Xuyên không thập niên 70

Chương4: Nguy cơ mục nát kho giống

Cỡ chữ
Tiếng kêu thất thanh của anh Cần như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào bầu không khí ấm cúng hiếm hoi vừa mới nhen nhóm trong gian nhà tranh xóm Trại. Bát sắn thơm bùi trên tay cụ Khiêm khựng lại giữa chừng. Đôi tay già nua vốn đã run rẩy vì chứng ho hen kinh niên nay lại càng rung lên bần bật, chiếc đũa tre gõ lách cách vào mép bát sành sứt mẻ. Bà Khiêm đứng chết lặng bên bậu cửa bếp, mặt cắt không còn một giọt máu, chiếc muôi gỗ cầm trên tay rơi tõm xuống nồi cám lợn kêu một tiếng “bõm” khô khốc. “Thóc giống... ngô giống bốc khói ư?” Giọng cụ Khiêm run lên, nghẹn ứ nơi cổ họng. Cụ chống tay xuống phản, gắng gượng gượng đứng dậy nhưng hai đầu gối lỏng khỏng như muốn khụy xuống. “Trời đất ơi... Vụ chiêm này trông cả vào mấy chục cót giống ấy. Mất giống là mất mùa, mất mùa thì cả làng An Hòa này ôm nhau mà chết đói mất thôi!” Thóc giống và ngô hạt dự trữ của hợp tác xã không đơn thuần là tài sản tập thể ghi trên những trang sổ tay bọc bìa báo của ban quản lý. Trong những năm tháng sau chiến tranh, khi hạt gạo hạt bo bo đều phải cân đong từng lạng theo tem phiếu, khi đất đai trũng phèn bãi sông Đáy vừa oằn mình qua cơn lũ quét vụ hè thu, thì những hạt mầm ấy chính là mạng sống, là hy vọng sinh tồn duy nhất của hàng trăm nhân khẩu trong làng cho vụ mùa giáp hạt sắp tới. An vội vàng đặt bát cơm ăn dở lên chõng tre. Cô tiến nhanh tới đỡ lấy cánh tay gầy guộc của cha, giọng nói vẫn giữ được sự bình tĩnh đến lạ kỳ: “Thầy cứ ngồi yên đây, đừng xúc động quá mà lại lên cơn hen. Để con ra đình xem tình hình thế nào.” “Không được, tôi là thủ thư, giữ sổ sách kiểm kê của kho, xảy ra cơ sự này tôi không thể ngồi nhà!” Cụ Khiêm th* d*c, vội vàng với lấy chiếc áo bông trần đã sờn rách ở mép cổ, ho sù sụ từng cơn rồi quả quyết bước ra. Biết tính cha cứng cỏi, An không cản nữa. Cô với chiếc áo bảo hộ lao động màu cỏ úa khoác vội lên người, chân xỏ vội vào đôi dép lốp chằng dây thép rồi cùng anh Cần lao ra ngõ. Gió bấc cuối đông thổi hun hút qua những rặng tre ngà ken dày đặc ven đường làng. Thời tiết mấy ngày qua độc địa khôn lường. Sau đợt rét nàng Bân hanh khô là chuỗi ngày nồm ẩm kéo dài lê thê đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Hơi nước từ mặt sông Đáy bốc lên cuồn cuộn, biến bầu không khí thành một thứ sương mù nhờ nhợ, dính dấp và nhớp nháp. Đất đường làng nhão nhoét như cháo quấy, bám chặt lấy đế dép cao su trơn tuột. Mặt tường nhà nào cũng rịn ra những giọt nước đùng đục như đổ mồ hôi hột. An vừa rảo bước thoăn thoắt theo ánh đèn pin leo lét của anh Cần, vừa cau mày tính toán trong đầu. Với một người từng là kỹ sư công nghệ sinh học và chế biến nông sản, cô hiểu quá rõ bản chất của hiện tượng mà người dân quê vẫn gọi là “hấp hơi bốc khói”. Ngũ cốc thu hoạch từ vụ trước, nếu quá trình phơi sấy ban đầu không đạt độ ẩm tiêu chuẩn dưới mười ba phần trăm, gặp phải những đợt nồm ẩm nhiệt độ dao động từ hai mươi lăm đến hai mươi tám độ C, sẽ nhanh chóng kích hoạt quá trình hô hấp tế bào của hạt. Hạt thở ra nhiệt lượng và hơi nước, hơi nước không thoát được lại làm tăng độ ẩm của khối hạt, tạo thành một vòng lặp kín thúc đẩy các vi sinh vật hoại sinh, đặc biệt là nấm mốc phát triển bùng phát. Khi khối hạt tích tụ nhiệt độ vượt ngưỡng bốn mươi độ C, quá trình tự sinh nhiệt do vi sinh vật phân giải tinh bột sẽ biến lòng đống hạt thành một cái lò ủ men khổng lồ. Nếu không can thiệp kịp thời, phôi mầm sẽ bị “luộc chín” bởi chính nhiệt lượng nội sinh, biến toàn bộ hạt giống quý giá thành một đống mùn đen thối rữa chỉ trong vòng hai đến ba ngày. Càng gần đến khu vực đình làng An Hòa — nơi trưng dụng tiền tế và dãy tả vu làm kho chứa nông sản của Hợp tác xã — không khí càng trở nên hỗn loạn. Tiếng kẻng đồng treo trên cành đa cổ thụ bị ai đó gióng lên từng hồi dồn dập, đanh thép xé toang màn đêm ẩm ướt. Tiếng chân người chạy rầm rập, tiếng guốc mộc khua lẹp xẹp trên mặt ngõ lát gạch nghiêng, tiếng đàn bà gọi nhau í ới, tiếng trẻ con khóc thét vì bị đánh thức giữa đêm. Hàng chục ngọn đuốc bổi bện bằng rơm rạ khô tẩm dầu hỏa bốc cháy bập bùng, soi rọi những gương mặt hốc hác, nhợt nhạt vì lo âu đang lũ lượt đổ về sân đình. Trước cửa dãy nhà kho bằng gỗ lim lợp ngói mũi hài, một làn khói mờ nhờ nhợ cùng thứ mùi chua nồng, ngai ngái, hăng hắc bốc ra nồng nặc khiến bất kỳ ai bước tới gần cũng phải đưa tay lên bịt mũi. “Trời đất ơi! Mùi chua như hèm rượu thế này thì còn giống má gì nữa!” “Hỏng hết rồi! Cả cót thóc giống chiêm lẫn ngô đỏ vụ trước... phen này thì chết cả làng rồi!” Tiếng xì xào, than khóc của các xã viên Đội 1, Đội 2 rộ lên như ong vỡ tổ. Chị Đượm cũng vừa chạy tới nơi, hai bím tóc xộc xệch, vạt áo nâu ướt đẫm sương đêm. Nhìn thấy An, Đượm chen vội qua đám đông túm lấy tay bạn, giọng lạc đi: “An ơi! Nguy to rồi em ơi! Chiều nay tao với mấy chị em đội ba còn thấy kho kín mít, thế mà tối nay thằng Cần đi tuần thì thấy khói luồn qua kẽ ngói bay lên! Ông Khoát đang làm ầm ĩ đằng kia kìa!” An hướng ánh mắt về phía bậc thềm đá trước cửa kho. Dưới ánh sáng chập chờn của ba chiếc đèn bão treo trên xà hiên, Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát đang đứng chống nạnh, mặt đỏ gay gắt rồi lại chuyển sang xám ngoét như tro tàn. Chiếc áo bông bốn túi cài kín cúc, nơi ngực áo vẫn gài ngay ngắn chiếc bút máy Kim Tinh vỏ nhựa xanh, nhưng vẻ đạo mạo thường ngày đã hoàn toàn biến mất. Tay ông ta cầm chiếc loa sắt tây gào thét đến lạc cả giọng, nước bọt b*n r* tung tóe: “Trật tự! Tất cả trật tự cho tôi! Bà con không được kích động, không được tụ tập gây mất an ninh trật tự! Đây là sự cố thiên tai khách quan! Do thời tiết nồm ẩm bất thường của vùng đồng bằng ven sông Đáy! Ban quản trị chúng tôi đã làm đúng quy trình, thực hiện nghiêm túc nghị quyết phân phối và lưu kho của huyện ủy!” Một bác nông dân lớn tuổi trong Đội 1 bức xúc hét to: “Chủ nhiệm nói thế mà nghe được à? Thiên tai cái gì! Mấy hôm trước trời nồm, chúng tôi đã bảo mở cửa sổ thông gió cho thoáng khí, các ông cứ khăng khăng đòi niêm phong khóa chặt để giữ chỉ tiêu thi đua kho mẫu! Bây giờ bốc khói ngùn ngụt thế này, mấy chục tấn giống hỏng hết thì lấy gì mà gieo mạ vụ chiêm?” Bị chọc trúng chỗ nhược, ông Khoát trừng mắt, đập mạnh chiếc loa sắt vào cột đình kêu đánh “chát”: “Đồng chí đừng có mà ăn nói hàm hồ, chụp mũ cán bộ! Nguyên tắc bảo quản tài sản xã hội chủ nghĩa là phải bảo mật, chống thất thoát, chống chuột bọ phá hoại và kẻ gian phá hoại! Tôi làm theo đúng điều lệ chỉ đạo từ trên xuống! Trách nhiệm này là do ai? Là do tổ bảo vệ và Đội ba làm ăn tắc trách, khâu nhập kho không kiểm tra kỹ lưỡng!” Giữa lúc ông Khoát đang điên cuồng trút giận và tìm cách đổ lỗi, một bóng người cao lớn từ trong làn sương đêm sải bước dài tiến thẳng lên bậc thềm đá. Đó là Trần Bình. Anh chỉ mặc độc một chiếc áo sơ mi quân phục màu cỏ úa đã bạc trắng ở hai bờ vai, ống tay áo xắn cao để lộ đôi cánh tay rắn rỏi gân guốc. Dù một bên chân bước đi có phần khập khiễng vì di chứng mảnh đạn năm xưa, nhưng từng bước chân của anh nện xuống mặt đá xanh lại vững chãi như bàn thạch. Khuôn mặt góc cạnh sạm màu nắng gió của người lính chiến trường Tây Nam đanh lại, đôi mày rậm chau chặt, toát ra một uy lực khiến đám đông đang ồn ào bất giác dạt ra hai bên nhường lối. Bình không thèm liếc nhìn chiếc loa sắt trên tay ông Khoát, anh đi thẳng tới trước cánh cửa kho lim nặng trịch đang bị khóa chặt bằng hai ổ khóa gang to tướng cùng dải giấy niêm phong đỏ chót đóng dấu của Ban quản trị. “Anh Cần đâu! Đưa chìa khóa đây!” Tiếng Bình trầm, vang và dứt khoát như một mệnh lệnh thép nơi chiến hào. Anh Cần lúng túng nhìn Bình rồi lại liếc trộm ông Khoát, hai tay run lẩy bẩy: “Anh... anh Bình... Chú Khoát bảo...” “Tôi bảo đưa chìa khóa!” Bình gằn giọng, ánh mắt sắc lẹm xoáy thẳng vào người giữ kho. “Đồng chí Trần Bình! Đồng chí định làm cái gì đấy hả?” Ông Bùi Đắc Khoát nhảy dựng lên, bước vội tới chắn trước then cửa, chiếc bút máy cài túi áo suýt nữa thì rơi ra ngoài. “Đây là kho thóc giống dự trữ quốc gia của toàn xã! Đang có dấu hiệu hư hại nghiêm trọng, phải giữ nguyên hiện trường! Tôi đã cử người lấy xe đạp thồ hỏa tốc lên thị trấn báo cáo Phòng Nông nghiệp huyện. Khi nào có cán bộ kỹ thuật và đoàn kiểm tra liên ngành của huyện về lập biên bản, mở niêm phong thì mới được xử lý! Đồng chí tự tiện phá khóa, làm sai lệch hiện trường, tội ấy đồng chí có gánh nổi trước Huyện ủy không?” Nghe những lời giáo điều quan liêu đến nực cười ấy, lồng ngực Bình phập phồng dữ dội. Anh tiến lên một bước, áp sát Chủ nhiệm Khoát. Chiều cao vượt trội cùng khí thế của người từng vào sinh ra tử khiến ông chủ nhiệm bất giác lùi lại nửa bước, miệng lắp bắp. “Báo cáo đồng chí Chủ nhiệm!” Bình nói từng từ một, âm lượng không gắt gỏng nhưng sắc lạnh như dao cạo. “Từ đây lên huyện mất hơn mười lăm cây số đường đất lầy lội sương mù. Cán bộ huyện bận họp hành, sớm nhất cũng phải chiều mai hoặc ngày kia mới xuống tới nơi. Đến lúc các đồng chí ấy mang được cái biên bản về đây thì cả trăm cót thóc giống này đã thành một đống cám thối, thành tro rơm bốc cháy rồi! Lúc ấy biên bản của đồng chí có đem ra ngâm nước cho xã viên ăn no được không? Có đem gieo xuống đồng Đầm Lội cho mọc thành bông lúa được không?” “Đồng chí... đồng chí vô tổ chức, vô kỷ luật...” Mặt ông Khoát chuyển từ đỏ sang tím ngắt, ngón tay run run chỉ vào mặt Bình. “Tôi là Đội trưởng Đội sản xuất số ba, người trực tiếp nhận khoán vụ lúa chiêm này!” Bình dứt khoát ngắt lời, giọng anh vang rền khắp sân đình, át cả tiếng gió bấc thổi qua tán đa cổ thụ. “Nếu hạt giống trong kho này hỏng do tôi tự tiện mở cửa cứu vãn, tôi xin chịu kỷ luật cách chức, chịu ra tòa án nhân dân huyện! Còn bây giờ, cứu giống là cứu mạng dân làng! Dân quân Đội ba đâu, lên đây phá khóa cho tôi!” Lời nói của Bình như một mồi lửa châm vào lòng căm phẫn và tuyệt vọng của những người nông dân chân lấm tay bùn. Hàng chục thanh niên trai tráng trong Đội 3 lập tức hò reo hưởng ứng: “Phá khóa đi! Cứu lấy giống lúa bà con ơi!” “Nghe anh Bình! Mở cửa ra nhanh lên!” Không đợi anh Cần run rẩy tra chìa vào ổ, Bình đã bước tới, giật lấy chiếc xà bén bằng sắt đặc từ tay một anh dân quân bên cạnh. Bằng một động tác dứt khoát, anh chèn đầu sắt vào khe then cài, gồng đôi vai vạm vỡ giật mạnh một tiếng “rắc”. Dải giấy niêm phong rách toạc làm đôi, chiếc then gỗ lim bật tung ra, để lộ khe cửa tối om đang cuồn cuộn phả ra từng đợt khí nóng nực dị thường. Bình cùng hai thanh niên lực lưỡng đẩy phăng hai cánh cửa gỗ lim sang hai bên. “Ầm!” Ngay khoảnh khắc cánh cửa bật mở, một luồng khí nóng ẩm khổng lồ kèm theo mùi chua nồng nặc, ngột ngạt tựa như mùi men rượu hỏng pha lẫn mùi rơm rạ mốc thốc thẳng ra ngoài. Đám đông đứng gần bậc thềm ho sặc sụa, nhiều người phải lùi lại mấy bước, ôm mặt nôn thốc nôn tháo vì thứ không khí ngột ngạt đặc quánh. Từ bên trong gian kho tối tăm, dưới ánh sáng vàng vọt của những ngọn đuốc, từng làn khói trắng nhờ nhờ bốc lên nghi ngút từ các bồ ngô và cót thóc giống cao quá đầu người. Hơi nước ngưng tụ trên những thanh xà gồ mái ngói nhỏ xuống tí tách như một cơn mưa phùn ẩm ướt.“Trời cao đất dày ơi... Nó bốc hỏa thật rồi!” Tiếng kêu khóc thảm thiết của mấy bà mẹ già vang lên xé lòng. Cụ Khiêm đứng tựa vào gốc cột đình, hai mắt mờ đục nhìn vào làn khói trắng mà nước mắt giàn giụa. Người thầy giáo già hiểu rõ hơn ai hết, đối với vùng quê chiêm trũng này, mất giống đồng nghĩa với những bữa cháo loãng cầm hơi, đồng nghĩa với cảnh con trẻ phù thũng vì thiếu đói, người già không qua khỏi mùa đông giá rét. Ông Khoát đứng chết trân ở bậc thềm, nhìn cảnh tượng trong kho mà hai chân run lẩy bẩy, chiếc loa sắt buông thõng bên hông: “Xong rồi... Hỏng hết cả rồi... Thế này thì báo cáo thi đua của huyện... tiêu tan hết rồi...” Trong khi mọi người đang hoang mang tột độ hoặc chìm trong tuyệt vọng, Nguyễn Hoài An lại không hề lùi bước. Cô lách qua đám đông đang nhốn nháo, bước thẳng qua ngưỡng cửa kho bằng đá xanh nhẵn thín. “An! Đừng vào trong đó, ngạt thở đấy con!” Bà Khiêm từ phía sau hốt hoảng kêu lên. An không dừng lại. Đôi mắt sáng thông minh của cô quét nhanh một lượt toàn bộ không gian bên trong gian nhà kho cổ. Kho lương thực này vốn là gian tả vu của ngôi đình cổ, tường xây bằng gạch bát dày dặn, nền lát gạch chỉ nhưng lại quá ẩm thấp do nằm sát mép ao đình. Dãy cót thóc giống bằng nứa đan và những bồ ngô hạt được xếp sát rạt vào nhau thành từng khối lớn để tiết kiệm diện tích. Đây chính là sai lầm chí mạng trong bảo quản nông sản truyền thống: việc chất đống quá dày khiến không khí hoàn toàn không thể đối lưu, nhiệt lượng sinh ra từ quá trình hô hấp của hạt bị giữ lại ở lõi đống ủ, biến khối nông sản thành một buồng ủ nhiệt khép kín. An bước nhanh tới bồ ngô hạt lớn nhất ở gian giữa — nơi khói trắng đang bốc lên dày đặc nhất. Trần Bình đã ở đó từ lúc nào. Anh nhảy phắt lên bục gỗ kê đáy bồ, không ngần ngại thọc cả cánh tay trần sâu vào giữa đống ngô vàng sẫm. Vừa chạm tới tầng hạt cách bề mặt chừng ba mươi phân, mặt Bình biến sắc. Anh giật mạnh tay ra, lòng bàn tay đỏ ửng vì nóng. “Nóng lắm!” Bình quay lại, nghiến răng nói với mấy người dân quân. “Phía dưới nóng như hòn than đang ủ tro! Tinh bột bốc mùi chua lòm rồi! Mau, mang bồ cào với xẻng vào đây, xúc tản nó ra sân phơi!” “Không được xúc ra sân!” Một tiếng quát trong trẻo nhưng đanh thép, mang theo uy quyền chuyên môn dứt khoát vang lên cắt ngang mệnh lệnh của Bình. Tất cả mọi người sững sờ quay lại. Bình cũng giật mình trố mắt nhìn An. Dưới ánh sáng bập bùng của ngọn đuốc trên tay một người dân quân, cô thôn nữ mảnh khảnh trong bộ quần áo bảo hộ sờn vai đang đứng sừng sững giữa gian kho ngập tràn khói ẩm. Gương mặt cô lấm lem bụi trấu nhưng đôi mắt lại sáng rực lên một vẻ kiên định phi thường. Chủ nhiệm Khoát từ ngoài cửa lẹp bẹp chạy vào, tức tối quát: “Con ranh con này, mày biết cái gì mà xen vào việc của ban quản trị? Đội trưởng Bình, anh bảo người của anh xúc hết ra sân đình mau lên!” “Tôi nói là tuyệt đối không được xúc ra ngoài!” An nhìn thẳng vào mắt ông Khoát, không hề nao núng, giọng nói dõng dạc từng câu từng chữ. “Ngoài sân đình sương muối đang xuống dày, độ ẩm không khí bên ngoài lúc này phải trên chín mươi phần trăm! Hạt ngô, hạt thóc trong này đang bị sốc nhiệt ở mức bốn mươi lăm đến năm mươi độ C. Nếu bây giờ xúc tản ra sân gặp không khí lạnh ẩm bên ngoài đột ngột, hơi nước sẽ ngưng tụ lập tức trên bề mặt vỏ hạt, phôi mầm sẽ bị nứt toác ra và thối rữa nhanh gấp mười lần! Chỉ cần trời mưa phùn một trận đêm nay, ngày mai toàn bộ số giống này sẽ mọc mầm dại rồi thối đen thành bùn!” Lời giải thích gãy gọn, sắc bén và chứa đựng một logic khoa học thực tiễn đến mức khiến cả gian đình bỗng chốc im phăng phắc. Bình sững sờ. Anh từng ở chiến trường, từng thấy nhiều cán bộ quân nhu xử lý kho tàng, nhưng chưa từng thấy một cô gái làng quê nào lại có thể phân tích mạch lạc, thấu đáo và chuẩn xác về sự thay đổi của thời tiết và hạt mầm đến như vậy. Bình đưa mắt nhìn An, ánh nhìn dò xét ban đầu nhanh chóng chuyển thành sự tôn trọng sâu sắc: “Cô An... vậy theo cô thì phải làm thế nào?” An không trả lời ngay. Cô bước lại gần bồ ngô lớn, cúi người xuống. Bàn tay nhỏ nhắn, đầy những vết phồng rộp rỉ máu sau buổi lao động vét mương ban chiều khẽ vốc một nắm ngô hạt từ tầng giữa lên. Nhiệt độ phả vào lòng bàn tay cô nóng rực, hạt ngô trơn nhẫy và bốc lên mùi chua nồng của axit hữu cơ do quá trình lên men yếm khí. An đưa nắm hạt lại gần ngọn đèn bão, nheo mắt quan sát thật tỉ mỉ từng chi tiết nhỏ nhất. Bằng trực giác và tri thức chuyên sâu của một kỹ sư công nghệ sinh học nông nghiệp, An lập tức nhận diện được tình trạng sinh học của khối hạt. Lớp vỏ ngoài của hạt ngô đã xuất hiện những vệt mờ màu xám trắng li ti. Đó là mạng sợi nấm (mycelium) của các chủng nấm mốc hoại sinh thông thường như Mucor hoặc Rhizopus , vừa mới bắt đầu phát triển do môi trường ẩm nóng cực hạn trong vòng bốn mươi tám giờ qua. Tuy nhiên, điều kỳ diệu là lớp nấm mốc này mới chỉ bám ở bề mặt màng bao ngoài của hạt! An dùng móng tay cái bấm mạnh vào phần rốn hạt — nơi chứa phôi mầm sống. Hạt ngô hơi mềm do ngậm ẩm, nhưng khi móng tay cô tách lớp màng mày ra, phần phôi hạt lộ ra bên trong vẫn giữ nguyên một màu trắng ngà thuần khiết, chưa hề bị thâm đen, chưa có mùi ủng thối của vi khuẩn hoại tử. Phôi hạt vẫn còn sống! Tế bào mầm chưa bị phá hủy bởi độc tố nấm hay nhiệt độ cao! Trái tim An đập thình thịch trong lồng ngực. Một tia hy vọng rực rỡ lóe lên trong tâm trí cô. Cô tiếp tục bước sang cót thóc giống chiêm trũng bên cạnh, luồn tay sâu vào lớp trấu vàng sẫm, bốc lên một nắm thóc giống. Tình trạng của thóc giống cũng tương tự: khối hạt đang bắt đầu phát nhiệt cục bộ, vỏ trấu hơi ẩm và bắt đầu có mùi chua nhẹ, nhưng phôi nhũ bên trong vẫn còn giữ được độ cứng cáp nhất định. Tỷ lệ hạt bị hư hại mầm phôi thực tế chưa quá mười phần trăm! “Vẫn còn cứu được!” An bất giác thốt lên thành lời, giọng nói run rẩy vì xúc động. Cả gian đình như nổ tung sau câu nói ấy. Bác nông dân Đội 1 run rẩy chen vào: “Cháu... cháu nói thật đấy chứ An? Có thật là vẫn cứu được không?” “Cứu được!” An quay lại, ánh mắt tràn đầy sự tự tin và quyết đoán. “Hạt mới chỉ bị hấp hơi bề mặt do đọng nước và lên men vỏ ngoài. Phôi mầm bên trong vẫn còn nguyên vẹn, chưa bị luộc chín! Nhưng chúng ta chỉ có nhiều nhất là mười hai tiếng đồng hồ. Nếu qua đêm nay mà không hạ nhiệt và rút sạch lớp hơi ẩm đọng trong ruột cót, nấm mốc sẽ ăn sâu vào phôi, lúc ấy thì trời cứu!” Nghe An nói chắc nịch như đinh đóng cột, Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát bỗng thấy vị thế chỉ huy của mình bị đe dọa nghiêm trọng. Ông ta sấn sổ bước tới, mặt mày cau có, xua tay lia lịa: “Vớ vẩn! Một đứa con gái mới nứt mắt, biết cái cóc khô gì về kỹ thuật nông nghiệp mà dám phán bừa trước mặt lãnh đạo? Các đồng chí Phòng Nông nghiệp huyện có bằng đại học, trung cấp đàng hoàng còn chưa dám khẳng định, mày dựa vào đâu mà dám bảo cứu được? Lại định bày trò ma giáo gì ở đây hả?” Ông Khoát quay sang mấy anh dân quân, quát lớn: “Khóa cửa kho lại ngay cho tôi! Dán giấy niêm phong mới lên! Ai cho phép tự tiện bới tung tài sản xã hội chủ nghĩa lên thế này? Để nguyên hiện trường chờ huyện về giải quyết! Ai chống lệnh, tôi ghi tên vào sổ đen, cắt toàn bộ tiêu chuẩn phân phối lương thực cuối năm!” Lời đe dọa tàn nhẫn ấy giáng xuống như một đòn chí mạng. Mấy anh thanh niên dân quân ngơ ngác nhìn nhau, tay cầm xẻng buông thõng, sợ sệt lùi lại. Ở cái thời buổi hạt gạo gắn liền với cuốn sổ hộ khẩu và công điểm bình xét của chủ nhiệm hợp tác xã, không ai dám đem nồi cơm của cả gia đình mình ra để đánh cược với sự thịnh nộ của người đứng đầu xã. Không khí lại một lần nữa rơi vào bế tắc ngột ngạt. Làn khói trắng từ các cót thóc vẫn lặng lẽ bốc lên nghi ngút dưới mái đình cổ kính, như đang đếm ngược từng giây từng phút sinh mạng của hàng chục tấn hạt giống quý giá. An siết chặt nắm tay, lòng dâng lên một nỗi bất lực và phẫn uất tột cùng trước sự quan liêu, cố chấp đến mù quáng của cơ chế hành chính đương thời. Tri thức khoa học cứu người rõ ràng đang nằm trong đầu cô, phương pháp xử lý nhiệt ẩm đối lưu kết hợp hút ẩm tự nhiên cô đã nắm rõ trong lòng bàn tay, vậy mà lại phải trơ mắt đứng nhìn số phận của cả làng bị trói chặt bởi những thủ tục giấy tờ vô nghĩa! Đúng lúc An đang cắn chặt môi đến suýt bật máu, thì bỗng nhiên, một bàn tay to lớn, thô ráp và ấm nóng khẽ vươn ra từ phía sau, kéo nhẹ lấy mép vạt áo bảo hộ đã sờn chỉ của cô. An giật mình quay phắt lại. Trần Bình đã đứng sừng sững bên cạnh cô từ lúc nào. Dưới ánh lửa bập bùng của ngọn đuốc cắm trên vách đình, bờ vai rộng lớn của người cựu chiến binh như che chắn toàn bộ sự soi mói và áp lực gay gắt từ phía ông Khoát. Khuôn mặt anh đẫm mồ hôi, những giọt mồ hôi chảy dài qua vết sẹo mờ nơi thái dương — dấu vết của một mảnh đạn pháo chiến trường năm nào. Đôi mắt một mí cương trực, đằm sâu của Bình nhìn thẳng vào mắt An. Không có sự hoài nghi, không có sự gia trưởng hay định kiến thường thấy của những người đàn ông làng quê thời bấy giờ, ánh mắt ấy chỉ chan chứa một sự thấu hiểu kỳ lạ và một niềm tin tưởng tuyệt đối, vững vàng như núi đá. Bình ghé sát lại gần An, hơi thở ấm áp phả vào bên tai cô giữa làn sương lạnh. Anh hạ thấp giọng, nhưng từng từ thốt ra đều nặng tựa ngàn cân: “Cô An... tôi tin cô. Nói cho tôi biết, cô thực sự có cách cứu số giống này... phải không?” , , vn, live , vn

Bạn cũng là tác giả hoặc dịch giả?

Đăng sáng tác hoặc bản dịch của riêng bạn lên Say Truyện — miễn phí, chỉ mất vài phút.

Đăng truyện ngay

Bình luận (0)

Đang tải bình luận...