Xuyên không thập niên 70
Chương31: Sóng gió sân đình
Cỡ chữ
Mùi ngô nếp luộc đầu mùa thơm ngòn ngọt quyện trong làn khói rơm bảng lảng vừa kịp xua đi cái buốt giá tê tái của buổi sớm mùa đông, thì âm thanh gầm rú xé rách màng tai từ ngõ cái đã dội thẳng vào chái bếp.
An giật thót mình, chiếc đũa cả bằng tre già trên tay khẽ rung lên. Cô vội đặt chiếc nắp vung đan bằng nan nứa trở lại trên miệng nồi, bước nhanh ra bậu cửa. Gió bấc từ phía triền sông Đáy thổi thốc vào khoảng sân đất nện, mang theo những hạt sương muối li ti táp rát mặt. Dưới rặng râm bụt xơ xác lá vì sương muối, bóng lưng Bình sừng sững như một cột mốc, nhưng hai bờ vai anh căng cứng dưới lớp áo trấn thủ màu cỏ úa.
Chiếc xe con Volga đen trũi, biểu tượng uy quyền tột bậc của cơ quan công quyền cấp tỉnh mà cả đời những người nông dân chân lấm tay bùn ở An Hòa hiếm khi được tận mắt nhìn thấy, đang chầm chậm nghiền nát lớp bùn đất đỏ quạch trên con đường liên xã dẫn thẳng vào sân đình. Bụi nước và bùn non bắn tung tóe lên những thân cau gầy guộc ven đường.
Một nỗi bất an lạnh toát từ đốt sống lưng dội ngược lên lồng ngực An.
Chưa đầy bốn tiếng đồng hồ trước, cũng chính tại gian nhà này, trên chiếc nong tằm cũ kỹ, mười bốn dấu tay son mực tàu của xã viên Đội 3 vừa được ấn xuống bản cam ước giao khoán đất bãi. Mảnh vải dù hoa u Mẫn dùng để bọc tập giấy bổi ấy lúc này đang nằm im lìm dưới viên gạch non nơi bệ thờ gia tiên họ Trần, khói hương bài còn chưa kịp nguội tàn. Giờ khắc này, một chiếc xe mang cờ hiệu của Đoàn Thanh tra Đặc biệt tỉnh lại đột ngột giáng xuống như một tiếng sét giữa trời quang.
Liệu có ai phản trắc? Hay chiếc phong bì thư nặc danh nào đó đã vượt qua hàng chục trạm kiểm soát để nằm trên bàn làm việc của Ủy ban tỉnh?
“An, vào nhà vặn nhỏ lửa bếp, mặc thêm chiếc áo ấm rồi cùng tôi ra sân đình.”
Giọng Bình trầm và đanh lại, không hề có lấy một tia hoảng loạn, nhưng đôi mắt anh khi quay lại nhìn cô sâu thẳm và cẩn trọng lạ lùng. Anh đưa tay phủi nhẹ những giọt sương bám trên vai áo cô, cái chạm tay ấm nóng và dứt khoát như truyền sang cho An một luồng sức mạnh vô hình.
“Anh đừng lo,” An khẽ mỉm cười, giọng cô dịu lại nhưng đôi mắt sáng ngời vẻ kiên định, “nồi ngô em luộc chín rồi, để ủ trên tro nóng cho u dậy ăn lót dạ. Đêm qua bà con về hết sức êm, dấu vết bờ bãi chưa ai động đến một nhát cuốc. Họ đến vì cái gì, chúng ta đón bằng cái đó.”
Bình gật đầu, siết nhẹ ngón tay thon nhỏ của vợ một nhịp rồi buông ra, bước chân khập khiễng quen thuộc sải dài ra ngõ.
Ngoài đường làng, không khí tĩnh mịch của sớm mai đã hoàn toàn biến mất, thay vào đó là sự hoang mang tột độ lan nhanh như vệt dầu loang. Mấy bà gánh rau đi chợ sớm quẩy đôi bồ đứng dạt vào gốc đa, mắt mở thao láo nhìn chiếc xe bốn bánh láng bóng. Chị Đượm từ ngõ bên tất tả chạy xộc ra, chiếc khăn vuông vắt vội trên vai, mặt cắt không còn hột máu. Vừa thấy vợ chồng An, chị đã níu lấy vạt áo An, run rẩy thì thào:
“Thím An ơi... chết dở rồi! Xe của tỉnh... cờ đỏ viền vàng rõ ràng rành rành. Đêm qua vừa... vừa mới ký tá xong, có khi nào quân Đội 1 hay lão Tiết...”
“Chị Đượm!” An ngắt lời bạn, giọng trầm tĩnh nhưng dứt khoát như một mệnh lệnh, “Bình tĩnh lại. Không có việc gì phải cuống. Càng sợ, người ta càng nghi. Chị cứ coi như không biết gì, bảo bà con ai có việc nấy, không được tụ tập xì xào.”
Chị Đượm nuốt nước bọt cái ực, nhìn vào ánh mắt phẳng lặng như mặt hồ không gợn sóng của An, lồng ngực đang phập phồng cũng dần hạ xuống. Chị khẽ gật đầu rồi quay gót, lén lút rẽ sang ngõ xóm dưới để dặn dò các hộ nòng cốt.
Tại sân đình Hợp tác xã, chiếc Volga đã tắt máy, để lại một vệt khói xám khét lẹt mùi xăng dầu. Cánh cửa xe bật mở. Bốn người đàn ông bước xuống, ai nấy đều mang vẻ mặt nghiêm nghị, sắc lạnh. Đi đầu là một người trạc ngoài năm mươi tuổi, vóc người gầy gò nhưng quắc thước, mặc áo măng tô dạ màu xám đen, đầu đội mũ nồi bộ đội, tay xách chiếc cặp da Tiệp Khắc đã sờn mép. Theo sau là hai cán bộ trẻ hơn đeo kính trắng, nách kẹp sổ tay bìa cứng và một người đàn ông trung niên mang huy hiệu của ngành Thú y tỉnh.
Cùng lúc đó, Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát từ trong gian văn phòng Hợp tác xã vội vã rảo bước ra, hai tay còn đang cài nốt chiếc cúc áo đại hàn bằng vải kaki Tô Châu sờn chỉ. Trên ngực áo bốn túi của ông, chiếc bút máy Kim Tinh cài ngay ngắn. Dù sắc mặt có thoáng chút bất ngờ khi nhìn thấy biển số xe, nhưng vẻ lão luyện của một người từng trải qua kháng chiến chống Pháp lập tức giúp ông lấy lại phong thái đĩnh đạc.
“Kính chào các đồng chí đại diện Đoàn Thanh tra của Ủy ban Nhân dân tỉnh!” Ông Khoát chủ động bước tới, đưa tay ra bắt, giọng sang sảng át cả tiếng gió bấc gầm gào qua mái ngói đình cổ. “Sương muối buốt giá thế này mà các đồng chí đã về tới cơ sở, Đảng ủy và Ban Quản trị Hợp tác xã An Hòa thật sự vinh dự và cảm kích. Mời đồng chí Trưởng đoàn và các đồng chí vào gian văn phòng xơi chén trà xanh nóng cho ấm người đã.”
Người đàn ông mặc áo măng tô dạ khẽ bắt tay ông Khoát, cái siết tay lạnh ngắt và hời hợt. Ông ta không bước vào trong mà đứng sững giữa sân gạch mốc thếch, đưa ánh mắt sắc như dao cau quét một vòng qua các dãy chuồng trại, kho tàng và đám đông xã viên đang lấp ló ngoài cổng đình.
“Báo cáo đồng chí Chủ nhiệm Khoát, tôi là Vũ Đình Trọng, Trưởng ban Thanh tra Nông nghiệp tỉnh,” giọng ông ta đanh gọn, rành rọt từng tiếng như gõ thước lim xuống phản. “Chúng tôi thừa lệnh lãnh đạo Ủy ban tỉnh về An Hòa đột xuất sáng nay. Chuyện nước trà xin gác lại sau. Tỉnh vừa nhận được đơn thư tố giác khẩn cấp của quần chúng nhân dân mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng.”
Cụm từ “đặc biệt nghiêm trọng” thốt ra khiến bầu không khí xung quanh như đông cứng lại. Tiếng gió rít qua rặng tre đầu làng nghe buốt nhói. Ông Khoát vẫn giữ nụ cười mực thước trên môi, nhưng hàng lông mày rậm rạp đã hơi nhíu lại:
“Dạ, thưa đồng chí Trưởng đoàn, Hợp tác xã An Hòa chúng tôi luôn quán triệt tinh thần phê và tự phê, hoan nghênh sự giám sát của quần chúng. Không rõ lá đơn phản ánh về vấn đề gì để Ban Quản trị chúng tôi chuẩn bị hồ sơ giải trình?”
Đồng chí Trọng mở chiếc cặp da, ngón tay lướt qua một xấp tài liệu rồi ngẩng lên, gằn giọng:
“Đơn thư nặc danh tố giác: Thứ nhất, Ban Quản trị xã An Hòa buông lỏng quản lý, để dịch bệnh lở mồm long móng lây lan bừa bãi, đe dọa đàn gia súc kéo của toàn huyện Chương Mỹ nhưng lại che giấu báo cáo thành tích. Thứ hai, và đây là điều nghiêm trọng nhất: tại Đội sản xuất số 3 đang manh nha tư tưởng tư hữu, lơ là kiểm soát tập thể, chia chác tư liệu sản xuất và làm ăn trái với nguyên tắc kinh tế xã hội chủ nghĩa!”
Tiếng xì xào nổi lên như ong vỡ tổ từ phía cổng đình. Mấy bác xã viên Đội 3 đứng nép bên bờ rào mặt mày tái mét. Bác Cả Đoan hai tay run rẩy bấu chặt vào gọng cày gỗ, mắt dán chặt vào bóng lưng của Bình và An vừa tiến vào sân đình.
Ông Khoát không hề nao núng, bật cười một tiếng trầm đục:
“Báo cáo đồng chí Trưởng đoàn, đã là thư nặc danh thì thật giả khó lường. Nhưng Đảng ủy và Ban Quản trị chúng tôi làm việc trên tinh thần nói có sách, mách có chứng. Về dịch bệnh, đúng là có nguy cơ từ hạ lưu sông Đáy tràn về, nhưng An Hòa chúng tôi đã lập thế trận chốt chặn, khoanh vùng dập dịch ngày đêm. Còn về chuyện Đội 3 có tư tưởng tư hữu hay chia chác tập thể... đồng chí Đội trưởng Trần Bình đây, và toàn thể xã viên Đội 3 đều có mặt ở đây, chúng tôi sẵn sàng để Đoàn kiểm tra tận mắt, xem tận tay!”
Đồng chí Trọng đưa mắt nhìn sang Bình. Thấy người cựu chiến binh thương tật đứng sừng sững, ánh mắt cương trực nhìn thẳng vào mình không một chút né tránh, bên cạnh là một cô gái trẻ dáng người mảnh khảnh nhưng nét mặt điềm đạm, tự tin đến lạ lùng, vị Trưởng đoàn khẽ nhướng mày.
“Được! Tinh thần dám chịu trách nhiệm của đồng chí Chủ nhiệm rất tốt,” đồng chí Trọng khoát tay quay sang vị cán bộ thú y đi cùng. “Đồng chí Tiến, chuyên viên thú y của Ty Nông nghiệp, sẽ trực tiếp kiểm tra khu chuồng trâu tập trung trước. Nếu dịch bệnh bùng phát mà giấu giếm, lãnh đạo xã phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Sau đó, chúng tôi sẽ làm việc về vấn đề đất đai.”
“Xin mời các đồng chí đi lối này,” Bình trầm giọng lên tiếng, giơ tay làm động tác dẫn đường dứt khoát như một người chỉ huy ngoài mặt trận. “Khu chuồng trại tập trung của Đội 3 nằm ngay phía sau sân kho.”
An bước song song bên cạnh Bình, khẽ liếc nhìn vị chuyên viên thú y tên Tiến. Người này xách theo một chiếc hòm gỗ y tế sơn chữ thập đỏ, dáng điệu vội vã và vẻ mặt đầy hoài nghi. An hiểu rất rõ, trong bối cảnh các xã lân cận như Thụy Hương, Đồng Tân trâu chết la liệt, xác trâu vứt bừa bãi xuống lòng sông Đáy khiến cả huyện hoảng loạn, việc An Hòa bình an vô sự quả thực là một điều khó tin đối với cấp trên. Nếu không giải trình thấu đáo bằng khoa học thực nghiệm, người ta hoàn toàn có quyền nghi ngờ An Hòa giấu dịch hoặc chôn trộm xác trâu.
Đoàn người rảo bước qua khoảng sân phơi rộng thênh thang, tiến về phía dãy chuồng trâu của Đội 3.
Càng đến gần, đồng chí Trọng và cán bộ thú y Tiến càng lộ vẻ ngạc nhiên. Thông thường, bước vào khu chuồng trại tập thể của các hợp tác xã vào mùa đông rét mướt, đập vào mũi người ta sẽ là mùi phân ứ đọng nồng nặc xộc lên cay xè mắt, kèm theo cảnh tượng lầy lội, nhớp nhúa, trâu bò đứng run bần bật trong gió lùa.
Thế nhưng, khu chuồng của Đội 3 lại hoàn toàn khác biệt.
Bốn bề chuồng trâu được quây kín bằng những tấm phên nứa dày nẹp rơm rạ chắc chắn, ngăn tuyệt đối những luồng gió bấc độc địa từ triền sông thổi vào. Cửa chuồng mở ra, một luồng hơi ấm áp dịu nhẹ phả ra ngoài, mang theo thoang thoảng mùi thơm của trấu rang quyện với mùi bồ kết và sả xông khói. Hoàn toàn không có mùi xú uế tanh tưởi đặc trưng của bệnh dịch.
Vừa bước chân qua rãnh vôi bột trắng xóa rải dày trước cửa, đồng chí Tiến đã phải thốt lên:
“Kỳ lạ thật... Dưới sàn chuồng này rải cái gì thế này?”
Trước mắt đoàn thanh tra, hai mươi tư con trâu của Đội 3 không hề bị xích chân dưới nền đất bùn lầy lội. Chúng đứng khoan thai trên một lớp đệm lót dày hơn gang tay màu nâu nhạt, khô ráo và xốp mịn. Mỗi con trâu đều được mặc một chiếc áo giữ ấm khâu bằng bao tải gai lót rơm khô cẩn thận, miệng đang nhai rơm rạ rào rạo, đuôi phe phẩy nhịp nhàng, mắt trong veo không một gợn dỉ.
Đồng chí Tiến bước nhanh tới, ngồi thụp xuống chuồng, tháo găng tay len rồi luồn bàn tay trần sâu vào lớp mùn dưới chân trâu. Đôi mắt sau cặp kính trắng của anh ta tròn xoe vì kinh ngạc:
“Nhiệt độ... dưới này phải đến hai mươi lăm, hai mươi sáu độ C! Đất cát xung quanh đông cứng như đá, sao lớp lót này lại ấm thế này? Các đồng chí đốt lửa ngầm bên dưới à?”
Tiếng xì xào của đoàn thanh tra làm An khẽ mỉm cười. Cô bước lên một bước, lễ phép nhưng giọng nói vô cùng rành rọt, tự tin:
“Báo cáo đồng chí Trưởng đoàn và đồng chí cán bộ thú y, chúng tôi không đốt lửa. Đây là đệm lót sinh học do Đội 3 chúng tôi tự mày mò làm từ nguồn phụ phẩm nông nghiệp sẵn có.”
Đồng chí Trọng nheo mắt nhìn An, vẻ nghi ngờ vẫn chưa tan biến:“Cô là ai? Phụ phẩm nông nghiệp mà tự sinh ra nhiệt sưởi ấm cho trâu được à? Có phải các đồng chí mua hóa chất trôi nổi của con buôn trên thị xã về tẩm ướp không?”
“Thưa đồng chí,” An bình tĩnh đáp, giọng khúc chiết như đang đứng trước một hội đồng khoa học, nhưng câu từ lại được gọt giũa vô cùng mộc mạc, “Tôi là Nguyễn Hoài An, xã viên Đội 3, cựu thanh niên xung phong phục viên. Chúng tôi tuyệt đối không dùng bất kỳ một giọt hóa chất nào. Lớp đệm này gồm trấu mục, mùn cưa và rơm băm nhỏ, trộn đều với men vi sinh ủ từ bã rượu, cám gạo và rỉ mật mía theo kinh nghiệm dân gian mà các cụ xưa truyền lại. Khi trâu thải phân và nước tiểu xuống, các hạt men sống li ti sẽ lập tức 'ăn' chất thải, phân giải chúng thành nhiệt lượng và khí không mùi. Nhiệt lượng bốc lên sưởi ấm bụng trâu suốt đêm ngày, móng trâu luôn khô ráo nên không bao giờ bị thối rữa hay nứt nẻ vì rét hại!”
Vị cán bộ thú y Tiến nghe như nuốt từng lời, anh ta vội vàng rút chiếc nhiệt kế thủy ngân trong hòm thuốc ra, cắm sâu vào lớp đệm lót. Chưa đầy hai phút sau rút lên, cột thủy ngân chỉ đúng 26 độ C. Anh ta ngẩng đầu nhìn Trưởng đoàn Trọng, giọng đầy thán phục:
“Đúng là kỳ tích đồng chí Trưởng ban ạ! Cơ chế lên men vi sinh hiếu khí tự sinh nhiệt... sách vở nước ngoài có nhắc đến, nhưng áp dụng bằng trấu mục và bã rượu thế này thì tôi mới thấy lần đầu. Cực kỳ khoa học và sạch sẽ!”
Sắc mặt của đồng chí Trọng thoáng giãn ra một chút, nhưng nét nghiêm nghị vẫn không suy suyển. Ông ta bước tới sát một con trâu mộng to lớn, quan sát kỹ kẽ móng chân và khóe miệng nó:
“Được, chống rét như thế này là tốt, thể hiện tinh thần sáng tạo của giai cấp công nông. Nhưng còn dịch lở mồm long móng thì sao? Đơn tố giác ghi rõ xã An Hòa có trâu phát bệnh, lở loét sùi bọt mép, sao hai mươi tư con này lại lành lặn thế này? Hay các đồng chí đã đem trâu bệnh đi giấu giếm nơi khác?”
Không khí vừa chớm nhẹ nhõm lại lập tức căng như dây đàn. Bác Cả Đoan đứng ngoài cửa chuồng toát mồ hôi hột, hai hàm răng va vào nhau lập cập.
Bình bước lên, đứng chắn nửa người trước An, giọng nói sang sảng đầy khí phách của người lính:
“Báo cáo đồng chí Trưởng ban! Chúng tôi là người lính Cụ Hồ trở về đồng đất quê hương, trước Đảng và nhân dân không bao giờ biết nói dối. Đội 3 chúng tôi chốt chặn nghiêm ngặt, hai mươi tư con trâu này an toàn tuyệt đối. Nhưng Đội 1, do sơ suất trong khâu kiểm soát chăn thả ven sông, quả thực tuần trước đã có tám con bị lây nhiễm từ xã bạn tràn sang!”
“Tám con bị nhiễm?” Đồng chí Trọng sa sầm nét mặt, giọng đanh lại. “Vậy số trâu đó đâu? Sao không đem tiêu hủy chôn sâu theo đúng chỉ thị phòng dịch của tỉnh?”
“Tiêu hủy trâu cày giữa vụ chiêm xuân thì lấy gì kéo cày, lấy gì làm ra hạt lúa nộp nghĩa vụ cho nhà nước hả đồng chí?” Chủ nhiệm Khoát lúc này mới cất giọng trầm hùng, từng bước điềm đạm tiến vào chuồng. “Chúng tôi không giấu dịch, mà chúng tôi cách ly tuyệt đối và tổ chức cứu chữa thành công! Mời đồng chí Trưởng đoàn sang khu chuồng cách ly đặc biệt của Đội 1 ngay bên cạnh để kiểm chứng.”
Đoàn thanh tra đưa mắt nhìn nhau, sự hoài nghi dâng lên tột độ. Toàn huyện Chương Mỹ đến nay đã có hơn hai trăm con trâu bò ngã gục vì dịch, trạm thú y huyện cạn kiệt thuốc kháng sinh và thuốc sát trùng, chỉ biết bất lực nhìn dịch lây lan. Một hợp tác xã nông thôn lấy đâu ra thuốc mà đòi “chữa khỏi”?
Đi theo sự dẫn đường của Bình và An, đoàn công tác bước sang một góc chuồng biệt lập nằm cuối vườn cây, nơi có rào tre gai phong tỏa ba lớp, rắc vôi trắng xóa như tuyết phủ. Bên trong, tám con trâu của Đội 1 đang đứng rải rác.
Đồng chí Tiến mang găng tay cao su, cầm kẹp y tế thận trọng tiến lại gần con trâu đực hoa cà – con trâu từng bị nặng nhất của Đội 1. Anh ta lật môi trên của nó lên, dùng que đè lưỡi soi đèn pin vào khoang miệng, rồi lại cúi xuống lật từng kẽ móng chân trâu lên xem xét tỉ mỉ.
Cả chuồng trâu im phăng phắc, chỉ nghe thấy tiếng thở phì phò của những con trâu khỏe mạnh và tiếng lách cách của dụng cụ y tế.
Đột nhiên, đồng chí Tiến buông que đè lưỡi, quay phắt lại nhìn An với ánh mắt không giấu nổi sự chấn động:
“Vết loét ở niêm mạc lưỡi... đã lên da non hoàn toàn! Không còn một ổ mủ nào. Kẽ móng chân đã khô ráo, đóng vảy sừng cứng ngắc. Con trâu này đã từng sốt cao và lở loét nặng, nhưng hiện tại dịch tích đã triệt tiêu hoàn toàn. Các đồng chí... các đồng chí dùng loại kháng sinh ngoại nào thế? Thuốc của Pháp hay của Liên Xô viện trợ?”
An mỉm cười nhẹ nhõm, cô lắc đầu, chỉ tay vào chiếc nồi đồng lớn còn bốc khói nghi ngút đặt trên bếp trấu ở góc chuồng:
“Báo cáo các đồng chí, thời buổi khó khăn, cả nước đang dồn sức chi viện biên cương, chúng tôi đào đâu ra thuốc ngoại? Toàn bộ số trâu này được cứu sống nhờ cây cỏ trên đất An Hòa này thôi ạ.”
“Cây cỏ?” Đồng chí Trọng bước lại gần chiếc nồi đồng, tò mò nhìn thứ nước màu nâu sẫm, đặc sánh đang sôi lục bục bên trong.
“Vâng,” An từ tốn giải thích, “chúng tôi hái lá bàng bánh tẻ, lá trầu không và vỏ cây xoan sắc thật đặc để lấy chất chát tự nhiên rửa sạch vết loét. Chất tanin trong lá bàng có tính kháng khuẩn cực mạnh, làm se niêm mạc rất nhanh. Miệng trâu bị đau không ăn được, chúng tôi nấu cao mật mía đặc trộn với bột nghệ vàng và phèn phi tán mịn xoa vào lưỡi trâu, vừa giúp sát trùng, giảm đau, vừa cung cấp năng lượng để trâu không bị kiệt sức. Còn móng chân, sau khi rửa sạch nước lá chát, chúng tôi đắp tro bếp nóng ủ rơm rồi bọc kín bằng bao tải gai. Chỉ trong vòng năm đến bảy ngày, trâu bắt đầu ăn lại cháo cám ấm và phục hồi hoàn toàn.”
Đồng chí Tiến lắng nghe, hai mắt sáng rực lên. Anh ta lật cuốn sổ tay công tác, thoăn thoắt ghi chép lại từng chữ, từng vị thảo dược mà An vừa đọc ra.
“Kinh nghiệm dân gian kết hợp nguyên lý y học cổ truyền tuyệt vời quá!” Tiến ngẩng lên thốt lên đầy hào hứng với Trưởng đoàn. “Đồng chí Trọng ơi, đây là một sáng kiến vô giá! Toàn tỉnh ta đang lúng túng vì thiếu thuốc thú y nhập khẩu, nếu quy trình này được đúc kết thành văn bản phổ biến rộng rãi cho các huyện ven sông Đáy, chúng ta có thể cứu sống hàng ngàn con trâu cày trong mùa đông này!”
Sắc mặt của đồng chí Trọng biến đổi liên tục. Sự lạnh lùng, dò xét ban đầu dường như đã bị lung lay trước thực tế rành rành. Hai mươi tư con trâu béo tốt, tám con trâu bệnh phục hồi thần kỳ, chuồng trại ấm áp không một hạt bụi bẩn hay mùi hôi thối – tất cả những bằng chứng sống động này đã đập tan hoàn toàn nội dung thứ nhất của lá đơn tố giác.
Ông Khoát đứng bên cạnh, nét mặt rạng rỡ hẳn lên, đưa tay vuốt chòm râu cằm lưa thưa:
“Báo cáo đồng chí Trưởng đoàn, Đảng ủy và Ban Quản trị chúng tôi luôn tâm niệm: trâu bò là đầu cơ nghiệp của giai cấp nông dân. Đội 3 của đồng chí Bình và cô An đây đã ngày đêm túc trực, chân lấm tay bùn cứu đàn trâu cho tập thể, không quản ngại gian khổ. Tinh thần phục vụ tập thể như thế, há lại là 'lơ là kiểm soát' hay 'thiếu trách nhiệm' như lời kẻ tiểu nhân đặt điều sao?”
Mấy cán bộ thanh tra trẻ tuổi đi cùng đều gật đầu tán thưởng, vẻ mặt đã hòa nhã hơn rất nhiều. Họ bắt đầu cất sổ tay vào cặp, dường như đã chuẩn bị cho một kết luận thanh tra tốt đẹp để trở về báo cáo với Ủy ban tỉnh.
Thế nhưng, An đứng bên cạnh Bình, tim cô vẫn không hề buông lỏng một nhịp. Cô quan sát rất kỹ từng cử chỉ của vị Trưởng ban Thanh tra Nông nghiệp tỉnh. Người đàn ông này có đôi mắt của một cán bộ kiểm tra giàu kinh nghiệm, từng trải qua nhiều biến động tư tưởng. Một người như thế sẽ không dễ dàng bỏ cuộc chỉ sau một màn kiểm tra kỹ thuật thú y.
Quả nhiên, nụ cười vừa hé nở trên môi mọi người lập tức tắt ngấm khi đồng chí Trọng đột ngột dừng bước giữa lối đi rải rơm.
Gương mặt ông ta đanh lại, sự lạnh lùng sắt đá quay trở lại trên từng nếp nhăn nơi khóe mắt. Ông ta từ từ mở chiếc cặp da Tiệp Khắc một lần nữa, nhưng lần này không phải lấy sổ công tác, mà rút ra một phong bì thư màu xanh nhạt bằng giấy pơ-luya mỏng tang.
Từ trong phong bì, ông ta rút ra một tờ giấy xé từ cuốn vở học trò, được viết vội bằng thứ mực tím nhòe nhoẹt.
“Các đồng chí làm tốt công tác thú y, đó là điều đáng biểu dương,” giọng đồng chí Trọng trầm xuống, sắc lạnh như một lưỡi dao vừa mài sắc, “nhưng cái làm nên bản chất của chủ nghĩa xã hội là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, là kỷ luật lao động tập thể! Về điểm này, lá đơn tố giác không hề vu vơ.”
Đồng chí Trọng giơ tờ giấy lên trước mặt ông Khoát và vợ chồng Bình. Dù khoảng cách có phần xa, nhưng nhìn những nét chữ nghiêng lệch, sắc nhọn, gãy khúc ở những nét móc chữ “t” và chữ “g”, tim An bỗng thắt lại. Nét chữ này... cô đã từng nhìn thấy trên những bản báo cáo phân bón của Đội 1 trước đây.
Đó chính là nét chữ của Đặng Tiết!
Tên cựu đội phó biến chất sau khi bị bắt quả tang lùa trâu bệnh và bị cách chức, hóa ra vẫn ngấm ngầm để lại một ngón đòn hiểm độc nhằm kéo cả Đội 3 và ông Khoát xuống bùn lầy!
Đồng chí Trọng dõng dạc đọc từng dòng chữ trong đơn, giọng đọc sang sảng vang vọng khắp khoảng sân đình vắng lặng:
“...Kính báo Ủy ban tỉnh: Ban Quản trị xã An Hòa, đứng đầu là Bùi Đắc Khoát cùng Đội trưởng Trần Bình, đang âm mưu phá hoại nền tảng kinh tế tập thể. Lấy danh nghĩa khôi phục bãi bồi, bọn họ đang lén lút cắm cọc, chia năm xẻ bảy toàn bộ mười lăm mẫu đất bãi Soi ven sông Đáy cho từng nhóm hộ tư nhân tự làm tự hưởng, hủy hoại mô hình hợp tác xã nông nghiệp bậc cao, đi ngược lại đường lối của Đảng...”
Đọc xong, đồng chí Trọng gấp tờ giấy lại, ánh mắt quắc lên nhìn thẳng vào mặt ông Khoát rồi lia sang Bình và An, giọng nói đanh thép không để lại một kẽ hở:
“Đồng chí Khoát, đồng chí Bình! Chuyện trâu bò coi như đã rõ. Nhưng vấn đề tư tưởng tư hữu, chia ruộng chia phần trái phép là vấn đề nguyên tắc sống còn! Lãnh đạo tỉnh đã chỉ thị dứt khoát: không để bất kỳ mầm mống kinh tế tư nhân nào manh nha làm xói mòn hợp tác xã.”
Ông ta giơ đồng hồ Liên Xô mạ kền trên cổ tay lên xem, rồi lạnh lùng tuyên bố:
“Bây giờ là chín giờ ba mươi phút sáng. Chúng tôi sẽ không nghỉ trưa, cũng không cần ăn cơm ở xã. Toàn bộ Ban Quản trị và các đồng chí Đội 3 có mặt ở đây, hãy cùng Đoàn Thanh tra chúng tôi đi bộ thẳng ra bãi Soi ngay lập tức! Chúng tôi muốn tận mắt kiểm tra từng tấc đất trên mười lăm mẫu bãi bồi đó, xem có đúng là các đồng chí đang ngấm ngầm chia ruộng, cắm cọc phân phần hay không!”
Từng lời nói của vị Trưởng ban Thanh tra giáng xuống sân đình như những tảng đá ném vào mặt nước phẳng lặng. Gió bấc từ triền đê sông Đáy bất thần thổi thốc qua, cuốn tung những lớp rác rơm khô bay là đà trên nền gạch, mang theo cái lạnh buốt thấu tận tâm can.
, , vn, live
,
vn
Bình luận (0)
Đang tải bình luận...