Xuyên không thập niên 70
Chương44: Dấu son người lính
Cỡ chữ
Gió đầu hồi thốc mạnh qua rặng tre ngà, quất từng luồng lạnh buốt vào tấm liếp nứa đã ngả màu xám xịt.
Mưa phùn rây những hạt bụi nước li ti lên mái rạ, đọng thành từng giọt ngưng tụ nơi rìa mái rồi nhỏ tí tách xuống chum sành đặt góc sân. Đất trời An Hòa sau những ngày mưa dầm dề như bị phủ một lớp sương mờ ẩm đục, hơi lạnh thấm qua từng kẽ áo bông, len lỏi vào da thịt buốt nhói. Nhưng đối với Hoài An, cái lạnh của thời tiết cắt da cắt thịt chẳng thấm tháp gì so với cảm giác nằng nặng đang đè chặt lên lồng ngực cô suốt từ lúc rời đ**m canh đê bến đò sông Đáy trở về.
Cô đi bên cạnh Bình, khẽ nén từng bước chân để nhịp thở không quá dồn dập. Bụng dưới vẫn còn âm ỉ những cơn đau co thắt nhè nhẹ — lời cảnh báo của một cơ thể đang phải gánh chịu quá nhiều áp lực giữa lúc một sinh linh bé bỏng vừa mới tượng hình. Nhưng An không kêu một tiếng, ánh mắt cô dán chặt vào bóng lưng người đàn ông đang bước từng bước tập tễnh phía trước. Chân trái của Bình run rẩy rõ rệt, mỗi lần gót chân tì xuống nền đất trơn trượt sau đợt mưa rào là bả vai anh lại khẽ giật lên một cái. Vết đạn sượt ở chiến trường Tây Nam năm nào chắc chắn đã bị động mạnh sau cú ráng hết bình sinh dùng vai tì đòn bẩy cứu chiếc xe tải Zil chở năm mươi tấn quân lương rạng sáng nay.
Thế nhưng, điều khiến lòng An thắt lại không phải là vết thương tái phát nơi chân anh.
Đó là sự im lặng.
Bình là người lính ít nói, cái trầm mặc của anh vốn là nét quen thuộc mà cô yêu thương và nương tựa. Nhưng hôm nay, sự im lặng ấy đặc quánh như chì, trĩu nặng một dự cảm giông bão. Một tay anh buông thõng, bàn tay kia vô thức áp chặt lên ngực áo trái — nơi chiếc phong bì màu giấy xi măng niêm sáp đỏ thẫm mà Chỉ huy trưởng Huyện đội Bùi Trực vừa trao lúc nãy đang nằm im lìm dưới lớp vải bạt quân phục đã sờn rách.
“Về đến ngõ rồi anh.” An bước rảo lên nửa bước, khẽ đưa bàn tay mát lạnh chạm vào cổ tay áo anh.
Bình giật mình thoát khỏi dòng suy nghĩ mông lung. Anh quay sang nhìn vợ, ánh mắt trũng sâu vì ba đêm trắng thức trắng bên lò sấy trấu bỗng chốc mềm lại, tràn ngập nét xót xa. Anh vội vàng nắm lấy bàn tay An, dùng những ngón tay thô ráp, chai sạn vì cầm súng và cuốc cày bao bọc lấy bàn tay gầy gò của cô, ủ ấm trong lòng bàn tay mình.
“Em đi có thấy mỏi chân không? Về nhà rồi, u đang chờ. Để anh múc nước nóng cho em ngâm chân.” Giọng Bình trầm đục, cố nén vẻ run rẩy sau những giờ dầm mưa kéo xe.
“Em không sao. Vết thương của anh lại buốt rồi phải không? Bước vào thềm cẩn thận kẻo rêu trơn.”
Hai vợ chồng bước qua ngưỡng cửa gỗ lim bóng loáng vết thời gian. Gian nhà ba gian bốc lên mùi thơm ngai ngái, ấm sực của nồi nước lá xông. Trên chiếc bếp kiềng đượm than hồng góc nhà ngang, u Mẫn đang cặm cụi thổi lửa. Nghe tiếng chân con, bà cụ ngẩng đầu lên, khuôn mặt nhăn nheo hằn sâu vết chân chim giãn ra trong niềm nhẹ nhõm vô bờ.
“A Di Đà Phật, chúng mày về thật rồi! Cả làng người ta đồn nhau đoàn xe quân nhu vượt được dốc đê rồi, u mừng đến thắt cả ruột. Mau, hai đứa vào đây cởi chiếc áo mưa ướt sũng ra, u đun sẵn nồi nước lá bưởi, sả với hương nhu đây, xông cho nó giải cái hàn khí độc địa đi!”
Bà cụ vừa nói vừa tất tả bưng chiếc chậu đồng cũ ra giữa nhà, khói nghi ngút bốc lên mang theo hương thảo mộc đồng quê xua tan đi cái lạnh lẽo thấu xương. Nhìn mẹ già tóc bạc trắng cặm cụi chăm lo từng manh áo chiếc khăn, nhìn An mệt mỏi tựa lưng vào mép phản gỗ mà ánh mắt vẫn dõi theo mình đầy lo âu, sống mũi Bình cay xè. Anh đứng chết trân bên chiếc cột cái, một bàn tay ghì chặt mép túi ngực áo, nơi vết sáp niêm phong cứng ngắc đang cấn vào da thịt như một đốm than âm ỉ.
Sau khi ép An ngồi xông nước lá và uống cạn bát cháo hoa độn chút hành tía giải cảm, u Mẫn lại tất tả xách làn đi sang nhà chị Đượm để hỏi thăm tình hình bên ấy. Căn nhà tranh vách đất chỉ còn lại hai vợ chồng cùng tiếng tí tách của tàn lửa trong góc bếp.
An thay một chiếc áo bà ba màu nâu sồng khô ráo. Cô bước đến bên chiếc phản, ngồi xuống sát cạnh Bình. Anh đang ngồi cúi gập người, hai tay đan vào nhau, ngón tay cái miết mạnh vào vết sẹo dài ngoằng nơi bắp chân trái. Chiếc áo trấn thủ đã được cởi ra vắt trên thành ghế, để lộ mép phong bì màu nâu nhô ra khỏi túi ngực chiếc áo sơ mi bạc màu.
An không nói gì, chỉ lặng lẽ lấy ra chiếc lọ sành nhỏ đựng rượu hạt gấc ngâm mật gấu và vỏ quế mà cô đã cẩn thận chưng cất từ mùa đông năm ngoái. Cô quỳ một chân xuống nền đất nện, vén ống quần bên chân bị thương của Bình lên quá đầu gối.
Bắp chân anh sưng đỏ, vết sẹo chiến trường dài chừng một gang tay tím bầm lại vì gắng sức quá độ lúc tì đòn bẩy bẩy bánh xe tải hạng nặng. An đổ một chút rượu thuốc vào lòng bàn tay, xoa nóng rồi nhẹ nhàng áp lên vết thương của chồng. Bàn tay cô mềm mại, uyển chuyển day từng huyệt đạo, miết dọc theo thớ cơ căng cứng như dây đàn.
Bình khẽ rùng mình một cái, hơi nóng từ bàn tay vợ và sức cay nồng của rượu thuốc xông thẳng vào kinh mạch, xoa dịu cơn đau nhức buốt tận tủy xương. Anh cúi xuống nhìn An, thấy vầng trán thanh tú của cô lấm tấm mồ hôi, hai lọn tóc mai ướt bết dính vào gò má hơi xanh xao vì ốm nghén, lồng ngực anh quặn thắt lại.
“An... để anh tự làm. Em vừa mới mệt, thai còn non, ngồi xổm lâu thế này máu không lên não được đâu.” Bình vội vàng đỡ lấy vai cô, toan kéo cô đứng dậy.
Nhưng An kiên quyết giữ lấy chân anh. Cô ngước đôi mắt trong veo, sâu thẳm nhìn thẳng vào mắt người đàn ông của đời mình:
“Anh để em xoa bóp cho mềm cơ ra đã. Gân cốt bị chèn ép thế này, nếu không day tan máu bầm, vài hôm nữa trở trời anh làm sao mà hành quân được?”
Bàn tay Bình bỗng khựng lại giữa không trung. Lời nói của An nhẹ bẫng, dịu dàng như một làn sương sớm, nhưng từng chữ từng câu lại rành rẽ, chính xác găm thẳng vào nỗi giằng xé sâu thẳm nhất trong lòng anh.
Anh nhìn cô, đôi môi khô nứt khẽ mấp máy: “An... em...”
An mỉm cười, một nụ cười thoáng nét buồn thương nhưng ngời lên sự thấu hiểu tuyệt đối. Cô đứng dậy, ngồi sát lại bên anh trên mép phản, đưa ngón tay mảnh khảnh khẽ chạm vào mép túi áo ngực của anh:
“Em đâu phải người mù, anh Bình. Từ lúc ở triền đê bến đò, nhìn dáng vẻ của đồng chí Bùi Trực, rồi nhìn con dấu đỏ thẫm qua lớp giấy xi măng cộm lên ở ngực áo anh, em đã hiểu rồi. Biên giới phía Bắc đang đánh nhau to... Quân khu có lệnh điều động đặc biệt, phải không anh?”
Bình thở ra một hơi thật dài, cảm giác như hòn đá tảng đè nặng trên ngực nãy giờ bỗng chốc vỡ òa ra thành nỗi đau đớn khôn nguôi. Trước mặt người vợ thông minh, nhạy bén và kiên cường này, anh không bao giờ có thể giấu giếm được bất cứ điều gì.
Bình run run đưa tay vào túi áo trong, rút chiếc phong bì niêm sáp đỏ thẫm đặt lên mặt bàn tre. Dưới ánh sáng le lói hắt vào từ khung cửa sổ, dòng chữ
BỘ TƯ LỆNH QUÂN KHU 3 – TÀI LIỆU MẬT
và con dấu tròn đỏ rực hiện lên đầy đanh thép.
“Là công điện hỏa tốc,” giọng Bình khàn đặc, đôi mắt anh dán chặt vào mặt bàn, nơi những thớ tre đan đã bóng nước thời gian. “Mặt trận Lạng Sơn, Cao Bằng, Hoàng Liên Sơn... địch tràn qua biên giới dữ dội lắm. Các đơn vị chủ lực đang gồng mình ghìm chân giặc, thương vong không ít. Bộ Tư lệnh Quân khu 3 ra lệnh tổng rà soát, lập danh sách điều động bổ sung đặc biệt đối với toàn bộ sĩ quan, hạ sĩ quan dự bị hạng một từng có kinh nghiệm thực chiến ở chiến trường B. Anh... anh nằm trong danh sách ưu tiên đợt đầu của huyện.”
Bình ngẩng đầu lên, ánh mắt chan chứa nỗi dằn vặt xé lòng:
“Anh là một người lính, An ạ. Năm xưa rời chiến trường miền Nam trở về với cái chân tập tễnh này, anh cứ nghĩ đời mình chỉ còn việc cày sâu cuốc bẫm, đắp bờ giữ đê, phụng dưỡng mẹ già. Rồi anh gặp em... Cuộc đời bù đắp cho anh một người vợ như em, một mái ấm mà trong mơ anh cũng không dám nghĩ tới. Bây giờ em lại đang mang giọt máu của anh, mới có gần hai tháng, ốm nghén xanh xao thế kia... Vậy mà biên cương lại nổi lửa. Tổ quốc gọi, anh không thể trốn tránh, danh dự của một người lính không cho phép anh lùi bước. Nhưng nghĩ đến việc bỏ lại em và u giữa lúc giáp hạt đói kém này, nghĩ đến cảnh em bụng mang dạ chửa phải gánh vác việc làng việc xóm... lòng anh đau như dao cắt, An ơi!”
Bàn tay thô ráp của Bình siết chặt lấy nhau đến mức các đốt ngón tay trắng bệch, khớp xương kêu răng rắc. Người đàn ông dạn dày sương gió, từng đối mặt với bom gầm đạn rú nơi chiến trường khốc liệt, từng không chớp mắt trước mũi súng gươm, giờ đây lại rưng rưng nước mắt trước người phụ nữ bé nhỏ của mình.
An lặng nhìn anh. Trong khoảnh khắc ấy, mọi sự sợ hãi, mọi cảm giác bất an của một người phụ nữ mang thai nơi hậu phương dường như bị đẩy lùi lại phía sau. Là một người xuyên không từ tương lai trở về, cô thấu hiểu hơn ai hết ý nghĩa thiêng liêng và cái giá máu xương của cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới tháng Hai năm 1979. Cô hiểu lòng yêu nước, hiểu khí tiết và nhân cách của Trần Bình — người đàn ông mà cô đã chọn gửi gắm cả cuộc đời. Nếu anh là kẻ hèn nhát trốn tránh trách nhiệm khi đất nước lâm nguy, anh đã chẳng phải là Trần Bình mà cô yêu và kính trọng.
An khẽ vươn tay, nhẹ nhàng áp bàn tay ấm nóng của mình lên mu bàn tay đang run rẩy của chồng. Giọng cô trầm tĩnh, vững vàng như một điểm tựa ngàn đời của người phụ nữ Việt Nam nơi hậu phương:
“Anh Bình, nhìn em này.”
Bình ngước mắt lên, bắt gặp ánh nhìn sáng trong, kiên định lạ thường của vợ.
“Nếu anh vì em, vì con mà chùn bước, trốn tránh trách nhiệm với đất nước, thì đứa bé trong bụng em sau này lớn lên sẽ nhìn bố nó thế nào?” An khẽ mỉm cười, ánh mắt chan chứa tình yêu thương và niềm tự hào sâu sắc. “Anh là cựu chiến binh, là người từng đi qua lửa đạn. Anh hiểu chiến trường hơn bất cứ thanh niên nào trong xã. Đất nước cần những người như anh để giữ gìn từng tấc đất biên cương. Em là vợ anh, em không thể giữ rịt anh bên bậu cửa trong lúc đồng đội anh, con em quê hương đang ngã xuống nơi địa đầu Tổ quốc.”
“An...” Bình nghẹn ngào, cổ họng ứ nghẹn không thốt nên lời.
“Anh đừng lo cho em và con,” An nắm chặt lấy tay anh, giọng nói quả quyết và rành rọt. “Em tuy gầy gò nhưng không yếu đuối đâu. Mấy năm qua ở An Hòa này, sóng gió nào chúng mình chẳng cùng nhau vượt qua được? Em sẽ chăm sóc u thật chu đáo, sẽ bảo đảm năm mẫu đất bãi Soi xanh tốt, sẽ nuôi dạy con thật khỏe mạnh để chờ ngày anh khải hoàn trở về. Việc của anh bây giờ không phải là dằn vặt, mà là dồn toàn tâm toàn lực huấn luyện thật tốt cho năm mươi anh em tân binh của xã, rồi giữ gìn bản thân thật cẩn thận để hoàn thành nhiệm vụ.”
Lời nói của An như dòng nước mát lành tưới vào tâm can đang bỏng rát của Bình, tháo gỡ từng nút thắt nghẹn ngào trong lòng anh. Anh ôm chầm lấy cô vào lòng, ghì chặt lấy bờ vai mảnh khảnh, vùi mặt vào mái tóc thoang thoảng hương bưởi lá sả của vợ, nước mắt người lính lăn dài trên má.
Đêm đó, gió bấc lại rít từng cơn qua khe cửa. Cả làng An Hòa chìm trong giấc ngủ mỏi mệt sau chiến dịch vận chuyển quân lương khẩn cấp.
Trong gian buồng nhỏ, ngọn đèn hoa kỳ vặn nhỏ như hạt đỗ tỏa ra ánh sáng vàng vọt, ấm áp. Bình đã thiếp đi trên giường vì kiệt sức, hơi thở trầm đều, nhưng hàng lông mày rậm trên gương mặt cương nghị của anh vẫn khẽ nhíu lại trong những giấc mơ chập chờn khói súng.
An lặng lẽ ngồi bên chiếc bàn con kê sát vách nứa.
Cô mở chiếc rương gỗ nhỏ đựng của hồi môn, lấy ra sấp vải hoa xanh mậu dịch được bọc cẩn thận trong lớp giấy báo cũ. Đó là sấp vải mà Bình đã chắt chiu từng chiếc tem phiếu vải tiêu chuẩn thương binh hạng nặng của cả năm trời, lặn lội ra tận Cửa hàng Bách hóa Tổng hợp huyện mua về tặng cô dịp tết năm ngoái. Anh từng bảo muốn cô may một chiếc áo sơ mi mới thật đẹp để diện đi đại hội xã viên. An quý nó như báu vật, nâng niu mãi chưa nỡ đem ra cắt may.
Nhưng đêm nay, cô không may áo cho mình.
An lấy chiếc kéo sắt nặng trịch, cẩn thận đo đạc và cắt sấp vải hoa xanh thành từng mảnh vuông vức, tỉ mỉ. Cô muốn may cho Bình một chiếc túi đựng dụng cụ cấp cứu cá nhân nhỏ gọn, chuyên dụng — chiếc túi theo chuẩn sơ cứu chiến trường mà ở thế kỷ hai mươi mốt cô từng được đào tạo trong các khóa sinh tồn y tế.
Từng đường kim mũi chỉ đều tăm tắp, chắc chắn lướt đi thoăn thoắt dưới ánh đèn dầu. An may ba ngăn riêng biệt: một ngăn lót vải dầu chống thấm để đựng bông băng gạc vô trùng; một ngăn nhỏ xíu có nẹp cài để vừa lọ cồn đỏ sát trùng và cuộn chỉ khâu vết thương; ngăn còn lại cô cẩn thận nhét vào những gói bột thảo dược do chính tay cô điều chế từ lá trầu không, vỏ cây núc nác và lá bàng sấy khô tán mịn — thứ bột sát trùng, cầm máu cực kỳ hữu hiệu mà cô từng dùng dập tắt dịch bệnh năm nào.
Ở mặt trong của nắp túi, nơi áp sát vào ngực người đeo, An dùng sợi chỉ đỏ thêu nắn nót từng nét chữ nhỏ:
Bình an trở về.
Mỗi một mũi kim đâm xuống là một lời nguyện cầu âm thầm, da diết gửi vào thớ vải. Cổ họng An đắng ngắt vì cơn nghén đang dâng lên từng đợt, bụng dưới thỉnh thoảng lại nhói lên một cơn đau cảnh báo. Nhưng cô không dừng lại. Cô cắn môi, nuốt từng ngụm nước ấm nén cơn buồn nôn, chong mắt khâu vá suốt đêm cho đến khi chiếc túi vải hoa nhỏ nhắn, bền chắc hoàn thành. Chiếc quai đeo bằng sợi dù chắc chắn được may gia cố tới ba đường chỉ chéo, vừa vặn để Bình có thể đeo chéo qua vai, giấu gọn gàng bên trong chiếc áo trấn thủ.
Gần sáng, Bình trở mình thức giấc. Nhìn thấy ngọn đèn dầu vẫn sáng và bóng dáng nhỏ bé của vợ đang cặm cụi bên bàn, anh vội vàng khoác áo bước xuống:“An, sao em chưa ngủ? Đêm hôm lạnh thế này, lại còn chong đèn làm gì thế?”
An ngẩng đầu lên, đôi mắt có chút quầng thâm vì thiếu ngủ nhưng rạng ngời vẻ dịu dàng. Cô đưa chiếc túi vải hoa xanh ra trước mặt chồng:
“Anh xem này. Em may cho anh chiếc túi đựng bông băng cá nhân. Ở mặt trận ác liệt, thuốc men bông băng phải luôn ở bên người, lúc khẩn cấp không thể chờ quân y được. Em may quai chéo rồi, anh đeo vào trong áo trấn thủ, nước mưa không thấm vào được đâu.”
Bình run rẩy đỡ lấy chiếc túi nhỏ. Những ngón tay thô ráp của anh chạm vào từng đường kim mũi chỉ đều đặn, tỉ mỉ, sờ vào dòng chữ thêu bằng chỉ đỏ bên trong nắp túi. Trái tim người lính như thắt lại, dâng lên một niềm cảm xúc mãnh liệt đến nghẹn thở. Anh không nói được lời nào, chỉ biết kéo An vào lòng, siết chặt cô như sợ một cơn gió lạnh nào có thể cướp mất người phụ nữ quý giá này khỏi tay mình.
Chiều hôm sau, trước khi đợt huấn luyện tân binh bước vào giai đoạn thực hành dã ngoại đêm, Bình đưa An ra bến đò sông Đáy.
Trời chập tối, ánh trăng mờ nhạt thời chiến mọc muộn sau rặng tre đầu làng, rắc những vệt sáng lấp lánh như dát bạc trên mặt nước sông Đáy đang mùa cạn. Tiếng chuông chùa làng xa xa vọng lại, hòa cùng tiếng nước vỗ bì bõm vào những mạn thuyền nan của hợp tác xã neo đậu ven bờ.
Hai người ngồi bên bậc đá của bến đò cũ — nơi hơn hai năm trước, Bình từng run rẩy trao cho cô chiếc kẹp tóc làm bằng vỏ đạn pháo gọt giũa tỉ mỉ, nơi tình yêu của họ đơm hoa kết trái giữa những nhọc nhằn gian khó của thời bao cấp.
Bình cởi chiếc áo khoác bộ đội to sụ, choàng ra ngoài vai An để chắn gió sông thốc lên. Anh ngồi sát bên cô, cánh tay rắn rỏi vòng qua eo vợ, bàn tay chai sần, ấm áp nhẹ nhàng đặt lên bụng dưới của cô — nơi phẳng lặng nhưng đang chứa đựng mầm sống thiêng liêng nhất trần đời.
Bình nín thở, bất động, như sợ một cử động nhỏ của mình cũng có thể làm kinh động đến sinh linh bé nhỏ.
“Nó... nó có cử động không em?” Bình thì thầm, giọng run lên như đứa trẻ lần đầu nhìn thấy điều kỳ diệu.
An bật cười, tựa đầu vào bờ vai vững chãi của anh:
“Mới có gần hai tháng thôi anh, con còn nhỏ lắm, chưa máy đâu. Phải vài tháng nữa mới đạp bụng mẹ được.”
Bình khẽ thở dài một tiếng, nhưng bàn tay vẫn không rời khỏi bụng An. Anh cúi xuống, áp trán mình vào mái tóc cô, thanh âm trầm thấp cất lên rành rọt từng tiếng giữa màn đêm sông Đáy:
“An này... Anh thề với em, thề với con, thề với dòng sông Đáy quê hương... Dù súng đạn biên cương có khốc liệt đến đâu, dù có phải bò qua bao nhiêu bãi mìn, chịu bao nhiêu hiểm nguy, anh cũng sẽ bằng mọi giá giữ lấy mạng sống này. Anh sẽ lành lặn trở về với em và con. Anh sẽ về để cùng em thu hoạch vụ ngô bãi Soi, về để tự tay làm cho con chiếc nôi bằng mây giang, về để bù đắp cho em cả cuộc đời này.”
An nhắm mắt lại, cảm nhận nhịp đập vững chãi, nồng ấm từ lồng ngực người đàn ông cô yêu thương. Cô đưa bàn tay mình lên, đặt trùm lên bàn tay anh đang áp trên bụng mình:
“Em tin anh. Mẹ con em ở nhà sẽ luôn chờ anh.”
*
Những ngày sau đó, không khí thời chiến bao trùm lên toàn xã An Hòa với nhịp độ khẩn trương, nghẹt thở.
Trên bãi bồi ven sông Đáy và khu rừng găng phía sau đền làng, năm mươi thanh niên ưu tú của xã — những chàng trai mười chín, đôi mươi vốn chỉ quen với cán cuốc, cày bừa — đang bước vào đợt huấn luyện quân sự đặc biệt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Trần Bình.
Bình thay đổi hoàn toàn. Anh không còn là người đội trưởng sản xuất đôn hậu, nhẫn nại thường ngày, mà đã trở lại nguyên vẹn là một trung đội trưởng trinh sát dạn dày sương gió, nghiêm khắc và kỷ luật đến mức sắt đá. Anh hiểu rằng, sự nghiêm khắc hôm nay trên thao trường chính là mạng sống của những đứa em, đứa cháu làng An Hòa ngày mai nơi trận mạc.
Không chỉ dạy các bài bắn súng CKC hay ném lựu đạn chày theo giáo trình cơ bản của Huyện đội, Bình dồn hết kinh nghiệm xương máu từ những năm tháng luồn sâu đánh hiểm ở chiến trường miền Nam để truyền dạy cho các tân binh.
Dưới trời mưa phùn gió bấc lạnh buốt, Bình c** tr*n chiếc áo lót bộ đội, trực tiếp cầm xẻng bộ binh nhảy xuống hào thao diễn:
“Các đồng chí nhìn cho kỹ!” Bình quát to, thanh âm sang sảng át cả tiếng gió gầm trên bãi sông. “Địch trên biên giới dùng chiến thuật pháo bầy và bộ binh biển người! Ở địa hình đồi núi đá vôi, công sự không được đào nông theo kiểu hào cá nhân thông thường. Phải khoét sâu vào sườn đồi làm hầm ếch chữ A, có nắp bằng gỗ súc dày và chèn ba lớp bao tải cát đất mùn! Pháo nổ chụp trên đầu, các đồng chí phải ép sát người vào vách hầm, ngậm chặt miệng, lấy ngón tay cái bịt chặt hai lỗ tai để chống sức ép xé rách màng nhĩ!”
Từng động tác của Bình chuẩn xác, mau lẹ đến kinh ngạc. Mặc cho vết thương ở chân trái buốt nhói sau mỗi cú dộng xẻng xuống nền đất sỏi đá, anh vẫn thoăn thoắt khoét vách hào, hướng dẫn từng tân binh cách nhận biết tiếng rít của đạn pháo để phán đoán cự ly rơi trong tích tắc ba giây.
Anh dạy họ cách ngụy trang bằng bùn non và cỏ dại để trinh sát địch không phát hiện; dạy cách đào bếp Hoàng Cầm không khói giữa rừng ẩm; dạy cách tìm củ mài, rễ cây rừng để sinh tồn khi bị cô lập; và đặc biệt là cách lấy tro bếp và cát mịn lọc nước suối độc để tránh kiết lỵ, sốt rét.
Ở phía sau thao trường, An không hề ngồi yên. Dù cơn nghén vẫn hành hạ khiến cô ăn gì cũng buồn nôn, An vẫn chỉ đạo tổ phụ nữ và dân quân hậu cần tổ chức tiếp tế chu đáo nhất cho bãi tập.
Cô tận dụng số ngô hạt loại tốt từ bãi Soi, đem rang cát giòn tan rồi giã mịn với muối vừng và đường đen mậu dịch, nén chặt vào từng ống nứa làm lương khô dự trữ dã chiến cho tân binh. Cô đun những nồi nước lá vối đặc quánh, pha chút gừng tươi mang ra tận hào giao thông cho bộ đội uống ấm bụng. Nhìn người phụ nữ mảnh khảnh, đôi mắt sáng thông minh luôn đôn đốc, chăm lo từng viên thuốc khử trùng, từng gói bông băng cho các chiến sĩ trẻ, năm mươi tân binh xã An Hòa đều rưng rưng cảm phục, coi cô như người chị ruột thịt nơi hậu phương.
Bảy ngày huấn luyện thần tốc trôi qua như một cái chớp mắt. Năm mươi chàng trai nông dân ngơ ngác ngày nào giờ đây đã có ánh mắt rắn rỏi, nước da sạm đen vì mưa nắng, tác phong nhanh nhẹn và ý chí chiến đấu sục sôi.
*
Sáng ngày thứ tám, buổi lễ giao quân của xã An Hòa diễn ra trang nghiêm tại sân ngôi đình cổ.
Sương sớm mùa xuân bảng lảng như một dải lụa xám bao bọc lấy mái ngói rêu phong và những tán bàng cổ thụ. Giữa sân đình, lá cờ đỏ sao vàng tung bay phần phật trong gió sớm. Trên lễ đài dựng tạm bằng những tấm phản gỗ ghép, tấm băng rôn đỏ thắm căng ngang mang dòng khẩu hiệu viết bằng sơn trắng sắc nét:
TẤT CẢ VÌ TIỀN TUYẾN – BẢO VỆ TOÀN VẸN BIÊN CƯƠNG TỔ QUỐC!
Năm mươi tân binh xếp hàng ngay ngắn thành ba khối vuông vức, đầu đội mũ cối mới tinh có gắn ngôi sao vàng lấp lánh, vai đeo ba lô con cóc gọn gàng. Phía sau họ, hàng trăm xã viên của Đội 1, Đội 2, Đội 3 đứng chật ních sân đình. Những người mẹ, người vợ, những cô gái làng An Hòa cầm trên tay những chiếc khăn mùi soa, đôi dép cao su hay nắm xôi nếp bọc trong lá chuối xanh ngắt tiễn người thân lên đường.
Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát đứng trên bục, chiếc bút máy Kim Tinh quen thuộc vẫn cài ngay ngắn nơi túi áo, nhưng giọng đọc danh sách tòng quân của ông hôm nay không còn vẻ kẻ cả, giáo điều thường thấy. Từng cái tên xướng lên là một nhịp nghẹn ngào của người đứng đầu địa phương khi tiễn con em mình vào nơi lửa đạn.
Bình đứng ở hàng đầu Ban chỉ huy Dân quân xã, bên cạnh Chỉ huy trưởng Huyện đội Bùi Trực. Anh mặc bộ quân phục K-74 nghiêm chỉnh, ve áo cài quân hàm Thượng sĩ dự bị. Dưới lớp áo trấn thủ dã chiến, chiếc túi cứu thương bằng vải hoa xanh do An tự tay may đêm nọ đang áp chặt vào ngực trái anh, ấm nóng như chính nhịp đập của trái tim người vợ hiền.
Ánh mắt Bình lướt qua đám đông xã viên, dừng lại ở góc rặng bàng cổ thụ.
An đứng đó, bên cạnh u Mẫn và chị Đượm. Cô mặc chiếc áo bà ba màu nâu quen thuộc, mái tóc đen tết bím lệch gọn gàng. Gương mặt cô bình thản lạ lùng, đôi mắt sáng trong veo nhìn thẳng vào anh, không hề có lấy một giọt nước mắt ủy mị. Nụ cười dịu dàng trên môi cô như một lời nhắc nhở đanh thép:
Hãy vững vàng, em và con luôn ở phía sau anh.
Bên cạnh An, chị Đượm gầy rộc đi trông thấy sau nhiều ngày ngóng trông tin tức của chồng từ đồn biên phòng Pò Hèn. Chị níu chặt lấy cánh tay An, đôi mắt đỏ hoe ngước nhìn đoàn quân, khuôn mặt trắng bệch vì nỗi âu lo giày xéo tâm can suốt tuần qua.
Tiếng trống ngũ liên trầm hùng từ gian tiền tế của ngôi đình bỗng nổi lên, dồn dập, vang dội như thúc giục non sông.
Chỉ huy trưởng Huyện đội Bùi Trực bước lên phía trước bục danh dự, hắng giọng, chuẩn bị cất lời phát lệnh xuất quân cho đợt tân binh hành quân ra ga xe lửa chi viện cho Quân đoàn 14 trên mặt trận Lạng Sơn. Không khí nghẹt thở bao trùm toàn sân đình, chỉ còn lại tiếng gió rít qua tàng cây và tiếng sụt sùi kìm nén của những người mẹ nơi góc sân.
Bíp... bíp... oành!
Đột nhiên, từ phía cổng làng An Hòa, tiếng còi ô tô sắc nhọn xé toạc màn sương ẩm đặc quánh.
Tiếng động cơ gầm rú dồn dập mỗi lúc một gần. Cả sân đình xôn xao, hàng trăm ánh mắt giật mình quay phắt ra phía cổng ngõ gạch.
Một chiếc xe com-măng-ca quân sự màu xanh ô liu, bốn bánh bám đầy bùn đất đỏ quạch như vừa vượt qua hàng trăm cây số đường rừng đèo dốc, đang lao thẳng vào cổng làng. Chiếc xe phanh dúi dụi sát bậc tam cấp sân đình, tạo nên một vệt trượt dài trên nền gạch nghiêng, khói xả mù mịt.
Cánh cửa xe bật mở tức thì. Hai sĩ quan quân đội mang quân hàm Tỉnh đội Hà Sơn Bình, nét mặt phong trần và nghiêm nghị khác thường, bước vội xuống xe. Người sĩ quan đi đầu cặp một chiếc cặp da đen dưới nách, tay cầm một tập hồ sơ có đóng dấu niêm phong hỏa tốc, sải bước dứt khoát rẽ qua đám đông đang kinh ngạc tiến thẳng về phía lễ đài:
“Báo cáo Chỉ huy trưởng Huyện đội và Ban quản trị xã An Hòa! Chúng tôi thừa lệnh Quân khu và Tỉnh đội, mang công văn hỏa tốc đặc biệt từ mặt trận Quảng Ninh về đây!”
Cả sân đình chết lặng trong tích tắc.
Chị Đượm nghe thấy hai chữ "Quảng Ninh" thì toàn thân run bắn lên bần bật, đôi chân mềm oặt suýt ngã quỵ xuống đất nếu không có An kịp thời ôm chặt lấy bờ vai chị.
Bình bước nhanh lên một bước, đứng chắn phía trước lễ đài, ánh mắt đăm đăm nhìn thẳng vào tập hồ sơ hỏa tốc trên tay người cán bộ Tỉnh đội, lồng ngực anh đập thình thịch những nhịp đập nghẹt thở.
, , vn, live
,
vn
Bình luận (0)
Đang tải bình luận...