Xuyên không thập niên 70

Chương32: Trận địa lòng dân

Cỡ chữ
Gió bấc cuối đông thổi thốc qua những vòm nhãn cổ thụ ven đường đê, kéo theo từng luồng rét ngọt lẫn cái hanh hao đặc trưng của đất trời Bắc Bộ những ngày sau Tết. Nắng trưa rọi xuống dòng sông Đáy một màu bàng bạc, lấp lánh như vảy cá thiếc. Con đường mòn dẫn từ cổng đình làng An Hòa ra mé bãi Soi gập ghềnh đất thịt khô nẻ, in hằn những vết chân trâu tròn ủng và rãnh trượt của bánh xe thồ chở phân ải. Đoàn người rảo bước trong một bầu không khí im ắng đến ngột ngạt. Đi đầu là đồng chí Vũ Đình Trọng, Trưởng ban Thanh tra Nông nghiệp tỉnh Hà Sơn Bình. Người cán bộ kiểm tra có vóc người cao gầy trong chiếc áo đại cán bốn túi màu cỏ úa cài kín cổ, chân xỏ đôi dép cao su đúc bước thoăn thoắt, cánh tay kẹp chặt chiếc cặp da Tiệp Khắc bên hông. Đi sát phía sau là hai cán bộ thanh tra trẻ tuổi mang theo sổ tay, thước dây cuộn bằng thép và đồng chí Tiến - cán bộ kỹ thuật của trạm thú y huyện, người vừa trải qua một phen kinh ngạc tột độ trước mô hình đệm lót sinh học và phác đồ thảo dược trị dứt điểm chứng lở mồm long móng ở chuồng trâu Đội 3 ban nãy. Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát đi bên cạnh, chiếc bút máy Kim Tinh nơi ngực áo cứ chốc chốc lại rung lên theo từng nhịp bước vội vã. Hoài An đi ngay phía sau, cô nhìn thấy rất rõ những giọt mồ hôi đang rịn ra lấm tấm bên thái dương ông Khoát dù gió sông thổi ràn rạt qua manh áo mỏng. Đôi bàn tay thô ráp của người đứng đầu hợp tác xã thỉnh thoảng lại lén chùi vội vào ống quần bảo hộ màu xanh công nhân đã bạc phếch. An hiểu rõ sức ép ngàn cân đang đè nặng lên ngực ông. Mười lăm mẫu đất bãi Soi này là tất cả vốn liếng, là canh bạc danh dự của ông Khoát trước Đảng ủy xã và bà con xã viên. Đêm hôm trước, chính ông đã ngồi dưới ngọn đèn dầu hạt đỗ tại gian nhà ba gian của vợ chồng cô, run rẩy cùng Bình bàn bạc từng gạch đầu dòng cho phương án cứu đói vụ chiêm. Nếu hôm nay đoàn thanh tra của tỉnh bắt được quả tang dù chỉ là một chiếc cọc tre cắm mốc chia ruộng, cái mũ “phục hồi tư tưởng tư hữu, phá hoại nền tảng kinh tế tập thể” sẽ lập tức ụp xuống đầu ông, đủ sức tước sạch sinh mạng chính trị lẫn chiếc huy hiệu Đảng mà ông nâng niu gìn giữ suốt mấy chục năm qua. Bàn tay An giấu sâu trong túi chiếc áo bà ba chần bông vá vai, lặng lẽ bấm nhẹ đầu ngón tay vào lòng bàn tay để giữ cho tâm trí tuyệt đối sáng suốt. Bên cạnh cô, Trần Bình bước đi với dáng vẻ điềm tĩnh như một thân cây lim sừng sững giữa rừng. Vết thương đạn sượt ở chiến trường Tây Nam khiến chân trái anh hơi khập khiễng nhẹ khi leo dốc đê, nhưng sống lưng anh vẫn thẳng tắp, bờ vai rộng vững chãi như muốn che chắn toàn bộ ngọn gió lạnh cho người vợ trẻ phía sau. Khi đoàn người vừa bước qua khúc quanh gấp nơi dốc đê bến đò, Bình bỗng hạ thấp cánh tay, bàn tay to bản thô ráp ấm sực lướt qua, khẽ siết lấy những ngón tay đang lạnh buốt của An trong tích tắc. Một cái nắm tay ngắn ngủi, kín đáo không ai nhìn thấy, nhưng truyền sang cô một luồng hơi ấm kiên định và tin cậy khôn cùng. “Đừng lo,” Bình mấp máy môi, thanh âm trầm ấm như tiếng chuông đồng vọng giữa trưa vắng, “mọi sự đã có anh.” An ngước nhìn sườn mặt cương nghị của chồng, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười kín đáo. Cô lắc đầu rất nhẹ, ánh mắt trong trẻo lạ thường: “Em không lo. Chúng ta làm vì sự sống của bà con, không làm điều gì mờ ám để phải sợ.” Đồng chí Trọng đột ngột dừng lại trên đỉnh dốc đê nhìn xuống. Cả đoàn người cũng đồng loạt khựng bước. Trước mắt họ, mười lăm mẫu đất bãi Soi trải dài tít tắp ra tận mép nước sông Đáy phù sa đỏ quạnh. Cán bộ Trọng nheo đôi mắt sắc như dao cau lại, chiếc cằm vuông hơi hếch lên, chăm chú quét một lượt từ đầu bãi đến cuối bãi. Mấy cán bộ thanh tra trẻ tuổi đi cùng đã vội vàng mở nắp chiếc bút Trường Sơn, lật sẵn trang giấy pơ-luya trắng tinh trong cuốn sổ bìa cứng để ghi chép biên bản vi phạm. Thế nhưng, bức tranh hiện ra dưới chân đê bãi Soi hoàn toàn không giống với những gì được miêu tả trong bức thư tố giác mực tím nặc danh. Không có bất kỳ một chiếc cọc tre nào cắm mốc phân chia. Tuyệt nhiên không có những bờ ngăn ranh giới manh mún, lắt nhắt theo kiểu “mảnh ruộng con trâu” của thời kỳ kinh tế cá thể. Cả mười lăm mẫu đất bãi bồi mở ra thênh thang, phẳng lì, được quy hoạch thành từng dải băng thẳng tắp, ngay ngắn như những luống cày mẫu mực của nông trường quốc doanh lớn. Quan trọng hơn cả, trên bãi bồi lúc này không hề có cảnh tượng mạnh ai nấy cuốc, xé rào làm riêng. Gần bốn chục con người của Đội sản xuất số 3 đang lao động hăng say, rầm rộ như một chiến dịch hiệp đồng binh chủng thực thụ. Trên một ụ đất cao giữa bãi, lá cờ đỏ thêu dòng chữ “Đơn vị thi đua Quyết thắng” - món quà mà đoàn xe quân sự chở tân binh tặng lại Đội 3 mấy hôm trước - được cắm sừng sững trên ngọn tre, phần phật tung bay trong gió bấc. “Thế này là thế nào?” Đồng chí Trọng nhíu mày, giọng lộ rõ vẻ nghi hoặc, ngón tay gõ nhịp liên hồi lên mặt chiếc cặp da. “Trong đơn tố cáo ghi rất rõ: Đội 3 cắm cọc phân chia mười lăm mẫu bãi Soi cho từng nhóm hộ tư nhân tự làm tự hưởng, triệt tiêu kỷ luật lao động tập thể. Sao dưới kia người ta lại chia thành ba vạt đất riêng biệt như ba trận địa thế kia? Đồng chí Khoát, đồng chí giải thích xem!” Ông Khoát ấp úng, trán vã mồ hôi, chiếc bút máy cài túi áo lại rung lên bần bật: “Báo... báo cáo đồng chí Trưởng đoàn, việc này... việc này là do Đội 3 chủ động bố trí theo tình hình thực tế...” “Báo cáo đồng chí Trưởng đoàn thanh tra!” Một giọng nói trong trẻo, đĩnh đạc cất lên cắt ngang sự lúng túng của ông Khoát. Hoài An bước lên phía trước nửa bước, đứng ngang hàng với Trần Bình, ánh mắt cô bình thản nhìn thẳng vào vị cán bộ kiểm tra quyền lực của tỉnh: “Tôi là Nguyễn Hoài An, kỹ thuật viên kiêm phụ trách công tác tăng gia của Đội sản xuất số 3. Xin phép được thay mặt Ban chỉ huy đội báo cáo cụ thể phương án tác chiến đồng ruộng này với đoàn thanh tra.” Đồng chí Trọng quay ngoắt lại nhìn cô gái trẻ. Đôi mắt sắc sảo của ông ta quét qua chiếc áo bà ba vá chỉ cẩn thận, đôi bàn tay lấm lem đất phù sa và phong thái tự tin hiếm thấy ở một xã viên thôn dã. Nhớ lại lời ca ngợi không ngớt của cán bộ thú y Tiến lúc ở chuồng trâu ban nãy, nét mặt ông ta dịu bớt đôi phần nhưng giọng điệu vẫn giữ nguyên vẻ đanh thép: “Được, cô An nói đi! Tại sao mười lăm mẫu đất này lại chia thành ba dải băng tách biệt? Kia có phải là vạt đất chia riêng cho dòng họ Trần, họ Đặng hay những hộ thân cận với ban chỉ huy đội không?” “Thưa đồng chí Trọng, hoàn toàn không phải!” An mỉm cười nhẹ nhàng, bàn tay chỉ về dải đất ngoài cùng sát mép nước. “Đây không phải là chia đất tư nhân, mà là mô hình 'Luân canh dải băng khoanh vùng dập dịch bệnh sinh học' do Đội 3 chúng tôi áp dụng thử nghiệm nhằm bảo vệ tài sản của hợp tác xã.” Cụm từ “khoanh vùng dập dịch bệnh sinh học” thốt ra từ miệng một cô gái nông thôn khiến đồng chí Trọng và các cán bộ trẻ trong đoàn thoáng chút bất ngờ. Một cán bộ thanh tra đeo kính cận vội vàng cúi xuống sổ tay ghi chép. An điềm tĩnh bước xuống dốc đê, đưa tay mời đoàn thanh tra đi theo dọc theo bờ mương dẫn nước: “Báo cáo các đồng chí, đất bãi Soi là vùng đất phù sa màu mỡ nhưng có đặc thù trũng thấp, mùa xuân thì nồm ẩm, sâu bệnh dễ lây lan, đến vụ mưa rào tháng Năm thì nước sông Đáy dâng cao rất nhanh. Nếu chúng tôi huy động toàn bộ ba mươi tư lao động cùng dồn vào làm đất một lúc theo lối đánh trống ghi tên truyền thống, đào bới tràn lan, thì đất sẽ bị nén chặt, úng ngập chân rễ và khi có dịch rầy nâu hay sâu đục thân xuất hiện ở một góc, nó sẽ quét sạch cả mười lăm mẫu chỉ trong ba ngày!” An dẫn đoàn người dừng lại bên dải đất đầu tiên. Tại đây, một tốp phụ nữ do chị Đượm dẫn đầu đang dùng quang gánh chuyển từng sọt mùn hoai mục từ các hố ủ bèo hoa dâu kỵ khí đổ xuống rãnh luống. Mùi vôi bột khử trùng nồng nồng quyện với mùi đất ải ngai ngái bốc lên dưới nắng trưa hanh hao. “Dải băng thứ nhất này rộng đúng năm mẫu, nằm ở dải đất cao nhất,” An giải thích rành rọt, từng câu từng chữ chuẩn xác như một cán bộ khuyến nông dày dạn kinh nghiệm, “chúng tôi bố trí tổ phụ nữ chuyên trách kỹ thuật vi sinh. Toàn bộ lượng bèo hoa dâu ủ kỵ khí kết hợp tro bếp và vôi bột được rải xuống đây để chuẩn bị gieo đậu tương vụ xuân. Như đồng chí Trưởng đoàn đã biết qua các chủ trương phổ biến kỹ thuật nông nghiệp của Bộ Nông nghiệp, rễ cây họ đậu có các nốt sần chứa vi khuẩn cộng sinh, có khả năng tự hút đạm tự do trong khí trời chuyển hóa thành đạm hữu cơ làm giàu cho đất. Chúng tôi làm dải băng này trước để tận dụng nguồn đạm sinh học tự nhiên, giảm bớt một trăm phần trăm nhu cầu phân urê mà nhà nước đang thiếu hụt!” Đồng chí Trọng chăm chú nhìn những rãnh đất được rải đều tăm tắp, không hề có một nhánh cỏ dại. Cán bộ thú y Tiến đứng bên cạnh vỗ đùi đánh đét một cái, hào hứng đỡ lời: “Đúng quá đồng chí Trưởng đoàn ạ! Tài liệu kỹ thuật của Bộ Nông nghiệp dịch từ sách Liên Xô có nói rất kỹ điều này! Nuôi đất bằng vi sinh vật nốt sần rễ đậu, vừa tăng độ mùn màu mỡ vừa cắt đứt mầm bệnh của vụ lúa trước!” An hướng ánh mắt sang dải đất thứ hai ở giữa bãi. Nơi đó, tám con trâu đực khỏe mạnh vừa được chữa khỏi bệnh lở mồm long móng đang kéo những lưỡi cày gang lật từng tảng đất phù sa màu mỡ lên phơi nắng. Những chàng trai tráng kiện của Đội 3 áo đẫm mồ hôi, bước chân thoăn thoắt theo đường cày thẳng như kẻ chỉ. “Dải băng thứ hai này là tổ cày bừa chuyên sâu do đồng chí Bình trực tiếp điều hành,” An tiếp tục, “sau đợt dịch rét hại vừa qua, trâu cày cần được phục hồi thể lực theo chế độ vận động có kiểm soát. Chúng tôi tập trung những lao động khỏe mạnh đạt chuẩn công A vào dải đất này để cày sâu hai mươi lăm phân, phơi ải diệt trừ triệt để ấu trùng nhộng sâu và nấm mốc trong lòng đất. Nhờ cày tập trung theo tuyến thẳng, hiệu suất kéo của đàn trâu tăng ba mươi phần trăm so với việc thả cày rải rác từng khoảnh.” Rồi cô đưa tay chỉ về dải đất thứ ba giáp sông, nơi một nhóm xã viên già cả và thanh thiếu niên đang dùng xẻng, cuốc nạo vét một hệ thống rãnh thoát nước hình xương cá thông thẳng ra vụng sông: “Còn dải đất cuối cùng là tuyến đê bao mềm và hệ thống rãnh tiêu thủy do các bác xã viên lớn tuổi phụ trách. Nếu nước sông dâng bất ngờ, hệ thống rãnh này sẽ tiêu úng trong vòng hai giờ, giữ cho ngô và đỗ không bị thối rễ.” An dừng bước, quay lại đối diện với đồng chí Trọng, giọng cô ấm áp nhưng đanh chắc: “Toàn bộ quy trình này được chúng tôi tổ chức theo phương châm: chuyên môn hóa dây chuyền sản xuất, hiệp đồng tác chiến tập thể. Mỗi người làm đúng sở trường, từ việc nặng đến việc nhẹ. Điểm công vẫn được ghi vào sổ công điểm của Đội 3 mỗi buổi chiều, ngô đỗ thu hoạch vẫn nhập thẳng vào kho của hợp tác xã theo định mức giao nộp. Thưa đồng chí Trưởng đoàn, phân công lao động khoa học theo chuỗi kỹ thuật để bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, há lại là chia ruộng tư hữu sao?” Đồng chí Trọng lặng người đi. Ông ta bước thẳng xuống lòng luống đất, cúi người bốc một nắm đất phù sa vừa được trộn mùn bèo hoa dâu lên tay bóp nhẹ. Đất tơi xốp, ẩm mềm, phảng phất mùi thơm của đất ải và tro bếp, hoàn toàn không có mùi hôi thối của phân tươi chưa hoai mục. An quan sát rất kỹ từng cử chỉ của vị Trưởng ban thanh tra. Đôi mắt sắc sảo, nghiêm nghị vốn từng trải qua bao cuộc kiểm tra căng thẳng của ông dường như dịu lại. Những nếp nhăn hằn sâu nơi khóe mắt ông giãn ra khi ông ngước nhìn khắp bãi Soi rộng lớn. Mười bốn hộ xã viên Đội 3 - những người tối qua vừa cùng nhau ký và điểm chỉ vào bản cam ước sinh tử giấu dưới bệ thờ nhà Bình - lúc này đang đứng sát lại bên nhau. Trên gương mặt họ không hề có sự lấm lét, sợ sệt của những kẻ làm ăn trộm vụng, mà rạng ngời niềm tin, sự đoàn kết và lòng tự hào lao động chân chính. Chị Đượm chống chiếc đòn gánh bước tới, quệt vội giọt mồ hôi trên trán cười giòn tan: “Báo cáo cán bộ tỉnh! Chúng tôi ở đây chỉ biết nghe lệnh Đội trưởng Bình và cô An chỉ huy thôi! Cô An dạy chúng tôi ủ bèo hoa dâu, giữ ấm cho trâu, phân công ai khỏe cày ruộng sâu, ai yếu gánh mùn nhẹ. Mấy hôm nay làm việc đâu ra đấy, ai nấy đều phấn khởi vì thấy đất bãi Soi sống lại. Cán bộ bảo chúng tôi chia ruộng tư nhân là oan cho chúng tôi quá! Chúng tôi làm cho hợp tác xã, làm để có hạt bắp hạt đỗ cứu đói cho con em trong làng chứ chia chác cho ai!” Một bác xã viên đứng tuổi trong tổ cày bừa cũng bước lên, dõng dạc nói:“Thưa đồng chí Trưởng ban, tôi là thương binh thời chín năm chống Pháp, theo Đảng từ ngày kháng chiến. Tôi xin lấy danh dự người lính ra cam đoan: Đội 3 chúng tôi một lòng vì tập thể! Cái cọc tre chia ruộng tư hữu thời phong kiến chúng tôi đã nhổ đi từ ngày vào hợp tác, đời nào lại cắm lại xuống bãi bồi này!” Tiếng nói của bà con xã viên vang vọng giữa bãi Soi lộng gió, mộc mạc mà chân thực như chính đất đai sông Đáy. Ánh mắt cương trực của Trần Bình, vẻ điềm đạm đầy bản lĩnh tri thức của An, cùng sự bộc trực của những người nông dân chân lấm tay bùn đã tạo nên một bức tường thành vững chắc. Đồng chí Trọng từ từ phủi sạch lớp đất phù sa bám trên kẽ tay. Nét mặt nghiêm nghị của ông ta hoàn toàn giãn ra. Là một cán bộ thanh tra gắn bó nhiều năm với nông nghiệp, ông hiểu rõ sự khác biệt giữa một mô hình làm dối chờ hết giờ điểm công với một tập thể đang dốc cạn tâm huyết cho từng tấc đất. Trọng mở chiếc cặp da, toan rút cuốn sổ tay kiểm tra ra ghi nhận, thì từ trên mặt đê bỗng vang lên tiếng lách cách của xích líp xe đạp. Mọi người cùng ngước nhìn lên. Đồng chí Đỗ Luận, Trưởng công an xã An Hòa, đang gò lưng đạp chiếc xe Phượng Hoàng lao nhanh xuống dốc đê, phía sau chở đồng chí Bí thư Chi bộ phụ trách nông nghiệp của xã. Xe vừa chạm bờ đất, đồng chí Luận đã vội vã chống chân gạt, cùng đồng chí Bí thư rảo bước nhanh về phía bãi bồi. Nhận thấy không khí làm việc đông đúc của bà con xã viên, đồng chí Luận không hề hô hoán ồn ào mà khẽ ra hiệu, kín đáo mời Trưởng đoàn Trọng, Chủ nhiệm Khoát cùng vợ chồng Bình - An bước lui lại mé rặng tre bên bờ mương để trao đổi nội bộ. Tại góc bờ mương vắng, đồng chí Bí thư Chi bộ khẽ gật đầu để Trưởng công an xã mở chiếc cặp tài liệu kẹp bìa các-tông. Đồng chí Luận hạ thấp giọng, báo cáo rành rọt từng tình tiết: “Báo cáo đồng chí Trưởng đoàn thanh tra tỉnh, báo cáo đồng chí Bí thư Chi bộ và đồng chí Chủ nhiệm! Thực hiện chỉ đạo khẩn cấp của Đảng ủy xã từ sáng nay về việc xác minh nguồn gốc lá đơn nặc danh gửi lên Ủy ban tỉnh, Ban Công an xã chúng tôi vừa hoàn tất công tác giám định và đối chiếu tài liệu!” Đồng chí Luận rút ra hai tờ giấy đặt cạnh nhau trên mặt chiếc cặp da. Một bên là bức thư tố cáo viết bằng mực tím nhòe nhoẹt trên giấy vở học trò; bên kia là bản tự kiểm điểm và tường trình của Đặng Tiết, cựu đội phó Đội 1, vừa bị lập biên bản mấy hôm trước vì tội lén lùa trâu bệnh sang Đội 3 hòng phá hoại sản xuất. Đồng chí Luận chỉ rõ từng vết tích: “Xin các đồng chí xem xét: Nét chữ mực tím trong đơn tố cáo hoàn toàn trùng khớp từ nét móc gãy của chữ 't', nét vòng méo mó của chữ 'g' cho đến thói quen viết hoa tùy tiện của Đặng Tiết. Đặc biệt, loại mực tím pha lẫn nước mưa này chính là thứ mực trong lọ mực Cửu Long mà Công an xã vừa thu giữ tại bàn làm việc của Đặng Tiết trưa nay. Qua đấu tranh ban đầu, Đặng Tiết đã phải cúi đầu thừa nhận: vì cay cú việc bị cách chức và bị Đội 3 bắt quả tang hành vi xua trâu bệnh, hắn đã dựng đứng chuyện 'chia năm xẻ bảy bãi Soi' nhằm mượn tay đoàn thanh tra tỉnh triệt hạ đồng chí Khoát và vợ chồng đồng chí Bình - cô An!” Những lời báo cáo kín đáo nhưng đanh thép của đồng chí Trưởng công an xã đã bóc trần hoàn toàn manh tâm đê hèn của kẻ thoái hóa. Hai cán bộ thanh tra trẻ tuổi đứng cạnh thở phào nhẹ nhõm, nhìn nhau khẽ gật đầu. Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát đứng thẳng người dậy, lồng ngực phập phồng xúc động. Ông nhìn chiếc bút Kim Tinh nơi ngực áo mình, rồi nhìn sang An và Bình, hốc mắt đỏ hoe vì trút được gánh nặng sinh tử. Chân lý đã chiến thắng sự đố kỵ hẹp hòi. Mười lăm mẫu bãi Soi, niềm hy vọng cứu đói cho hàng trăm con người xã An Hòa, đã được bảo vệ trọn vẹn ngay giữa thanh thiên bạch nhật, bằng chính sự đàng hoàng và minh bạch của lòng dân! Đồng chí Trọng cầm hai tờ giấy lên đối chiếu rất kỹ dưới ánh nắng trưa. Đôi lông mày rậm của ông ta nhíu chặt lại rồi từ từ dãn ra. Ông gập mạnh tập hồ sơ lại, đưa trả cho đồng chí Luận, giọng nói trầm vang đầy dứt khoát: “Kẻ thoái hóa biến chất, phá hoại sản xuất tập thể lại còn vu khống đồng chí mình, Ban Công an xã phải hoàn tất hồ sơ chuyển thẳng lên Công an huyện xử lý nghiêm minh theo pháp luật! Tuyệt đối không thể dung túng cho những hành vi đê hèn như thế làm lung lay ý chí của bà con nông dân!” Ông Trọng quay sang nhìn ông Khoát, rồi đưa mắt nhìn vợ chồng Bình - An. Ánh mắt người cán bộ kiểm tra lâu năm không còn vẻ lạnh lùng xoi mói ban sáng, thay vào đó là sự nể phục và trân trọng sâu sắc. Ông ta bước tới, chủ động chìa bàn tay ấm áp ra nắm chặt lấy tay Trần Bình, rồi quay sang gật đầu với An: “Đồng chí Bình, cô An! Thay mặt Đoàn Thanh tra Nông nghiệp tỉnh, tôi xin biểu dương tinh thần trách nhiệm và tư duy tổ chức lao động rất khoa học của Đội 3 các đồng chí. Luân canh dải băng, tận dụng đạm vi sinh bèo hoa dâu, chuyên môn hóa lao động... đó là những sáng kiến rất táo bạo nhưng hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với tinh thần làm chủ tập thể của người nông dân xã hội chủ nghĩa. Tôi sẽ ghi nhận đầy đủ mô hình này vào biên bản kết luận thanh tra để báo cáo Thường vụ Tỉnh ủy và Ủy ban tỉnh làm điển hình thực nghiệm!” Bình nắm chặt bàn tay rắn rỏi của đồng chí Trọng, giọng anh xúc động: “Cảm ơn đồng chí Trưởng đoàn và các đồng chí đã về tận nơi thị sát, lắng nghe và thấu hiểu cho nỗi lòng của người lao động chúng tôi.” Từ phía bãi bồi, tiếng reo vui rộn rã của bà con xã viên vang lên khi thấy đoàn thanh tra vui vẻ bắt tay ban chỉ huy đội. Chị Đượm tươi cười vẫy nón, cánh thanh niên cày bừa thi nhau giơ cao cán roi trâu reo hò. Cờ đỏ trên ngọn tre càng phần phật bay cao, in bóng đỏ thắm xuống dòng sông Đáy biếc xanh. Thế nhưng, giữa lúc niềm vui đang dâng trào, đồng chí Trọng bỗng giơ tay ra hiệu cho mọi người giữ trật tự. Gương mặt ông ta lại trở nên nghiêm nghị, đôi mắt ánh lên nét đăm chiêu của một người đang gánh vác trọng trách lớn của tỉnh. Ông ta nhìn quanh một lượt, rồi kéo ông Khoát và vợ chồng Bình lại gần gò đất cao dưới chân cột cờ, hạ thấp giọng nhưng từng lời nói ra lại nặng như chì: “Các đồng chí Đội 3 và Ban Quản trị xã An Hòa! Vấn đề thanh tra bãi Soi coi như đã khép lại tốt đẹp. Nhưng hôm nay tôi về đây, ngoài việc kiểm tra theo đơn thư, còn có một nhiệm vụ đột xuất vô cùng khẩn cấp từ Thường trực Ủy ban tỉnh và Ty Ngoại thương giao phó.” Nụ cười trên môi ông Khoát chợt khựng lại. An và Bình đưa mắt nhìn nhau, trực giác mách bảo cô rằng một thử thách mới cam go hơn bội phần đang ập đến. “Báo cáo các đồng chí,” ông Trọng chậm rãi nói, giọng đượm vẻ căng thẳng, “chiều hôm qua, đoàn đại biểu thương mại của Cộng hòa Dân chủ Đức và Ba Lan vừa ký kết bổ sung với Bộ Ngoại thương một nghị định thư khẩn cấp. Họ yêu cầu chúng ta phải cung cấp một lô hàng thủ công mỹ nghệ mây tre đan cao cấp để kịp đưa lên chuyến tàu viễn dương rời cảng Hải Phòng vào đầu tháng sau. Tỉnh ta được phân bổ chỉ tiêu, và Ty Ngoại thương đã chỉ định xã An Hòa - nơi có truyền thống đan lát và vừa có Đội 3 đạt cờ thi đua - phải gánh vác phần việc nặng nề nhất.” Đồng chí Trọng dừng lại một nhịp, nhìn thẳng vào An: “Tỉnh quyết định giao thẳng cho Đội 3 của đồng chí Bình và cô An chỉ tiêu đột xuất: sản xuất hoàn chỉnh đúng một nghìn chiếc làn mây xuất khẩu loại A trong vòng hai mươi lăm ngày!” “Một... một nghìn chiếc làn mây? Trong hai mươi lăm ngày?” Ông Khoát thốt lên, mặt cắt không còn giọt máu. Chiếc bút máy nơi ngực áo ông suýt nữa rơi tuột xuống đất. Hai mươi lăm ngày cho một nghìn chiếc làn mây đạt chuẩn loại A xuất sang Đông Âu! Bình thường, một người thợ lành nghề vót mây, đan lát cật lực từ sáng sớm đến đêm khuya cũng chỉ hoàn thành được hai chiếc một tuần. Huống chi toàn bộ mây tre của Đội 3 hiện tại mới chỉ là những bó mây thô mua gom lẻ tẻ, bà con lại đang phải dồn toàn lực cho vụ cày ải bãi Soi! Chưa dừng lại ở đó, đồng chí Trọng nhìn thẳng vào mắt Bình, buông tiếp một mệnh lệnh sắt đá: “Đây là nhiệm vụ ngoại giao kinh tế đặc biệt để đổi lấy vật tư kỹ thuật cho tỉnh. Lãnh đạo tỉnh đã quán triệt: Nếu Đội 3 hoàn thành xuất sắc một nghìn chiếc làn mây đạt chuẩn xuất khẩu trước khi tàu nhổ neo, tỉnh sẽ cấp đổi ngay tại chỗ năm tấn phân lân, hai trăm mét vải cốt tông và ưu tiên tối đa hạn ngạch dầu hỏa thắp sáng cho vụ chiêm xuân của An Hòa. Nhưng... nếu các đồng chí để trễ hạn hoặc hàng không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu làm lỡ chuyến tàu viễn dương, gây tổn hại uy tín quốc gia, toàn bộ chỉ tiêu vật tư và phân bón ưu tiên của toàn xã An Hòa trong vụ này sẽ bị thu hồi toàn bộ để bù trừ thiệt hại ngoại thương!” Gió bấc từ mặt sông thổi thốc lên bờ bãi, lạnh buốt đến gai người. Không khí vừa mới hân hoan rực rỡ bỗng chốc đông cứng lại. Mấy cán bộ thanh tra trẻ tuổi cũng im lặng nín thở. Hai mươi lăm ngày nữa cũng là thời điểm bước vào mùa nồm ẩm cuối xuân của đồng bằng Bắc Bộ. Tiết trời ẩm ướt, mưa phùn dai dẳng là kẻ thù số một của mây tre đan: nan mây sẽ thâm xì, mốc xanh mốc đỏ từ trong ruột chỉ sau một đêm nếu không biết cách xử lý, làm sao có thể đạt chuẩn kiểm định khắt khe của chuyên gia Đông Âu? Đánh đổi toàn bộ vật tư phân bón của cả vụ lúa chiêm xuân của toàn xã lấy một chỉ tiêu dường như không tưởng! Ông Khoát run rẩy nhìn Bình, đôi môi mấp máy không thốt nên lời. Gánh nặng ngàn cân ấy một lần nữa lại giáng thẳng xuống đôi vai của vợ chồng người đội trưởng trẻ tuổi. Trần Bình siết chặt nắm tay, ngực phập phồng sau lớp áo chấn thủ sờn vai. Anh không vội trả lời, mà quay sang nhìn vợ. Giữa cơn gió hanh hao đang thổi tung những sợi tóc mai đen nhánh bên vành tai, Hoài An vẫn đứng đó, đôi mắt sáng ngời lấp lánh một ngọn lửa kiên định lạ thường. Ký ức về những công nghệ sấy đối lưu nhiệt độ thấp, phương pháp luộc mây khử chất đường tự nhiên bằng nước vôi trong và kỹ thuật xông khói thảo mộc bồ kết chống nấm mốc mà cô từng nắm vững ở thế kỷ hai mươi mốt lập tức cuộn trào, sắp xếp thành một quy trình hoàn chỉnh trong tâm trí. Cô nhìn thẳng vào đôi mắt đang chan chứa âu lo nhưng tràn đầy tin cậy của chồng, khẽ gật đầu dứt khoát. Bình hiểu ý vợ. Anh quay phắt lại đối diện với Trưởng ban Thanh tra Nông nghiệp tỉnh, giơ tay chào theo tác phong người lính quân đội nhân dân, giọng nói vang lên đanh thép giữa đất trời bãi Soi: “Báo cáo đồng chí Trưởng đoàn! Thay mặt Đội sản xuất số 3 xã An Hòa, chúng tôi xin nhận chỉ tiêu một nghìn chiếc làn mây xuất khẩu! Hứa với tỉnh: đúng hai mươi lăm ngày nữa, một nghìn sản phẩm loại A sẽ được bàn giao đầy đủ tại bến cảng, không thiếu một chiếc, không trễ một giờ!” , , vn, live , vn

Bạn cũng là tác giả hoặc dịch giả?

Đăng sáng tác hoặc bản dịch của riêng bạn lên Say Truyện — miễn phí, chỉ mất vài phút.

Đăng truyện ngay

Bình luận (0)

Đang tải bình luận...