sực của lúa mới phơi dưới nắng hanh hòa quyện cùng mùi rơm rạ khô tạo nên một hương vị no ấm lan tỏa khắp từng ngõ xóm. Trẻ con trong làng ríu rít nhảy chân sáo quanh những bao tải lúa, các cụ già ngồi bên thềm đình têm trầu thuốc, nụ cười móm mém nở trên những khuôn mặt hằn sâu vết chân chim của những năm tháng gian truân.
Trước sự chứng kiến của đồng chí Trưởng Ty Nông nghiệp tỉnh và Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Đặng Cự, Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát bước lên bục tam cấp của đình làng. Gương mặt người chủ nhiệm già vốn ngày thường nghiêm nghị, giáo điều nay bỗng rạng rỡ lạ thường, hốc mắt ông đỏ hoe vì xúc động.
Ông Khoát giơ cao hai tấm giấy khen đỏ chói có đóng dấu đỏ của Ủy ban Hành chính xã và Ban Quản trị Hợp tác xã, cất giọng sang sảng qua chiếc loa sắt:
“Kính thưa các đồng chí lãnh đạo! Thưa toàn thể bà con xã viên An Hòa! Để ghi nhận những đóng góp đặc biệt xuất sắc làm nên vụ mùa lịch sử hôm nay, Ban Quản trị Hợp tác xã quyết định trao tặng giấy khen danh dự và phần thưởng đặc biệt cho vợ chồng đồng chí Trần Bình và đồng chí Nguyễn Hoài An!”
Tiếng vỗ tay rầm rộ vang lên. Bình nắm tay An bước lên bậc tam cấp. Đón nhận tấm giấy khen còn thơm mùi mực in cùng gói quà là chiếc phích nước Rạng Đông và xấp vải ú sợi bông từ tay Chủ nhiệm Khoát, An cảm nhận rõ bàn tay thô ráp của người đứng đầu hợp tác xã đang run lên từng chặp.
“Chú cảm ơn hai cháu...” Ông Khoát ghé sát tai hai vợ chồng, thì thào bằng giọng nghẹn ngào: “Nhờ có hai cháu dũng cảm và sáng suốt, cái thân già này mới không mắc tội làm đói bà con...”
Đoạn, ông quay người ra phía sân đình, hắng giọng thật to, đôi mắt ngấn lệ nhìn khắp lượt hàng trăm xã viên đang hồi hộp chờ đợi:
“Và tin vui lớn nhất trong ngày hôm nay! Tôi xin long trọng công bố: Vụ mùa năm 1979, toàn xã An Hòa chúng ta không những hoàn thành một trăm phần trăm nghĩa vụ lương thực nộp kho nhà nước trước thời hạn mười ngày, mà sản lượng thóc vượt khoán đạt mức kỷ lục chưa từng có trong lịch sử huyện Chương Mỹ! Kể từ vụ mùa này, Ban Quản trị tuyên bố: Xã An Hòa chính thức xóa bỏ hoàn toàn cảnh đong thóc thiếu cân! Xóa bỏ vĩnh viễn chế độ ăn cơm độn sắn củ mục và hạt bo bo cho toàn thể xã viên! Tất cả các gia đình đều được nhận trọn vẹn phần thóc lúa vượt khoán bằng những hạt gạo trắng tinh tươm!”
Lời tuyên bố vừa dứt, cả sân đình như nổ tung.
“Hoan hô Chủ nhiệm! Hoan hô cô An, chú Bình!”
Những người mẹ, người chị cả đời còng lưng cấy hái ôm chầm lấy nhau mà khóc nức nở vì sung sướng. Chị Đượm ôm chặt lấy cánh tay lành lặn của anh Cán, nước mắt ràn rụa trên đôi má ửng hồng. Cái đói giáp hạt triền miên, bóng ma u ám của những bữa cơm cõng sắn khô mốc meo đè nặng lên từng nóc nhà nghèo suốt những năm tháng dài đằng đẵng, giờ đây đã thực sự bị đẩy lùi bởi chính mồ hôi, lòng dũng cảm và trí tuệ chân chính của những người lao động.
*
Hoàng hôn buông xuống trên dòng sông Đáy vào một chiều muộn cuối tháng 12 năm 1979.
Mặt trời đỏ ối như chiếc mâm đồng khổng lồ từ từ lặn sau rặng núi Ba Vì mờ xa ở phía chân trời, nhuộm lên mặt nước một màu tím thẫm mênh mang. Gió bấc đầu đông thổi về hun hút qua những rặng chuối tiêu bên bờ đê, mang theo hơi lạnh căm căm của vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Bình mặc chiếc áo trấn thủ ấm áp, một tay bế con trai nhỏ Bình An đang được bọc kín mít trong tấm chăn len màu xanh, một tay nắm chặt lấy bàn tay thon nhỏ của An. Hai vợ chồng chầm chậm bước từng bước l*n đ*nh triền đê bến đò sông Đáy – nơi ba năm trước, họ lần đầu cùng nhau thức trắng đêm canh nước lũ, nơi anh đã trao cho cô chiếc kẹp tóc bằng vỏ đạn pháo và lời hẹn ước trăm năm.
Thằng bé Bình An mở to đôi mắt đen láy nhìn trời nhìn đất, thỉnh thoảng lại reo lên những tiếng “a... a...” bi bô ngây thơ trong lòng bố.
Đứng trên đỉnh đê lộng gió, An phóng tầm mắt nhìn về phía làng An Hòa thân thương.
Ngôi làng nghèo xác xơ ngày cô mới bỡ ngỡ đặt chân đến vào cuối năm 1976 nay đã hoàn toàn thay da đổi thịt. Những mái rạ dột nát, xám xịt ngày nào giờ đã dần được thay thế bởi hàng chục mái ngói sông Cầu đỏ tươi kiên cố, nổi bật giữa màu xanh của vườn cây ăn trái. Khói lam chiều từ những gian bếp ấm áp tỏa lên nghi ngút, mang theo hương thơm ngào ngạt của nồi cơm gạo mới vụ mùa chín tới. Dưới chân đê, bãi Soi vừa gặt xong trơ lại những hàng gốc rạ khô giòn đều tăm tắp, đang được cày lật đất để chuẩn bị ủ men đón vụ ngô đông và đậu tương mới.
“Lạnh không em?” Bình khẽ nghiêng người, kéo vạt áo trấn thủ che chắn hướng gió bấc cho hai mẹ con.
“Không anh, em thấy ấm lắm.” An mỉm cười, nép sát vào người chồng, cảm nhận rõ nhịp đập vững chãi nơi lồng ngực anh và hơi thở thơm mùi sữa non của đứa con đầu lòng.
Bỗng nhiên, từ ngọn đa cổ thụ đầu làng, chiếc loa nén phóng thanh bằng tôn thiếc của xã khẽ rít lên một hồi rè rè quen thuộc. Tiếng nhạc hiệu rộn rã của Đài Tiếng nói Việt Nam vang lên giữa không gian tĩnh mịch của buổi chiều tà, tiếp theo đó là giọng đọc trầm ấm, hào sảng của phát thanh viên:
“...Đây là Tiếng nói Việt Nam, phát thanh từ Hà Nội... Thưa đồng bào và các chiến sĩ cả nước! Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng vừa qua đã mở ra những định hướng mới mang tính đột phá trong quản lý kinh tế và sản xuất nông nghiệp. Luồng gió mới từ tinh thần 'cởi trói' sức sản xuất, tận dụng tối đa tiềm năng đất đai và khuyến khích quyền tự chủ của người lao động đang lan tỏa mạnh mẽ từ các cơ sở sản xuất nông thôn... Đất nước ta đang bước vào giai đoạn chuyển mình lịch sử, hướng tới một mùa xuân mới ấm no, tự chủ và giàu mạnh...”
Thanh âm của chiếc loa nén vang xa, vượt qua rặng tre ngà, bay bổng trên mặt sóng sông Đáy cuộn đỏ phù sa, dội vào vách đá ngàn năm của non sông.
Bình và An cùng dừng bước, lặng im lắng nghe từng lời của bài xã luận.
Bình cúi xuống nhìn con trai đang nhoẻn miệng cười trong giấc ngủ êm đềm, rồi ngẩng lên nhìn vợ, đôi mắt người cựu binh ngời sáng một niềm tin mãnh liệt:
“An ơi... Em nghe thấy không? Mùa xuân thực sự... đang về trên đất nước mình rồi.”
An siết chặt bàn tay thô ráp của chồng, mắt ngấn lệ nhìn về phía chân trời rạng rỡ ánh hoàng hôn. Cô biết, những nhọc nhằn, cay đắng của một thời kỳ gian khó đang dần lùi vào dĩ vãng. Một trang sử mới của đất nước, của quê hương An Hòa và của chính mái ấm nhỏ bé này đang mở ra, ngập tràn ánh sáng và niềm hy vọng bất diệt.
, , vn, live
,
vn
Bình luận (0)
Đang tải bình luận...