Xuyên không thập niên 70

Chương30: Hạt mầm xé rào

Cỡ chữ
Ngọn đèn dầu Hoa Kỳ đặt trên góc bàn gỗ lim chập chờn theo từng cơn gió bấc lùa qua khe liếp. Đốm lửa hạt đỗ đỏ quạch, tỏa ra làn khói mảnh khảnh mang mùi dầu hỏa hăng nồng quen thuộc, hắt bóng hai người đàn ông lên vách đất trát rơm loang lổ. Bình đứng sững, hai bàn tay buông thõng bên hông bất giác siết chặt lại. Từng thớ cơ trên lồng ngực vạm vỡ của anh căng như dây cung. Đôi mắt người cựu chiến binh dán chặt vào dòng chữ viết hoa nắn nót bằng mực tím trên tập giấy bổi màu vàng sậm: “PHƯƠNG ÁN THỬ NGHIỆM GIAO ĐẤT BÃI VEN SÔNG CHO TỪNG NHÓM HỘ TỰ QUẢN LÝ VÀ CHỊU TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM (LƯU HÀNH NỘI BỘ - TUYỆT MẬT)” . Là một người lính từng đi qua bom đạn khốc liệt ở chiến trường Tây Nam, Bình hiểu rõ hơn ai hết cái giá của kỷ luật và những ranh giới vô hình thời hậu chiến. Trong bối cảnh cả nước đang gồng mình theo cơ chế quản lý tập trung cao độ, nơi mà từng cân thóc, mớ rau, giọt dầu hỏa đều được đong đếm bằng tem phiếu và công điểm, thì tập giấy mỏng manh nằm trước mặt anh chẳng khác nào một khối thuốc nổ cực mạnh. Nếu nội dung này lọt ra ngoài, nhẹ thì mất chức khai trừ, nặng thì bị quy vào tội phá hoại nền tảng kinh tế tập thể, mầm mống của tư tưởng tư bản tư doanh. “Chủ nhiệm…” Giọng Bình trầm đục, như bị nén lại trong lồng ngực. “Cái này… đồng chí có biết nếu huyện ủy hay trên tỉnh phát hiện ra thì hậu quả sẽ thế nào không?” Ông Bùi Đắc Khoát không vội trả lời. Ông kéo chiếc ghế đẩu chân tiện sứt mẻ ngồi xuống, ngón tay run rẩy rút một điếu thuốc lá Tam Đảo quấn sâu kèn, quẹt que diêm bùng lên ngọn lửa le lói. Làn khói thuốc xanh xao cuộn tròn trong không gian ngột ngạt của gian chái đình. “Tôi biết chứ. Tôi đâu có điếc, đâu có mù!” Giọng ông Khoát nghẹn lại, từng nếp nhăn sâu hoắm trên vầng trán hói rung rinh theo từng lời nói. “Mười mấy năm làm chủ nhiệm, tôi chỉ biết hô hào thi đua, đánh trống ghi tên, xuất quân rầm rộ cờ giong trống mở. Cứ ngỡ thế là tiến nhanh tiến mạnh. Nhưng rốt cuộc thì sao hả Bình? Đất bãi ven sông Đáy phù sa màu mỡ dầy hàng gang tay, vậy mà xã viên chỉ biết rong công làm dối. Đánh kẻng thì đủng đỉnh vác cuốc ra đồng, ngồi bờ đê hút thuốc lào tán gẫu đến trưa, cỏ bờ ruộng cao ngập đầu gối. Năm nào cũng làm bản báo cáo thi đua bóng bẩy, nhưng cuối năm chia công điểm thì mỗi công lao động chỉ đổi được vài lạng thóc lép!” Ông Khoát đập mạnh bàn tay gầy guộc xuống mặt bàn, làm chiếc chén con bằng sành nảy lên một tiếng “cạch” khô khốc. “Chú có nhìn thấy mấy đứa lính trẻ trên đoàn xe quân sự hôm nọ không? Bọn nó tuổi mười tám đôi mươi, lên biên giới đánh giặc mà mặt mũi phù thũng vì thiếu ăn, cắn củ sắn luộc mà mắt sáng rực. Còn dân làng mình thì sao? Giáp hạt đến nơi, nhà nào cũng vét đáy bồ, độn sắn củ mục đến đắng ngắt cuống họng. Trâu chết vì rét thì giấu giếm, sợ mất cờ thi đua. Con trâu còn quý hơn bát cơm của con người! Tôi già rồi, năm mươi hai tuổi đầu, vào sinh ra tử thời chống Pháp, chẳng lẽ lại cứ nhắm mắt làm ngơ nhìn cả cái xã An Hòa này lụn bại vì cái thói bình quân chủ nghĩa ấy mãi sao?” Ánh mắt người chủ nhiệm già hoe đỏ dưới làn khói thuốc. Không còn vẻ kẻ cả, hách dịch hay những câu khẩu hiệu sáo rỗng thường ngày, trước mặt Bình lúc này chỉ là một lão nông đầy day dứt và phẫn uất trước cái đói triền miên của xóm giềng. Bình kéo ghế ngồi đối diện với ông, bàn tay thô ráp khẽ chạm vào mép tập giấy bổi. Anh lật từng trang. Từng con số tính toán công điểm, định mức phân bón, hạt giống đều được ông Khoát cặm cụi ghi chép tỉ mỉ bằng thứ chữ học trò gãy gọn. “Đồng chí dự định làm thế nào?” Bình hỏi, ánh mắt đã lấy lại sự sắc bén, điềm tĩnh vốn có. Ông Khoát ghé sát lại, hạ giọng thì thào chỉ đủ hai người nghe thấy: “Năm mẫu đất bãi bồi ven sông Đáy phía cuối bãi Soi – nơi vừa rồi vợ chồng chú chỉ đạo dập dịch cho đàn trâu ấy. Mảnh đất đó trước nay hợp tác xã coi là đất phụ, canh tác thất thường, năm ăn năm thua vì sợ lũ tiểu mãn. Tôi muốn giao đứt năm mẫu này cho Đội 3 của chú. Không chấm công điểm theo kiểu 'đánh trống ghi tên' nữa! Đội chú tự chia thành từng nhóm ba đến năm hộ gia đình. Tự cày xới, tự gieo hạt, tự chăm sóc. Hợp tác xã sẽ ấn định một mức sản lượng tối thiểu phải nộp vào kho tập thể để làm nghĩa vụ nhà nước. Còn lại bao nhiêu dôi ra… các hộ tự chia nhau hưởng!” Trái tim Bình đập thình thịch trong lồng ngực. Đây chính là cách làm mà trong những đêm gác đê lạnh buốt, anh từng mơ hồ nghĩ tới nhưng không dám gọi tên. Đó là trả lại quyền tự chủ và mồ hôi nước mắt cho chính người cầm cày. Khi người ta biết củ khoai, bắp ngô mình nhổ lên sẽ trực tiếp lấp đầy nồi cơm của con cái mình, người ta mới dốc lòng dốc sức xới từng tấc đất. “Tại sao lại chọn Đội 3?” Bình nhìn thẳng vào mắt cấp trên. “Vì chỉ có chú và cái An mới làm nổi việc này!” Ông Khoát khẳng định chắc nịch. “Chú là thương binh, là đảng viên có uy tín, có bản lĩnh thép của người lính. Dân Đội 3 một lòng theo chú. Còn cái An… con bé đó không phải người bình thường. Cái đầu nó chứa toàn những điều kỳ diệu mà trường trung cấp nông nghiệp tỉnh cũng chẳng dạy nổi. Cách nó ủ bèo hoa dâu, chế men trấu giữ ấm cho trâu, rồi cứu cả đàn trâu Đội 1 vừa qua… đã chứng minh nó nhìn xa trông rộng hơn bất kỳ ai ở cái xã này. Năm mẫu bãi ấy rơi vào tay vợ chồng chú, tôi tin chắc lúa ngô sẽ trĩu hạt. Nếu thành công, đây sẽ là lối thoát cho toàn xã. Còn nếu đổ bể…” Ông Khoát ngừng lại, thở hắt ra một hơi dài, nụ cười cay đắng hiện lên trên môi: “Nếu đổ bể, trên huyện có truy cứu, tôi sẽ đứng ra nhận hết trách nhiệm. Tôi bảo là do tôi quan liêu chỉ đạo sai, không liên lụy đến chú và bà con. Tôi chấp nhận mất chức, về vườn làm ruộng!” Bình nhìn sâu vào đôi mắt trũng sâu của vị Chủ nhiệm già. Trong khoảnh khắc ấy, sự ngờ vực hoàn toàn tan biến, chỉ còn lại sự kính trọng đối với một người dám đem sinh mạng chính trị của mình ra để đánh cược với cái đói của nhân dân. “Không, thưa đồng chí,” Bình lắc đầu kiên quyết, giọng đanh như thép nguội. “Nếu đã làm thì cùng gánh. Tôi là đội trưởng, việc trên đồng đất Đội 3 tôi không thể phủi tay đứng ngoài. Nhưng phương án này của đồng chí còn quá sơ sài. Giao khoán kiểu này rất dễ bị quy là chia ruộng tư hữu hóa. Để tôi mang về bàn kỹ với nhà tôi. Cô ấy có kiến thức chuyên môn, sẽ tính toán đường đi nước bước sao cho kín kẽ nhất.” Ông Khoát mừng rỡ, gật đầu lia lịa rồi run rẩy thu tập giấy nhét vội vào tay Bình: “Cầm lấy! Đêm nay nghiên cứu kỹ rồi mai cho tôi hay. Nhớ đấy, sống để bụng, chết mang theo, tuyệt đối không được để lọt nửa lời ra ngoài!” * Gió đêm mùa đông rít từng hồi qua những rặng tre già ven đê. Màn sương mù dày đặc bốc lên từ mặt sông Đáy phủ một màu trắng đục mờ ảo khắp đường làng ngõ xóm. Bình giấu kỹ tập tài liệu vào trong chiếc áo trấn thủ lót bông dày cộp, chiếc mũ cối sụp thấp che khuất nửa khuôn mặt. Chân trái hơi nhói buốt do vết thương cũ gặp gió lạnh, nhưng bước chân anh vẫn thoăn thoắt, vững chãi băng qua bóng đêm đen đặc. Vừa bước qua chiếc cổng tre nhà mình, Bình đã thấy ánh đèn dầu ấm áp hắt ra từ ô cửa sổ gian giữa. Tiếng then cài kẽo kẹt mở ra, An đã đứng đó tự bao giờ. Cô khoác chiếc áo bông cỏ úa đã sờn vai, trên tay cầm chiếc đèn chai chắn gió. Nhìn thấy chồng về, khóe mắt An cong lên một nụ cười dịu dàng, nhưng ngay sau đó, đôi mắt thông minh của cô lập tức nhận ra vẻ nghiêm trọng khác thường trên gương mặt anh. “Anh vào nhà đi kẻo lạnh,” An thì thầm, nhanh chóng cài then cửa lại. “Em có hãm sẵn ấm nước gừng nấu mật mía trên bếp than, anh uống cho ấm người.” Bình không nói gì, nắm lấy bàn tay mảnh mai của vợ dắt vào gian buồng trong. Anh thổi tắt ngọn đèn ngoài hiên, chỉ để lại cây đèn dầu nhỏ vặn bấc liu riu trên chiếc chõng tre. “U ngủ say rồi chứ em?” Bình hỏi nhỏ. “U mệt nên ngủ từ sớm rồi anh,” An khẽ đáp, ánh mắt tò mò nhìn chiếc áo trấn thủ phồng lên của chồng. “Có chuyện gì hệ trọng ở hợp tác xã vậy anh? Mặt anh căng thẳng lắm.” Bình cởi cúc áo, cẩn thận rút tập giấy bổi đã hơi ấm hơi người ra đặt lên chõng. Anh kéo An ngồi xuống bên cạnh, nắm chặt lấy tay cô rồi thuật lại toàn bộ cuộc trò chuyện bí mật với ông Khoát ở đình làng. Căn buồng nhỏ chìm vào sự im lặng tuyệt đối, chỉ có tiếng gió lùa xào xạc trên mái rạ và tiếng than nổ lách tách từ gian bếp ngoài. Bình chăm chú quan sát nét mặt của vợ. Anh từng lo sợ An sẽ hoang mang, sẽ lo lắng trước sự nguy hiểm tột cùng của việc “xé rào” này. Nhưng trái ngược hoàn toàn với dự đoán của anh, đôi mắt An bỗng sáng rực lên một ngọn lửa kỳ lạ. Là một người đến từ thế kỷ 21, An hiểu quá rõ ý nghĩa lịch sử của thời khắc này. Đây chính là những đốm lửa đầu tiên nhen nhóm cho cuộc cách mạng “Khoán 100” rồi “Khoán 10” sau này – một bước ngoặt vĩ đại giải phóng sức sản xuất của hàng triệu nông dân Việt Nam, xóa bỏ vĩnh viễn bóng ma đói nghèo của thời bao cấp. Những con người dũng cảm như ông Khoát, như Bình chính là những người anh hùng thầm lặng dám đi trước thời đại. “Anh Bình… đây không phải là cái bẫy, mà là một cơ hội trời cho!” An nắm chặt lấy bàn tay thô ráp của chồng, giọng cô run lên vì xúc động. “Chúng ta phải làm! Nhất định phải làm!” Bình thoáng ngạc nhiên trước thái độ dứt khoát của vợ: “Em không sợ sao? Nếu trên huyện hay thanh tra tỉnh biết được, chúng ta sẽ mất hết. Thậm chí anh…” “Em không sợ!” An ngắt lời chồng, ánh mắt kiên định nhìn thẳng vào anh. “Chiến tranh anh còn không sợ chết, bom đạn Tây Nam anh còn vượt qua được, chẳng lẽ về giữa hòa bình lại để người dân mình chết vì đói? Nhìn bát cơm của u chỉ toàn khoai sẹo với rau má, nhìn con chị Đượm khát sữa khóc ngằn ngặt, lòng em đau như cắt. Đất đai là mẹ nuôi sống con người, giam cầm đất đai trong cơ chế xơ cứng mới là có tội!” Bình nhìn người vợ trẻ, trong lòng dâng lên một niềm tự hào và cảm phục khôn xiết. Người phụ nữ này luôn như vậy, dịu dàng như dòng nước nhưng bên trong lại ẩn chứa một ý chí kiên cường và tầm nhìn vượt bậc. “Nhưng phương án của bác Khoát còn thô sơ quá,” An kéo cây đèn dầu lại gần, lấy cuốn sổ tay và cây bút chì từ túi áo ra. “Nếu chỉ nói 'giao đất tự làm tự ăn' thì rất dễ rơi vào tình trạng mạnh ai nấy làm, dẫn đến tranh chấp nguồn nước, phân bón, rồi người ngoài nhìn vào sẽ thấy ngay là chia ruộng tư hữu. Chúng ta phải tổ chức lại thành một quy trình khoa học, gọi là 'Khoán sản phẩm đến nhóm hộ'!” Ngòi bút chì của An thoăn thoắt vạch lên trang giấy trắng những nét vẽ rành mạch: “Thứ nhất, năm mẫu đất bãi Soi vẫn thuộc quyền sở hữu tối cao của Hợp tác xã, tuyệt đối không được xé lẻ quyền sử dụng đất. Chúng ta chỉ khoán khâu chăm sóc và thu hoạch cuối cùng.” “Thứ hai, hợp tác xã chịu trách nhiệm các khâu lớn mang tính tập thể: làm đất bằng cày máy hoặc trâu kéo tập trung của Đội 3, cung ứng giống thuần chủng và điều tiết nước tưới tiêu. Còn các khâu: gieo trồng, làm cỏ, bón phân vi sinh, bảo vệ mùa màng và thu hoạch sẽ giao đứt cho từng nhóm hộ gia đình chịu trách nhiệm.” “Thứ ba, quan trọng nhất là định mức giao nộp. Đội 3 sẽ cam kết nộp đủ chỉ tiêu sản lượng lúa ngô cho hợp tác xã theo đúng kế hoạch của huyện giao phó, thậm chí vượt năm phần trăm để bác Khoát có cớ báo cáo thành tích. Phần sản lượng vượt khoán còn lại, hợp tác xã sẽ trả công toàn bộ cho nhóm hộ trực tiếp làm ra bằng chính hiện vật đó! Người làm nhiều hưởng nhiều, người làm ít hưởng ít. Như vậy vừa không thất thoát một hạt thóc nào của nhà nước, vừa k*ch th*ch bà con dốc sức làm ngày làm đêm!”Bình chăm chú lắng nghe từng lời của An, đôi mắt anh dần bừng sáng. Những khúc mắc, lo ngại trong đầu anh bấy lâu nay bỗng chốc được tháo gỡ hoàn toàn. Cách làm của An quá chặt chẽ, vừa giữ được cái vỏ bọc “tập thể” để đối phó với cấp trên, vừa giải phóng được thực chất sức lao động và quyền lợi của người nông dân. “Tuyệt vời…” Bình khẽ thốt lên, siết nhẹ bờ vai An. “Đúng là không ai qua được cái đầu của vợ anh! Có phương án này, bác Khoát chắc chắn sẽ yên tâm tuyệt đối.” “Nhưng việc này cần sự đồng lòng sống chết của bà con Đội 3,” An ngước nhìn chồng, nét mặt chùng xuống đầy âu lo. “Chỉ cần một người dao động, một lời xì xào lọt ra ngoài tai phe bà Phó Tươi hay Đặng Tiết, là chiếc còng số tám sẽ ập đến ngay.” Bình đứng dậy, ánh mắt ánh lên vẻ kiên định của một người chỉ huy trận địa: “Đội 3 cùng anh chia ngọt sẻ bùi bao năm qua. Vừa rồi em cứu trâu cho cả làng, bà con đội ơn em như trời biển. Họ nghèo nhưng họ có nghĩa khí. Ngay đêm mai, anh sẽ triệu tập một cuộc họp chi bộ mở rộng của các hộ nòng cốt Đội 3. Sống cùng sống, chết cùng chết, chúng ta phải nhóm lên ngọn lửa này!” * Đêm hôm sau, trăng thượng tuần đã lặn từ sớm. Làng An Hòa chìm sâu vào giấc ngủ li bì sau một ngày lao động nhọc nhằn dưới cái rét cắt da cắt thịt. Khoảng mười một giờ đêm, từng bóng đen lặng lẽ trườn qua những ngõ nhỏ ngoằn ngoèo, men theo bờ rào râm bụt tiến về phía gian nhà ba gian của vợ chồng Bình. Họ đi chân đất hoặc mang dép cao su mềm, không ai cất tiếng gọi, chỉ gõ nhẹ ba tiếng “cộc, cộc, cộc” lên then cửa gỗ. Trong gian nhà kín mít được chèn rơm xung quanh các khe liếp để ngăn ánh sáng lọt ra ngoài, hơn mười con người đang ngồi quây quần bên chiếc nong lớn đặt giữa nhà. Đó là những trụ cột của Đội 3: bác Cả Đoan – lão nông tri điền nhiều kinh nghiệm nhất làng; chị Đặng Thị Đượm – xởi lởi nhưng gan dạ có tiếng; anh Vượng thợ rèn; thím Thi góa bụa nuôi ba con nhỏ… và bà cụ Mẫn ngồi lặng lẽ ở góc giường, chuỗi tràng hạt bằng gỗ mun lần đều trên tay, đôi mắt già nua dõi theo từng đứa con với niềm thương cảm vô bờ. Cây đèn dầu Hoa Kỳ được An hạ bấc xuống thấp nhất, chỉ tỏa ra một quầng sáng mờ ảo soi rõ những gương mặt hốc hác, sạm đen vì nắng gió và những đôi mắt trũng sâu vì đói cơm. Bình đứng trước mặt bà con, giọng anh trầm xuống, chậm rãi và rành rọt từng chữ: “Thưa các bác, các cô chú, các anh chị em. Đêm nay tôi triệu tập mọi người về đây trong cảnh tối tăm vụng trộm này, không phải để chia phần ngô phần sắn, mà là để bàn một chuyện hệ trọng liên quan đến miếng cơm manh áo, thậm chí là sinh mạng của cả Đội 3 chúng ta.” Không gian tĩnh mịch đến mức nghe rõ cả tiếng muỗi vo ve và tiếng thở dài nén lại của bác Cả Đoan. Bình không giấu giếm bất cứ điều gì. Anh vạch trần toàn bộ sự bế tắc của cách làm ăn tập thể hiện tại, trình bày cặn kẽ đề xuất liều lĩnh của Chủ nhiệm Khoát và phương án “khoán sản phẩm” mà An đã dày công thức trắng đêm phác thảo. “Năm mẫu đất bãi Soi sẽ được giao về cho các hộ,” Bình nhìn thẳng vào từng gương mặt thân quen. “Mỗi nhóm ba hộ nhận một khoảnh. Cày sâu cuốc bẫm, ngày làm chưa đủ thì thắp đuốc làm đêm. Phân trùn quế, bùn ao, bèo dâu ủ men… cái An sẽ hướng dẫn tận tình. Chúng ta nộp đủ chỉ tiêu cho xã, còn lại hạt ngô củ khoai nào thừa ra, các bác các chị mang về nuôi con!” Một tiếng xôn xao nho nhỏ bùng lên rồi nhanh chóng bị dập tắt bởi cái khoát tay của Bình. “Nhưng tôi phải nói trước!” Bình nghiêm giọng, ánh mắt lóe lên tia nhìn sắc lạnh. “Đây là việc xé rào, là 'khoán chui'. Trước pháp luật thời điểm này, nó bị coi là vi phạm đường lối, là tội tàng trữ tư tưởng làm ăn cá thể. Nếu bại lộ, nhẹ thì đi tù, nặng thì mất hết danh dự. Tôi là đội trưởng, tôi đứng mũi chịu sào. Nhưng nếu trong số bà con ngồi đây, ai sợ liên lụy, ai không dám làm, xin cứ bước ra khỏi cửa ngay lúc này. Tôi coi như chưa từng nói gì và không một ai trách cứ!” Một khoảng lặng nghẹt thở bao trùm gian nhà. Gió bấc rít liên hồi ngoài bờ chuối, như thử thách lòng can đảm của những con người bần hàn. Bất ngờ, chị Đượm – người đàn bà vốn hay cười nói giòn tan – bỗng gạt phắt giọt nước mắt lăn trên gò má tròn trịa. Chị đập tay xuống chiếc nong tre, giọng nghẹn ngào nhưng đanh thép: “Chú Bình nói cái gì thế? Chú coi thường chị em chúng tôi quá! Đói rã họng ra đây này, con cái chú nhìn xem, đứa nào đứa nấy xanh xao như tàu lá chuối, bụng ỏng đít teo vì ăn sắn độn mì mạch. Có đất màu mỡ mà không được cày cấy cho ra hồn, cứ ngồi chờ chia công điểm chết đói thì mới là nhục! Chú Bình, cô An đã vì dân Đội 3 mà lao tâm khổ tứ, cứu từng con trâu, từng bát cháo, giờ mở ra cho chúng tôi một con đường sống… Đứa nào hèn nhát lùi bước, đứa nào hé răng nửa lời làm hại chú thím, thì cả họ nhà nó muôn đời không ngẩng mặt lên được!” “Đúng đấy chú Bình!” Bác Cả Đoan run rẩy cất tiếng, đôi bàn tay gân guốc chai sần run lên bần bật. “Tôi làm ruộng từ thuở chín mười tuổi, chưa bao giờ thấy cảnh nông dân sợ đất, sợ lúa như bây giờ. Nghe cô An tính toán, tôi thấy sáng cái mắt, mở cái bụng ra. Đất bãi Soi cát pha phù sa, cấy giống ngô lai ngắn ngày kết hợp đỗ tương của cô An, chăm bón bằng phân ủ bèo dâu thì chỉ ba tháng là bắp to như bắp tay! Tôi theo! Già này gần đất xa trời rồi, có đi tù vì kiếm hạt gạo cho đàn cháu thì tôi cũng thanh thản!” Từng cái gật đầu dứt khoát. Từng ánh mắt rực lửa. Trong bóng tối của gian nhà tranh vách đất, sự sợ hãi bị xua tan hoàn toàn, nhường chỗ cho bản năng sinh tồn quật khởi và tình đoàn kết máu thịt của những người lao động cùng khổ. An bước tới, trải một tờ giấy bổi lớn lên mặt nong. Trên đó, cô đã nắn nót viết sẵn bản cam kết ngắn gọn bằng thứ mực tím đậm: “Chúng tôi, những xã viên Đội sản xuất số 3, xin thề trước lương tâm và đồng đất: Đồng lòng gánh vác năm mẫu bãi bồi, làm tròn nghĩa vụ lương thực với nhà nước, chia ngọt sẻ bùi cùng nhau. Sống cùng hưởng, hoạn nạn cùng chịu, tuyệt đối giữ kín như bưng, trọn đời che chở cho nhau.” Bình rút từ thắt lưng ra một con dao nhíp nhỏ dùng gọt mây tre, cùng một đĩa mực tàu mài sẵn. “Không cần cắt máu ăn thề,” Bình trầm giọng nói, “nhưng mỗi người hãy đặt dấu tay của mình vào đây. Dấu tay này là danh dự, là sinh mạng của cả Đội 3!” Bác Cả Đoan là người đầu tiên bước lên. Lão nông già run run ấn ngón tay cái thô ráp, nứt nẻ vì phèn chua vào đĩa mực, rồi dập mạnh xuống góc giấy bổi. Một dấu vân tay màu đen sẫm in hằn lên trang giấy, vững chãi như một hòn đá tảng. Tiếp theo là chị Đượm, anh Vượng, thím Thi… Mười hai con người, mười hai dấu điểm chỉ đen nhánh lần lượt hiện lên xung quanh bản giao ước. Những giọt nước mắt âm thầm rơi xuống, thấm vào từng thớ giấy bổi thô ráp. Đó không phải là nước mắt của sự yếu đuối, mà là những giọt nước mắt trút bỏ nỗi sợ hãi, đánh dấu sự hồi sinh của niềm tin và khát vọng tự do lao động. Cuối cùng, Bình và An cùng đặt ngón tay của mình vào chính giữa tờ giấy, bên cạnh chữ ký ngay ngắn của hai vợ chồng. Bà cụ Mẫn từ nãy đến giờ vẫn ngồi im lặng, lúc này chậm rãi bước lại gần chiếc nong. Bà cụ không nói một lời, chỉ đưa bàn tay gầy guộc run rẩy v**t v* từng mái đầu của các con, rồi lấy ra một mảnh vải dù hoa nhặt được từ thời chiến tranh, cẩn thận bọc kín tờ cam ước lại nhiều lớp. “Đưa cho u,” giọng bà cụ móm mém nhưng rành rọt lạ thường. “Cái này cứ để u cất. Dưới bệ thờ tổ tiên nhà họ Trần có một viên gạch non tháo ra được. U đặt nó vào đấy, ngày đêm nhang khói xin tổ tiên che chở cho các con, cho cả cái làng này thoát khỏi cảnh lầm than.” Bình nghẹn ngào đỡ lấy tay mẹ, nhìn tấm vải dù hoa biến mất sau tấm rèm điều che bệ thờ gia tiên trầm mặc. Một cảm giác thiêng liêng và thanh thản lạ kỳ dâng ngập tâm hồn anh. Trận chiến mới đã bắt đầu, một trận chiến không tiếng súng nhưng cam go không kém gì chiến trường năm xưa, và anh biết, mình không bao giờ đơn độc. * Trời vừa tờ mờ sáng. Màn sương muối dày đặc bao phủ khắp cánh đồng An Hòa, đọng lại trên những ngọn cỏ thành từng giọt nước lạnh buốt như băng. Tiếng gà gáy le te đầu xóm vừa dứt, Bình đã thức dậy ra giếng khơi múc gàu nước lạnh rửa mặt cho tỉnh táo. Trong bếp, An đang thoăn thoắt đỏ lửa, mùi ngô luộc thơm nức quyện với khói rơm rạ ấm áp lan tỏa khắp gian nhà. Cuộc họp đêm qua diễn ra êm thấm, bà con đã tản về từ lúc ba giờ sáng mà không đánh động một con chó nào trong xóm. Kế hoạch ra bãi Soi làm đất đợt một đã được lên lịch chi tiết vào trưa nay, khi sương tan. Bỗng nhiên, từ phía đầu đường liên xã nối với quốc lộ 6, một âm thanh lạ hoắc gầm rú xé toạc bầu không khí tĩnh mịch của buổi sớm mai. “Bíp! Bíp! Bíp!” Tiếng còi hơi vang lên dồn dập, gắt gỏng và chói tai – thứ âm thanh mà cả năm họa hoằn lắm người dân An Hòa mới được nghe một lần khi có đoàn xe của lãnh đạo cấp cao về công tác. Bình buông chiếc khăn mặt, tim thắt lại một nhịp. Anh bước vội ra bờ rào râm bụt nhìn về phía cổng làng. Xuyên qua màn sương mù trắng xóa, một chiếc xe con Volga màu đen bóng lộn, bốn bánh bám đầy bùn đất đỏ quạch nhưng thân xe láng cóc, đang lầm lũi rẽ màn sương tiến thẳng vào làng. Ở đầu mũi xe, bên cạnh chiếc đèn pha tròn xoe, một lá cờ đỏ thêu dòng chữ viền vàng bay phần phật trong gió bấc: “ĐOÀN THANH TRA ĐẶC BIỆT – ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HÀ SƠN BÌNH” Chiếc xe không hề giảm tốc độ, lướt qua những ánh mắt ngơ ngác, kinh hoàng của mấy bà gánh rau đi chợ sớm, hướng thẳng về phía trụ sở Ủy ban Xã và sân đình Hợp tác xã An Hòa. Bình đứng chết lặng giữa làn sương lạnh buốt, hai bàn tay siết chặt đến mức móng tay găm sâu vào lòng bàn tay. Tập giấy khoán chui vừa mới được giấu dưới bệ thờ gia tiên chưa đầy ba canh giờ, cớ sao đoàn thanh tra của tỉnh lại bất ngờ ập xuống vào đúng cái giờ khắc trớ trêu này? , , vn, live , vn

Bạn cũng là tác giả hoặc dịch giả?

Đăng sáng tác hoặc bản dịch của riêng bạn lên Say Truyện — miễn phí, chỉ mất vài phút.

Đăng truyện ngay

Bình luận (0)

Đang tải bình luận...