Xuyên không thập niên 70

Chương45: Mảnh đạn nở hoa

Cỡ chữ
Màn sương sớm bảng lảng quanh những túp ngải cứu dại nơi chân tường đình làng An Hòa dường như đông cứng lại trong khoảnh khắc người sĩ quan Tỉnh đội cất tiếng. Chiếc xe com-măng-ca phủ đầy bụi đỏ đường trường vẫn còn nổ máy cầm chừng ở mép sân gạch, phả ra mùi khói dầu khen khét hòa cùng hơi ẩm nồng nặc của tiết trời giáp hạt. Lớp bùn đất quánh đặc bám chặt lấy bốn vè xe, minh chứng cho một chặng đường dài vượt qua những cung đèo gập ghềnh từ vùng duyên hải Đông Bắc trở về châu thổ. Cả trăm con người nín thở. Tiếng gió bấc thổi qua những tán bàng trơ trụi bỗng chốc trở nên rờn rợn, sắc lẻm như cứa vào da thịt. An cảm nhận rõ từng thớ thịt trên bả vai chị Đượm đang co giật liên hồi. Những ngón tay thô ráp, sần sùi của người đàn bà quanh năm lội bùn cấy lúa cấu chặt vào nếp áo bà ba của cô đến mức gân mu bàn tay hằn lên xanh ngắt. Đượm không dám thở mạnh, đôi mắt dại đi, hàm răng va vào nhau lập cập từng hồi khô khốc. “Quảng Ninh... Pò Hèn...” — hai tiếng ấy đối với Đượm lúc này chẳng khác nào chiếc thòng lọng vô hình siết nghẹt lấy cuống họng. Bình bước nhanh xuống bậc tam cấp, vóc người cao lớn trong bộ quân phục K-74 sẫm màu che chắn ngay trước mặt An và chị Đượm như một bức tường thành vững chãi. Anh dập gót chân khập khiễng, đưa tay lên vành chiếc mũ cối còn thơm mùi sơn mới, chào theo đúng điều lệnh quân đội: “Báo cáo đồng chí phái viên! Tôi là Thượng sĩ dự bị Trần Bình, phụ trách khung huấn luyện tân binh xã An Hòa. Xin đồng chí cho biết tình hình đồng đội của chúng tôi!” Người cán bộ Tỉnh đội — một Thiếu úy trạc ngoài ba mươi, gương mặt sạm đen vì nắng gió thao trường — nhìn chiếc phù hiệu thương binh cài khiêm nhường bên ngực áo của Bình, ánh mắt nghiêm nghị thoáng chốc dịu lại đôi phần. Anh mở nắp chiếc cặp da Liên Xô sờn mép, rút ra một phong bì viền xanh đỏ có đóng dấu tròn đỏ au của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Ninh kèm hai chữ “HỎA TỐC” in nghiêng bằng mực tím. “Đồng chí Bùi Trực, Huyện đội trưởng và Ban chỉ huy Dân quân xã An Hòa chú ý tiếp nhận thông báo quân bưu!” — Người cán bộ dõng dạc, giọng nói sang sảng át cả tiếng gió đồng nội. — “Về trường hợp của Trung sĩ Đặng Văn Cán, chiến sĩ Đồn Công an vũ trang Pò Hèn, nguyên quán xã An Hòa, huyện Chương Mỹ!” Chị Đượm nghe thấy tên chồng liền lảo đảo, hai đầu gối khuỵu xuống như muốn sụp đổ. An phải vòng cả hai tay, dùng hết sức bình sinh ghì chặt lấy hông chị, lồng ngực cô cũng thắt nghẹn lại vì hồi hộp khôn xiết. Đứa con chưa đầy mười tuần tuổi trong bụng dường như cũng thấu suốt được cơn chấn động tâm lý của người mẹ, khiến phần bụng dưới khẽ nhói buốt lên từng cơn ran rát, lạnh râm ran dọc sống lưng. “Rạng sáng ngày mười bảy tháng hai, khi quân địch dùng pháo hạng nặng bắn phá dữ dội và ồ ạt tràn qua biên giới, Trung sĩ Đặng Văn Cán cùng tiểu đội đã kiên cường bám trụ công sự, đánh bật bốn đợt xung phong của đối phương tại mỏm đồi Thập Bát...” — Viên sĩ quan dừng lại một nhịp, lướt mắt qua khuôn mặt trắng bệch, thất thần của Đượm rồi cất cao giọng đọc tiếp — “Trong trận đánh giáp lá cà giữ chốt, đồng chí Cán bị một mảnh pháo phạt nát bắp chân trái và gãy xương đùi do sập hầm kèo.” “Trời đất ơi... Nhà tôi ơi...” — Đượm nghẹn ngào bật thốt một tiếng xé ruột, hai tròng mắt trợn trừng, nước mắt tuôn xối xả qua những rãnh nhăn nheo nơi gò má rám nắng. “Nhưng!” — Người cán bộ Tỉnh đội bỗng nhấn mạnh âm sắc, thanh âm trầm ấm hẳn lên — “Nhờ sự chi viện kịp thời của trung đoàn bộ binh chủ lực và đồng bào người Dao địa phương, đồng chí Cán cùng sáu thương binh nặng đã được chuyển thương qua làn hỏa lực, vượt vòng vây an toàn về tuyến sau. Chiều qua, Bệnh xá Tiền phương Quân khu Đông Bắc đã hoàn thành ca phẫu thuật cưa bỏ phần cẳng chân hoại tử. Hiện tính mạng đồng chí Cán đã qua cơn nguy kịch, mạch và huyết áp ổn định, đã tỉnh táo uống được hai bát cháo hoa!” Một khoảng lặng sững sờ kéo dài đúng vài giây giữa sân đình làng An Hòa. Rồi bỗng nhiên, một tiếng nấc nghẹn ngào bật tung ra từ lồng ngực chị Đượm, hóa thành tiếng khóc òa dữ dội vang vọng khắp không gian cổ kính. Chị buông thõng hai cánh tay, ngã quỵ hẳn xuống mặt sân gạch nghiêng, ôm chầm lấy hai chân An mà dập đầu, nước mắt nước mũi nhòe nhoẹt thấm ướt cả gấu quần nâu sồng: “Sống rồi... An ơi, u ơi... Nhà tôi sống rồi! Cụt một bên chân cũng được, què quặt tôi nuôi... Tôi làm ruộng, tôi gánh phân nuôi ông ấy cả đời... Miễn là còn cái mạng trở về với mẹ con tôi... Trời Phật rủ lòng thương rồi!” Cả sân đình như vỡ òa trong một làn sóng cảm xúc hỗn độn. Những bà mẹ có con tòng quân đứng phía sau bất giác thở phào một hơi dài, những giọt nước mắt lăn dài trên khóe mắt sưng mọng. U Mẫn đứng cạnh An vội vàng lần tràng hạt bằng gỗ thị giấu trong túi áo cánh, miệng lầm rầm niệm Phật, đôi bàn tay gầy guộc chắp lại run rẩy hướng lên nền trời mù sương. An quỳ xuống, ôm chặt lấy bờ vai đang rung bần bật của Đượm. Nước mắt cô cũng ứa ra tự lúc nào, vừa cay xè nơi khóe mi, vừa ấm áp một nỗi niềm cảm tạ cuộc đời sâu sắc. Trong cái thời buổi bom rơi đạn lạc, sự sống và cái chết mỏng manh như sợi chỉ trước gió, việc một người lính giữ chốt Pò Hèn bị thương nặng mà vẫn giữ được tính mạng trở về hậu phương đã là một phép màu lớn lao nhất của tình đồng đội và sự đùm bọc của nhân dân. Qua làn nước mắt mờ nhạt, An ngước nhìn lên bậc tam cấp sân đình. Bình vẫn đứng sừng sững ở đó, vóc người cao lớn như tạc vào nền đình rêu phong. Cô thấy rõ lồng ngực anh phập phồng dữ dội dưới làn áo trấn thủ dã chiến, những ngón tay rám nắng siết chặt lấy quai chiếc ba lô con cóc đến mức nổi rõ từng đường gân xanh. Ánh mắt anh ngước nhìn lên bầu trời quê hương xám xịt — nơi những cánh chim mùa xuân đang chao lượn về phương Bắc — trĩu nặng một nỗi xót xa khôn cùng lẫn sự kiêu hãnh âm thầm. Là người vợ đầu gối tay ấp, An thấu hiểu tường tận nỗi niềm đang cuộn trào trong lồng ngực người lính ấy. Bình từng trải qua sinh tử nơi chiến trường Tây Nam, từng tận mắt chứng kiến đồng đội ngã xuống và tự mình mang vết thương đạn sượt ở bắp chân trái trở về. Anh hiểu sâu sắc rằng một mảnh xương thịt bỏ lại nơi biên ải là nỗi đau tật nguyền theo suốt cả một kiếp người, nhưng đó cũng là cái giá thiêng liêng để đổi lấy sự vẹn tròn của từng tấc đất bờ cõi non sông. Chờ cho tiếng khóc nghẹn ngào của Đượm vơi bớt, người sĩ quan Tỉnh đội thứ hai bước lên phía trước bục danh dự, mở chiếc cặp tài liệu công vụ bọc vải bạt, hướng về phía Chỉ huy trưởng Huyện đội Bùi Trực và Ban Quản trị hợp tác xã: “Báo cáo các đồng chí lãnh đạo địa phương! Đi kèm với thông tin chiến sự, Bộ Tư lệnh Quân khu 3 và Ban Chỉ huy Quân sự tỉnh Hà Sơn Bình có công điện điều động nhân sự khẩn cấp số 04.” Bình giật mình, theo phản xạ đứng nghiêm, hai gót chân chụm lại dứt khoát. Bàn tay anh vô thức đưa lên tì nhẹ vào nếp áo trấn thủ, nơi chiếc túi cứu thương bằng vải hoa xanh An may đêm trước vẫn đang áp sát lồng ngực ấm nóng. Anh đã chuẩn bị sẵn sàng tâm thế bước lên chuyến tàu Thường Tín để chi viện cho tuyến phòng ngự Quân đoàn 14 ngay trong buổi sớm hôm nay. Viên sĩ quan dõng dạc đọc từng lời: “Xét thành tích đặc biệt xuất sắc của xã đội An Hòa trong đợt huy động, sấy khô và bảo quản thần tốc 50 tấn thóc quân lương loại A đạt chuẩn tuyệt đối bàn giao cho Quân đoàn chi viện; xét kinh nghiệm chiến trường và năng lực tổ chức tác chiến thực tế qua đợt diễn tập huấn luyện 50 tân binh phòng thủ chiều sâu... Ban Thường vụ Huyện ủy và Huyện đội Chương Mỹ quyết định: Chuẩn y giữ đồng chí Thượng sĩ dự bị Trần Bình ở lại địa phương, chính thức bổ nhiệm chức danh Xã đội trưởng chuyên trách xã An Hòa!” Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát trố mắt kinh ngạc, chiếc bút máy Kim Tinh nơi túi áo bốn túi suýt nữa rơi tuột xuống nền gạch: “Giữ lại... giữ lại đồng chí Bình ở hậu phương ư?” “Đúng vậy!” — Chỉ huy trưởng Huyện đội Bùi Trực bước lên, tiếp lời một cách dứt khoát và đanh thép — “Chiến trường phía Bắc đang bước vào giai đoạn quyết liệt, nhưng hậu phương vùng châu thổ sông Đáy là yết hầu bảo đảm lương thực và thế trận dự bị trọng yếu của Quân khu 3. Chúng ta không thể đưa toàn bộ cán bộ khung có kinh nghiệm trận mạc ra phía trước mà bỏ trống địa bàn tác chiến phòng thủ cơ sở. Đồng chí Trần Bình có trách nhiệm ở lại, vừa trực tiếp chỉ huy mạng lưới dân quân tự vệ củng cố công sự chiến đấu, vừa cùng Ban Quản trị Hợp tác xã bảo đảm vụ lúa chiêm xuân đạt chỉ tiêu thu mua chi viện tối đa. Đây là mệnh lệnh tác chiến của cấp trên!” Bình sững sờ. Đôi mắt cương nghị của người cựu chiến binh dạn dày sương gió thoáng dao động. Anh quay đầu nhìn xuống góc rặng bàng cổ thụ. Nơi đó, An đang đỡ chị Đượm đứng dậy. Giữa đám đông xao xác, ánh mắt cô bắt gặp ánh nhìn của anh. Trong đôi mắt sáng trong veo của An không hề có sự nhẹ nhõm ích kỷ của một người phụ nữ vừa giữ được chồng ở lại bên mình, mà chan chứa sự thấu hiểu sâu sắc, niềm tin cậy tuyệt đối và cả sự sẻ chia gánh nặng nghìn cân sắp tới. An khẽ mỉm cười, một nụ cười dịu dàng như đóa hoa bưởi đầu mùa vừa hé nở sau cơn mưa dầm giá buốt. Bình giơ tay chào dứt khoát: “Xin chấp hành mệnh lệnh! Tôi xin hứa sẽ giữ vững vành đai phòng thủ An Hòa, không để thiếu hụt một cân thóc, một tân binh chi viện cho tiền tuyến!” Tiếng trống ngũ liên một lần nữa lại vang lên giòn giã, thúc giục non sông. Năm mươi tân binh trẻ tuổi, ánh mắt rực lửa nhiệt huyết sau một tuần được Bình truyền thụ kỹ năng chiến hào và kinh nghiệm sinh tồn dã chiến, đồng loạt hô vang khẩu hiệu “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh!”, rồi chỉnh tề bước qua cổng đình làng, hành quân ra bến đò sông Đáy để tiến về phía ga Thường Tín. * Những ngày đầu tháng Ba năm 1979, cục diện chiến trường biên giới phía Bắc bắt đầu có những chuyển biến mang tính bước ngoặt. Trước đòn phản công dũng mãnh, kiên cường của quân và dân ta trên toàn tuyến từ Lạng Sơn, Cao Bằng cho đến Hoàng Liên Sơn, đối phương buộc phải tuyên bố rút quân về bên kia biên giới. Dẫu cho những loạt pháo kích khiêu khích vẫn còn rền rĩ nơi các cao điểm hiểm trở, dẫu cho mùi khói súng biên viễn chưa thể tan biến trong một sớm một chiều, nhưng bầu không khí ngột ngạt bao trùm cả vùng quê đồng bằng bấy lâu đã bắt đầu hạ nhiệt. Dưới bến đò sông Đáy, dòng nước đục ngầu phù sa mùa xuân chầm chậm xuôi về hạ lưu, cuốn theo những bè mảng nứa chở tre luồng phục vụ công sự của quân đội. Làng An Hòa như vừa bước qua một cơn sốt rét rừng dữ dội, người dân hối hả quay trở lại với luống cày, bờ ruộng. Vết thương tinh thần của chị Đượm dần nguôi ngoai sau khi nhận được lá thư viết bằng bút chì nguệch ngoạc do chính tay Cán gửi về từ Viện Quân y 7 đóng tại Hải Hưng. Dù mất đi một bên chân, dù tương lai phải gắn liền với chiếc nạng gỗ suốt đời, nhưng Cán vẫn còn sống trọn vẹn, vẫn đùa vui trong thư rằng “sau này về làng xin làm chân giữ kho thóc cho Đội 3, không con chuột nào chạy trốn được cái chân gỗ của tao”. Đượm ngày nào cũng cặm cụi gánh phân bón lót, làm cỏ ngô, tiếng cười giòn tan quen thuộc thỉnh thoảng lại rộ lên trên cánh đồng bãi Soi, dù đuôi mắt đã hằn sâu thêm vài nếp nhăn sương gió. Về phần Hoài An, cái thai trong bụng đã bước sang tuần thứ mười. Cơn ốm nghén ngặt nghèo của những tháng đầu dần lui đi, nhường chỗ cho cảm giác thèm ăn những món chua chát dân dã. Mỗi buổi trưa đi làm đồng về, u Mẫn lại cẩn thận múc cho cô một bát canh lá ngải cứu nấu với quả trứng gà so mót được trong ổ rơm, hay giúi vào túi áo con dâu vài quả quéo chua lùi tro chấm muối hạt. Bình bận rộn tối ngày với cương vị mới của một Xã đội trưởng chuyên trách. Sáng sớm anh dẫn dân quân đi đào hào giao thông dọc tuyến đê bối, trưa tạt qua bãi Soi kiểm tra mực nước mương máng thủy lợi, tối mịt mới về nhà, người nồng nặc mùi bùn đất và dầu lau súng. Thế nhưng, đêm nào cũng vậy, sau khi An đã đặt lưng xuống chiếc giường tre ọp ẹp, anh luôn nhẹ nhàng ngồi xuống bên cạnh, bàn tay to bè, ấm nóng xoa nhẹ lên bụng vợ, lắng nghe từng cử động vô hình của mầm sống nhỏ nhoi đang lớn dần lên trong bình yên. Giữa lúc nhịp sống làng quê đang tìm lại sự ổn định để dồn sức cho vụ gặt lúa chiêm xuân tháng Năm, một trận mưa rào trái mùa xối xả trút xuống vào rạng sáng ngày rằm tháng Ba. Mưa rào mùa này thường mang theo hơi lạnh buốt giá của đợt rét nàng Bân cuối cùng trong năm. Nước từ mái rạ nhà Bình chảy xối xả xuống con rãnh tiêu nước sau vườn, làm đất cát sạt lở, rác rơm bít kín dòng chảy dẫn ra mương lớn của hợp tác xã. Nước mưa ứ đọng bắt đầu tràn ngược vào khu vực chuồng gà ủ men trấu vi sinh và đe dọa làm ngập úng luống cải giống quý mà An dày công chọn lọc. Sáng sớm hôm ấy, mưa vừa tạnh, trời hửng lên một vệt sáng mờ đục như lòng trắng trứng gà. Gió lạnh vẫn thổi hun hút qua những rặng xoan đang trổ hoa tím ngát đầu làng. An khoác chiếc áo tơi lá cọ, xắn quần quá đầu gối, tay cầm chiếc xẻng nhỏ bước ra vườn sau để khơi thông rãnh thoát nước. Khu vườn đất năm phần trăm của gia đình cô sau hai năm cải tạo giờ đây đất đen nhánh, tơi xốp như bột bánh xốp nhờ bàn tay chăm bón tỉ mỉ bằng phân trùn quế và rơm mục vi sinh. Ngay sát góc rào ngăn cách với con đường đất chung của xóm là một gốc ổi tàu xù xì, thân mốc thếch, rễ nổi cuồn cuộn như những búi gân guốc ăn sâu vào lòng đất mẹ. Chính dưới gốc cây ổi này, hơn nửa năm trước, trong đêm Bình vượt lũ vào Tây Nguyên tìm mộ anh trai Hoài Nam, An đã bí mật đem bản cam ước khoán hộ bãi Soi chôn giấu xuống. Bản cam ước mang mười bốn dấu điểm chỉ đỏ rực — bằng chứng sống về sự “xé rào” táo bạo của Đội 3 mà nếu để lọt vào tay những kẻ giáo điều, chiếc ghế Chủ nhiệm của ông Khoát lẫn sinh mệnh chính trị của Bình sẽ tan tành thành tro bụi. Đang lúc An cắm lưỡi xẻng xuống lớp bùn nhão bên mép rãnh, tiếng bước chân huỳnh huỵch cùng tiếng nói cười vang lên từ phía ngõ trước. “Báo cáo đồng chí Trưởng phòng, đây là mô hình vườn mẫu tăng gia của gia đình đồng chí Xã đội trưởng Trần Bình. Chỗ này trước kia vốn là bãi đất cằn đá ong, nay qua bàn tay thâm canh của xã viên đã trở thành nơi cung cấp rau màu xanh tốt nhất Đội 3 đấy ạ!” Tiếng của Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát oang oang vang lại, nghe vừa có phần tự hào khoe thành tích, lại vừa phảng phất vẻ e dè, thận trọng khác thường.An dừng tay xẻng, đứng thẳng dậy gạt vệt mồ hôi lấm tấm trên trán nhìn ra phía cổng ngõ. Đi đầu đoàn người bước vào vườn là một người đàn ông trung niên trạc năm mươi lăm tuổi, vóc dáng cao gầy, mặc bộ quần áo đại cán màu xám bo gấu thẳng thớm không một nếp nhăn. Cặp kính lão gọng đồi mồi trễ xuống sống mũi gãy, đôi mắt sâu hoắm ánh lên vẻ nghiêm nghị, khắt khe đến lạnh lùng. Trên tay ông ta kẹp một chiếc bảng kẹp tài liệu bằng gỗ dán bọc da, cây bút chì hai màu xanh đỏ gài ngay ngắn nơi mép giấy tờ. Đó là ông Đặng Cự — Trưởng phòng Nông nghiệp kiêm Trưởng đoàn Thanh tra tài sản và ruộng đất của Ủy ban Nhân dân huyện Chương Mỹ. Đi cùng ông Cự là hai cán bộ thanh tra trẻ tuổi đeo băng đỏ và một người cầm chiếc thước dây đo đạc bằng kim loại cuộn tròn. Bình đi sau cùng, sắc mặt trầm tĩnh nhưng đôi mày rậm khẽ nhíu lại khi thấy đoàn kiểm tra của huyện bất ngờ rẽ vào nhà mình ngay sau cơn mưa rào trái mùa. “Kìa cô An, cô làm gì ngoài vườn thế kia? Trời vừa mưa xong, đất nhão nhoét, bụng mang dạ chửa thế sao không ở trong nhà nghỉ ngơi?” — Ông Khoát bước vội lại gần bờ giậu cúc tần, cất tiếng vừa như trách móc, vừa như ngầm đánh động cho cô chuẩn bị tinh thần. An bình thản đặt chiếc xẻng tựa vào bờ rào tre, đưa tay kéo lại vạt áo bà ba phủ kín phần bụng đã hơi nhô lên dưới lớp vải, bước lại gần chào hỏi lễ phép: “Cháu chào bác Chủ nhiệm, chào các đồng chí cán bộ huyện. Trận mưa đêm qua lớn quá, rác rơm làm nghẽn rãnh thoát nước sau hồi, cháu sợ nước ngập hỏng mất luống cải giống nên ra gạt bớt cọng rác thôi ạ.” Ông Đặng Cự không vội đáp lời chào. Đôi mắt sắc lẹm sau cặp kính lão quét một vòng từ luống cải bắp xanh mướt, giàn mướp hương đang đâm chồi cho đến khu chuồng gà khô ráo, sạch sẽ không hề có mùi xú uế bốc lên. Ông ta bước từng bước cẩn trọng trên những phiến đá cuội lót lối đi, gõ gõ ngón tay gầy guộc lên chiếc kẹp hồ sơ: “Cô Nguyễn Hoài An phải không? Tôi đã nghe Huyện ủy và Phòng Kỹ thuật biểu dương sáng kiến lò sấy đảo tầng của cô trong đợt cứu 50 tấn thóc nộp quân lương vừa qua. Tuổi trẻ, có học thức, lại năng nổ sáng tạo, đó là điều rất đáng quý cho nông nghiệp huyện nhà.” “Dạ, cảm ơn đồng chí Trưởng phòng đã động viên. Đó là công sức chung của toàn thể bà con Đội 1 và Đội 3, cùng sự chỉ đạo sát sao của Huyện đội và Ban Quản trị hợp tác xã ạ.” — An khiêm nhường đáp, giữ đúng phong thái nhã nhặn, chừng mực. Ông Cự khẽ hừ một tiếng trong cổ họng, giọng nói chuyển sang vẻ răn đe hành chính quen thuộc của một cán bộ phụ trách đường lối: “Khen thưởng thì cấp trên đã có quyết định ghi nhận. Nhưng công tác thanh tra tài sản và đất đai sau chiến dịch thu lương thực là quy định bắt buộc của tỉnh. Hiện nay, tình trạng một số cơ sở lợi dụng tình hình thời chiến để mở rộng diện tích đất năm phần trăm, lấn chiếm hành lang công trình thủy lợi và đất đai công cộng của tập thể đang diễn ra phức tạp. Hôm nay đoàn thanh tra huyện về An Hòa là để kiểm tra thực địa, rà soát lại mốc giới giữa đất kinh tế phụ gia đình và đất canh tác của hợp tác xã.” Bình bước lên đứng bên cạnh An, bờ vai rộng vững chãi của anh như tạo nên một điểm tựa che chở cho cô. Anh cất giọng trầm ấm, điềm đạm nhưng dứt khoát: “Báo cáo đồng chí Trưởng phòng, toàn bộ ranh giới đất năm phần trăm của gia đình tôi từ thời cụ thân sinh để lại vẫn giữ nguyên theo sổ địa chính năm 1960. Rãnh thoát nước này chạy dọc theo bờ rào tre, phân định rõ ràng giữa vườn nhà và con đường công cộng của xóm, không hề lấn chiếm một tấc đất công nào của đội sản xuất.” “Cứ để thước đo thực tế trả lời, đồng chí Xã đội trưởng ạ!” — Ông Cự lạnh lùng vung tay ra hiệu cho người cán bộ thanh tra trẻ đi phía sau — “Đồng chí Toàn, căng dây đo từ tim con đường ngõ xóm vào đến chân bờ rào. Tiện thể cầm cái cuốc kia khơi sâu rãnh nước ra, xem mốc gạch chỉ chôn dưới đáy rãnh từ đợt đo đạc trước còn nguyên vẹn hay đã bị xê dịch!” Người cán bộ trẻ tên Toàn dạ một tiếng, nhanh nhẹn cầm lấy chiếc cuốc bàn dựng bên gốc ổi, bước thẳng xuống lòng rãnh tiêu nước đang sũng bùn lầy. Nhìn lưỡi cuốc sắt sắc lẹm vung lên ngay sát gốc cây ổi cổ thụ, tim An bỗng thắt lại, đập thót một nhịp nghẹt thở! Ký ức của đêm mưa rào năm ngoái lập tức dội về bỏng rát trong tâm trí cô. Dưới tầng đất sét pha sỏi nằm sâu chừng hai gang tay ngay dưới rễ cái của gốc ổi này, chiếc ống nứa niêm phong sáp ong bọc trong tấm vải dù hoa đang nằm im lìm. Mưa lớn đêm qua đã làm xói mòn một lớp đất mặt màu mỡ, dòng nước xối tràn làm lộ ra cả những múi rễ cây trắng xám. Nếu lưỡi cuốc kia bổ sâu xuống thêm một nhát nữa... Bình dường như cũng nhận ra mối nguy khôn lường. Đôi mày rậm của anh khẽ giật, hai bàn tay buông thõng bên hông siết chặt lại thành nắm đấm, khớp xương kêu khẽ một tiếng khô khốc. Anh toan bước tới can thiệp với lý do đất trơn trượt sợ cán bộ ngã, nhưng An đã kịp thời đưa mắt nhìn chồng — một ánh nhìn khẽ khàng, kín đáo nhưng đầy vẻ kiên định, trấn an. Giữa lúc một vị Trưởng phòng Nông nghiệp nổi tiếng đa nghi và sắc sảo như Đặng Cự đang chăm chú săm soi từng biến chuyển trên nét mặt mọi người, bất kỳ một hành động cản trở bất thường nào cũng sẽ trở thành bằng chứng tố giác sự mờ ám. “Phập!” Lưỡi cuốc của người cán bộ thanh tra bổ ngập xuống lớp đất bùn non, lôi lên một búi rễ cỏ rêu phong. Dòng nước đục ngầu theo vệt cuốc ộc ra, cuốn trôi lớp phù sa phủ trên mặt đất sét xám. “Phập!” Nhát cuốc thứ hai vung lên, giáng thẳng xuống sát nách một nhánh rễ ổi to bằng cổ tay. “CỐP!” Một âm thanh khô khốc, đanh gọn vang lên giữa khu vườn tĩnh lặng. Không phải tiếng va chạm vào rễ cây mục mềm xốp, cũng chẳng phải tiếng đá ong vỡ vụn. Đó là âm thanh của kim loại chém trúng một vật thể hình ống tròn, cứng cáp và có độ đàn hồi đặc biệt của vỏ cật tre già. “Ủa? Cái gì thế này?” — Người cán bộ thanh tra trẻ ngạc nhiên dừng tay, cúi khom người xuống dòng nước đang chảy xiết — “Hình như dưới này có chôn vật gì cứng lắm đồng chí Trưởng phòng ạ!” Sắc mặt Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát thoáng chốc trắng bệch ra như không còn một giọt máu. Chiếc bút Kim Tinh nơi túi áo dường như run rẩy theo từng nhịp thở dồn dập của ông. Ông liếc nhìn sang Bình rồi lại nhìn An, trán rịn ra những giọt mồ hôi hột giữa tiết trời rét nàng Bân căm căm. Là người đứng đầu hợp tác xã từng đặt bút ký vào biên bản ngầm năm ấy, ông hiểu quá rõ tai họa tày đình gì đang chực chờ bùng nổ nếu bí mật bãi Soi bị phơi bày. Ông Đặng Cự nheo mắt lại, bước sát mép rãnh đất trơn trượt, giọng nói đanh lại đầy vẻ cảnh giác nghiệp vụ: “Khoan đã! Coi chừng bom bi hoặc mìn sát thương sót lại thời chiến tranh phá hoại! Đồng chí Toàn, dùng tay gạt đất ra từ từ, tuyệt đối không được dùng lực cuốc mạnh!” Người cán bộ thanh tra thận trọng quỳ một chân xuống bùn ướt, dùng hai bàn tay trần bới từng mảng đất sét dẻo quánh bám quanh vật lạ. Từng chút một, hình thù của một ống tre đực già, to bằng bắp tay người lớn, dài chừng hai gang tay dần dần lộ ra dưới ánh sáng ban ngày. Hai đầu ống nứa được bịt kín mít bằng những lớp sáp ong rừng màu vàng sẫm đã ngả sang màu xám tro vì ngâm lâu ngày dưới lòng đất ẩm ướt. Thế nhưng, nhát cuốc sắc nhọn vừa rồi đã chém trúng ngay mép nắp đậy phía trên, làm vỡ toác một mảng sáp ong bảo vệ bên ngoài. “Không phải đạn pháo đâu ạ! Là một chiếc ống nứa niêm phong cẩn thận lắm!” — Người cán bộ trẻ reo lên, dùng hai tay nhấc bổng chiếc ống tre dính đầy bùn đất lên khỏi rãnh nước, đặt ngay ngắn lên bờ cỏ khô trước mặt đoàn thanh tra. Không khí trong khu vườn bỗng chốc đông đặc lại, nặng nề đến nghẹt thở. Tiếng giọt nước mưa rớt tí tách từ tàu lá chuối non sau hồi nhà nghe rõ mồn một như tiếng kim đồng hồ gõ từng nhịp định mệnh. Bình bước lên nửa bước, thân hình vững chãi nghiêng nhẹ về phía trước che chắn cho An. Hai bàn tay anh siết chặt lại, ánh mắt cương trực nhìn thẳng vào chiếc ống nứa trên mặt đất, sẵn sàng đứng ra hứng chịu mọi bão dông thay cho người vợ trẻ đang mang trong mình giọt máu của anh. Ông Đặng Cự bước tới, chiếc bảng kẹp da kẹp chặt bên sườn. Đôi mắt sắc như dao cau của ông ta dừng lại trên mảng sáp ong vừa vỡ vụn. Qua khe nứt của ống nứa, một góc lớp vải dù hoa màu xanh lá mạ — thứ vải dù ngụy trang nhiệt đới đặc trưng của bộ đội chiến trường miền Nam năm nào — đang lấp ló lộ ra dưới ánh ban mai. “Ống nứa niêm phong sáp ong chôn sâu dưới gốc cây ranh giới...” — Ông Cự lẩm bẩm, thanh âm trầm trầm nhưng lạnh buốt như sương muối — “Đây tuyệt đối không phải là cách cất giữ đồ đạc sinh hoạt hay hạt giống thông thường của người làm ruộng. Đồng chí Xã đội trưởng, cô Hoài An, trong ống nứa này chứa thứ gì?” Bình hít một hơi thật sâu, lồng ngực nở rộng, định cất lời nhận toàn bộ trách nhiệm về mình thì một bàn tay thon nhỏ nhưng ấm áp bất ngờ đặt nhẹ lên mu bàn tay anh. An bước lên song hàng cùng chồng. Nét mặt cô điềm tĩnh đến kỳ lạ, không hề có lấy một tia hoảng loạn hay bối rối. Đôi mắt sáng trong veo nhìn thẳng vào vị Trưởng phòng Nông nghiệp huyện vốn nổi tiếng thanh liêm nhưng máy móc, giọng nói cô vang lên trong trẻo, rành rọt từng tiếng: “Báo cáo đồng chí Trưởng phòng, đó là tài liệu lưu trữ của Đội sản xuất số 3 do chúng tôi cất giữ.” “Tài liệu sản xuất của hợp tác xã mà lại đem chôn giấu dưới bùn đất ngoài bờ rào thế này ư?” — Ông Cự gằn giọng, sự hoài nghi hiện rõ trên từng nếp nhăn nơi vầng trán hói — “Mở ra!” Không đợi ai kịp phân bua thêm một lời, ông Đặng Cự tự tay cúi xuống, cầm lấy chiếc ống nứa lên. Bàn tay xương xẩu, đầy những nốt đồi mồi của ông ta dùng sức cạy mạnh mảng sáp ong đã rạn nứt. “Rắc!” Chiếc nắp tre bật tung ra. Lớp vải dù hoa bọc ngoài rơi tuột ra khỏi miệng ống, để lộ một bọc giấy được quấn nhiều lớp cẩn thận. Bên trong lớp vải dù, một tập giấy bản màu vàng ngà xuất hiện. Mép giấy đã hơi ố vàng vì ngấm hơi ẩm lòng đất suốt nhiều tháng ròng, nhưng từng dòng chữ viết bằng mực Cửu Long màu tím vẫn còn sắc nét, thẳng hàng như vừa mới viết ngày hôm qua. Và đập ngay vào mắt vị Trưởng phòng Nông nghiệp huyện khắt khe chính là dòng chữ tiêu đề nắn nót, trang trọng viết bằng chữ in hoa đậm nét: BẢN CAM ƯỚC TẬP THỂ VỀ KHOÁN GỌN SẢN PHẨM RUỘNG BÃI SOI. Phía dưới dòng chữ ấy, thẳng hàng ngay ngắn, là mười bốn dấu điểm chỉ bằng mực đỏ tươi rói, nổi bật trên nền giấy bản như mười bốn đốm lửa rực cháy giữa một buổi sớm mùa xuân lạnh giá. Đồng tử của ông Đặng Cự co rút lại tột độ sau tròng kính lão. Bàn tay cầm tập giấy của ông ta bắt đầu run rẩy, ánh mắt từ kinh ngạc chuyển sang bàng hoàng tột cùng, rồi dừng lại trừng trừng nhìn thẳng vào mặt vợ chồng Bình - An giữa khu vườn sũng nước. , , vn, live , vn

Bạn cũng là tác giả hoặc dịch giả?

Đăng sáng tác hoặc bản dịch của riêng bạn lên Say Truyện — miễn phí, chỉ mất vài phút.

Đăng truyện ngay

Bình luận (0)

Đang tải bình luận...