Xuyên không thập niên 70

Chương39: Tiếng súng biên cương

Cỡ chữ
Bản tin đặc biệt phát đi từ chiếc loa nén đầu làng như một nhát búa giáng thẳng vào sự hân hoan vừa mới nhen nhóm trong lòng người dân xã An Hòa. Tiếng quân nhạc trầm hùng, thúc giục vang vọng khắp các ngõ ngách, xé toang cái tĩnh lặng của chiều muộn bên dòng sông Đáy. Trong sân đình, hàng trăm xã viên vẫn đứng như chôn chân tại chỗ. Những chiếc nón mê rách mép trĩu nặng trên tay, những nụ cười rạng rỡ vừa vài phút trước còn nở trên môi các mẹ, các chị khi nhận phần ngô vượt khoán giờ đây đã hoàn toàn đông cứng. Mùi xôi ngô dẻo thơm, mùi đỗ tương luộc ngọt ngào bốc lên từ chiếc bàn liên hoan bỗng chốc trở nên đắng ngắt. Khói súng vô hình từ dải biên cương địa đầu Tổ quốc như vượt qua ngàn dặm núi non hiểm trở, xộc thẳng vào tâm can từng con người nơi đồng bằng châu thổ. An đứng bên cạnh Bình, các đầu ngón tay cô lạnh toát, nhưng bàn tay của người đàn ông bên cạnh lại nóng rực như than hồng. Cô ngước mắt nhìn chồng. Gương mặt vuông chữ điền của Bình đanh lại, từng đường gân nổi rõ dưới làn da ngăm sương gió. Ánh mắt anh dán chặt vào chiếc loa xám ngoét trên cành đa cổ thụ, đồng tử co rút lại, sắc lạnh và tập trung cao độ như cái ngày anh đứng trước tọa độ sạt lở đèo Mang Yang hay lúc băng qua tầm pháo Tây Nguyên. Với một người lính đã từng đi qua ranh giới giữa sự sống và cái chết, Bình hiểu rõ hơn ai hết cái giá của hai chữ “chiến tranh”. Nó không phải là khẩu hiệu in trên băng rôn đỏ, mà là máu, là thịt, là những chiếc áo trấn thủ đẫm bùn và những người mẹ già mất con trọn đời không còn nước mắt. Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát đứng trên bục gạch, chiếc bút máy Kim Tinh cài trên ngực áo bốn túi rung nhẹ theo từng nhịp thở dồn dập. Gương mặt tròn trĩnh thường ngày hay cười nói bỗng tái mét, đôi môi mấp máy vài lần nhưng không thốt nên lời. Tuy vậy, bản lĩnh của một người từng trải qua thời kháng chiến chống Pháp dần kéo ông trở lại với thực tại khắc nghiệt. Ông Khoát giơ tay lên, giọng trầm và dứt khoát: “Các đồng chí! Bà con xã viên! Tình hình đã chuyển sang thời chiến. Mọi niềm vui riêng, việc riêng tạm gác lại. Tôi yêu cầu các đồng chí trong Ban Quản trị, Bí thư các chi bộ và Đội trưởng bốn đội sản xuất ở lại đình họp khẩn cấp ngay bây giờ. Bà con xã viên ai về nhà nấy, kiểm tra lại hầm hào chữ A, chuẩn bị sẵn sàng xẻng cuốc, đèn dầu. Tuyệt đối không hoang mang, không tụ tập bàn tán lung tung!” Lời của ông Khoát như hồi chuông thức tỉnh cả sân đình. Tiếng bước chân vội vã, tiếng trẻ con khóc thét vì sợ hãi, tiếng phụ nữ gọi nhau í ới tạo thành một mớ âm thanh xao xác. Chị Đượm chạy vội đến nắm lấy tay An, đôi mắt đỏ hoe: “Em An ơi... Thằng Cán nhà chị... nó đóng quân tít trên đồn Pò Hèn, Móng Cái... Mấy tháng nay chưa thấy thư từ gì... Trời ơi là trời...” An ghì chặt bờ vai đẫy đà đang run rẩy của người bạn thân, giọng trầm tĩnh nhưng kiên định: “Chị Đượm, bình tĩnh lại đã. Anh Cán là lính công binh dạn dày, đồn lũy vững chắc, anh ấy sẽ tự biết bảo vệ mình. Lúc này ở hậu phương mình không được rối. Chị đưa u Mẫn về nhà trước giúp em, che chắn chuồng trại rồi nấu một ấm nước vối nóng. Em phải vào hội trường cùng anh Bình.” Chị Đượm gạt vội giọt nước mắt lăn dài trên má, gật đầu lia lịa rồi dắt bà cụ Mẫn – lúc này đôi chân già nua đang run lẩy bẩy – rời khỏi sân đình. Trước khi đi, u Mẫn ngoái lại nhìn Bình, ánh mắt người mẹ đầy nỗi lo âu thắt ruột, nhưng thấy con trai đứng sừng sững như một thân cây lim giữa bão giông, bà nén tiếng thở dài vào trong ngực áo nâu sồng. * Gian nhà tiền tế của ngôi đình cổ được tận dụng làm phòng họp dã chiến. Chiếc đèn măng-sông được thắp lên, tỏa ra thứ ánh sáng trắng gắt gao cùng tiếng xì xì khô khốc, soi rõ từng khuôn mặt căng thẳng tột độ. Cánh cửa gỗ lim nặng nề vừa khép lại thì bên ngoài có tiếng xe máy gầm rú. Chiếc xe Minsk đỏ quạch đầy bùn đất của huyện đội phanh kin kít ngoài thềm gạch. Đỗ Luận, Trưởng Công an xã, đầu đội mũ cối, vai đeo bao súng ngắn, bước nhanh vào phòng, tay cầm theo một chiếc cặp tài liệu da màu nâu có niêm phong sáp đỏ. Cùng đi với Luận là một cán bộ Huyện đội mặc quân phục Tô Châu bạc màu. “Báo cáo các đồng chí!” Giọng Luận vang lên đanh thép. “Huyện ủy và Ban Chỉ huy Quân sự huyện Chương Mỹ vừa truyền đạt Quân lệnh số 01. Toàn tỉnh Hà Sơn Bình bước vào trạng thái thời chiến cao nhất. Tiền tuyến đang chiến đấu ác liệt từng giờ, từng mét hào. Huyện ủy yêu cầu xã An Hòa thực hiện hai nhiệm vụ trọng yếu sống còn ngay lập tức.” Tất cả mọi người trong phòng đều nín thở, lắng nghe từng từ như nuốt lấy từng mệnh lệnh thiêng liêng. “Thứ nhất,” Luận nhìn sang Bình, ánh mắt đanh lại nhưng ánh lên niềm tin cậy tuyệt đối, “chấp thuận đề bạt của Thường vụ Huyện ủy: Đồng chí Trần Bình, thương binh hạng ba, đảng viên, nguyên trinh sát đặc công Quân đoàn 3, nay thôi kiêm nhiệm sản xuất trực tiếp, chính thức giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Lực lượng Dân quân Tự vệ xã An Hòa. Đồng chí Bình có trách nhiệm khẩn trương tập hợp toàn bộ lực lượng dân quân cơ động, tổ chức huấn luyện kỹ chiến thuật chiến đấu, bắn súng, ném lựu đạn, củng cố toàn bộ công sự hầm hào ven đê sông Đáy, đồng thời làm công tác tư tưởng, chỉnh huấn cho năm mươi thanh niên ưu tú chuẩn bị tòng quân đợt một chi viện cho Quân khu 1 và Quân khu 2!” Bình đứng bật dậy, tư thế nghiêm trang chuẩn mực của người lính quân đội nhân dân: “Báo cáo! Tôi chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh!” Người cán bộ Huyện đội gật đầu, bước tới bắt chặt tay Bình: “Đồng chí Bình, thời gian gấp gáp lắm. Tỉnh đội yêu cầu trong vòng bảy ngày tới, lứa tân binh đầu tiên phải hoàn thành khóa huấn luyện cấp tốc, bảo đảm bắn đạn thật đạt loại khá trở lên và có tinh thần thép trước khi xe đón lên biên ải. Gánh nặng này trông cậy cả vào đồng chí!” “Nhiệm vụ thứ hai,” Luận mở tập công văn hỏa tốc, giọng trĩu xuống bởi sức nặng của những con số, “về công tác hậu cần chi viện. Biên cương đang bước vào những ngày rét căm căm, đường sá vận tải bị pháo kích chia cắt. Huyện giao chỉ tiêu đột xuất cho xã An Hòa: Trong vòng mười ngày tới, phải tập kết, thu gom và bàn giao đủ năm mươi tấn lương thực khô sạch, chất lượng cao tại kho ga xe lửa thị trấn để xe hỏa bốc xếp thẳng lên phía Bắc. Yêu cầu tuyệt đối: Thóc, ngô phải đạt độ khô tiêu chuẩn dưới mười ba phần trăm, sạch mày bụi, không ẩm mốc, hạt mẩy, đóng bao bì hai lớp kín đáo. Nếu chậm trễ hoặc để xảy ra hư hao ẩm mốc làm ảnh hưởng đến bữa ăn của bộ đội tiền tuyến, Ban Quản trị Hợp tác xã sẽ phải chịu kỷ luật quân sự!” Một tiếng xôn xao nghẹn ngào bật ra từ các đội trưởng sản xuất. Năm mươi tấn! Trong vòng mười ngày! Giữa lúc vụ mùa vừa thu hoạch xong, bãi Soi tuy được mùa ngô đậu rực rỡ nhưng thóc chiêm vẫn còn đang nằm rải rác trong các hộ dân và kho tạm, chưa kịp phơi khô kỹ lưỡng. Đội trưởng Đội 1 vò đầu bứt tai: “Báo cáo Huyện đội và Chủ nhiệm, năm mươi tấn lương thực khô sạch đâu phải chuyện nhỏ! Thóc vụ này của ta mới gặt đợt một, trời mấy hôm nay oi nồng dở chứng, độ ẩm trong hạt còn cao ngất ngưởng. Muốn làm khô ngần ấy lương thực thì phải có ít nhất mười ngày nắng gắt, cả làng trải chiếu phơi từ sáng sớm đến chiều tà may ra mới kịp!” “Khó cũng phải làm!” Ông Khoát đập tay xuống bàn, ánh mắt cương quyết chưa từng thấy. “Tiền tuyến đổ máu giữ từng tấc đất, bộ đội trên chốt ăn lương khô nhịn khát đánh giặc, dưới này chúng ta có hạt thóc hạt ngô mà không đưa ra được thì còn mặt mũi nào nhìn đồng bào? Tôi đề nghị: Toàn bộ lượng ngô hạt bãi Soi vừa chia cho xã viên, vận động bà con cho hợp tác xã mượn lại một nửa, sau này huyện bù phân đạm và dầu hỏa trả sau. Đội 1, Đội 2, Đội 4 gom toàn bộ thóc thịt dự trữ. Đội 3 phụ trách sàng sảy, phân loại. Giao cho đồng chí Hoài An, phụ trách kỹ thuật bảo quản lương thực, trực tiếp kiểm tra chất lượng từng bao tải trước khi niêm phong!” An đứng dậy, nét mặt trầm tĩnh giữa cơn bão táp lo toan. Đôi mắt sáng của cô nhìn thẳng vào ông Khoát và người cán bộ Huyện đội: “Báo cáo các đồng chí lãnh đạo, tôi xin nhận nhiệm vụ. Nhưng để bảo đảm năm mươi tấn lương thực đạt chuẩn quân nhu trong mười ngày, chúng ta không thể làm theo cách thủ công rùa bò. Tôi cần toàn bộ sân đình, sân kho hợp tác và các bồ tre có lót cót ép để phân loại ngay trong đêm nay. Từng cân thóc vào kho phải được đo độ ẩm cẩn thận, hạt lép hạt sâu phải loại bỏ triệt để. Nếu bộ đội ta ăn phải hạt gạo mốc, sinh bệnh đường ruột giữa chiến hào thì tội của hậu phương không gánh nổi!” “Được! Ban Quản trị giao toàn quyền kiểm tra chất lượng kho bãi cho cô An!” Ông Khoát dứt khoát vung tay. Cuộc họp khẩn kết thúc khi bóng đêm đã đặc quánh. Gió từ sông Đáy thổi vào mang theo hơi lạnh rười rượi và sự căng thẳng ngột ngạt bao trùm khắp xóm thôn. * Đêm đó, gian nhà ba gian của Bình và An chỉ le lói một ngọn đèn dầu hỏa hoa kỳ. Bình ngồi trên chiếc chõng tre, tỉ mẩn tháo rời từng bộ phận của khẩu súng trường K63 cũ được Huyện đội cấp phát để làm giáo cụ huấn luyện. Tiếng kim loại va chạm lách cách đều đặn, khô khốc. Dưới ánh sáng vàng vọt, vầng trán cao và sống mũi thẳng của anh hằn lên những nét cương nghị. Chiếc ba lô cóc bằng vải bạt dù hoa rừng – kỷ vật đưa hài cốt anh Nam về từ Tây Nguyên – đã được u Mẫn giặt sạch, treo ngay ngắn trên cột nhà, bên cạnh chiếc mũ cối gắn ngôi sao vuông bằng nhôm của lực lượng dân quân. An bưng ra một bát nước gừng nóng pha chút mật mía, đặt nhẹ lên mép chõng tre bên cạnh anh. “Anh uống ngụm nước ấm đi. Cả chiều tới giờ anh chưa nuốt trôi hạt cơm nào vào bụng.” Bình dừng tay, ngước nhìn vợ. Ánh mắt anh mềm lại, tràn ngập sự yêu thương và xót xa. Anh kéo tay An, để cô ngồi xuống bên cạnh mình. Đôi bàn tay nhỏ nhắn của cô mấy ngày nay thoăn thoắt bấm bắp ngô bãi Soi, kiểm tra độ ẩm từng mớ đỗ tương, các đầu ngón tay đã khô ráp đi nhiều. “Mai anh phải dẫn đội dân quân cơ động ra bãi sông Đáy dựng lán trại dã chiến,” giọng Bình trầm ấm, thì thầm giữa màn đêm. “Huấn luyện tân binh bắn súng, lăn lê bò toài, đào công sự thời chiến khắc nghiệt lắm. Ngày tập chiến thuật, đêm tuần tra bảo vệ đê điều và kho tàng. Việc nhà, việc hợp tác... lại dồn hết lên vai mình rồi.” An mỉm cười nhẹ nhõm, ngả đầu tựa vào bờ vai vững chãi của chồng. Mùi mồ hôi mằn mặn quen thuộc quyện với mùi dầu lau súng hăng nồng từ người anh mang lại cho cô một cảm giác an lòng kỳ lạ giữa những xáo động của thời cuộc. “Anh đừng lo việc ở nhà. U có em chăm sóc, vườn tược bãi Soi đã vào nếp. Năm mươi tấn lương thực kia, dù khó khăn đến đâu em và bà con Đội 3 cũng sẽ lo đủ cho tiền tuyến. Anh chỉ cần dốc sức rèn giũa lũ trẻ cho thật vững. Chúng nó nhiều đứa mới mười tám, đôi mươi, chưa từng thấy mảnh đạn bay bao giờ. Anh rèn chúng nó nghiêm khắc một chút trên bãi tập, ra trận chúng nó mới giữ được mạng sống mà trở về.” Bình siết chặt lấy bàn tay vợ, cổ họng anh nghẹn lại. Anh đưa tay lên, nhẹ nhàng chạm vào chiếc kẹp tóc làm bằng vỏ đạn pháo mà An vẫn luôn cài gọn gàng bên mái tóc đen dày. Giữa hai con người từng đi qua những biến cố lớn lao, không cần những lời thề thốt đao to búa lớn. Tình yêu thời chiến của họ kết tinh từ sự thấu hiểu, lòng trung kiên và trách nhiệm gánh vác non sông. “An này...” Bình ngập ngừng, nhìn sâu vào đôi mắt đen láy của vợ. “Sau đợt này... nếu biên giới cần thêm quân số dự bị động viên... anh là cựu chiến binh, anh có thể sẽ...” An đưa ngón tay trỏ mềm mại đặt nhẹ lên môi anh, ngăn lời nói ấy lại. Cô nhìn anh, ánh mắt kiên định không hề dao động: “Anh đi đâu, em cũng đợi. Đất nước gọi thì anh cứ ngẩng cao đầu mà đi. Em ở hậu phương, tấc đất này em giữ, hạt lúa này em chăm, mẹ già em phụng dưỡng. Chỉ cần anh nhớ, nơi này luôn có em chờ anh trở về.” Bình ôm chặt lấy An vào lòng. Giữa tiếng côn trùng rả rích ngoài vườn chuối và tiếng bước chân tuần tra xa xa của đội tuần phòng, hai trái tim đập chung một nhịp đập thầm lặng nhưng cuộn trào sức sống mãnh liệt. * Những ngày tiếp theo, xã An Hòa như biến thành một công trường thời chiến thực thụ. Trên bãi bồi ven sông Đáy, tiếng còi sắt của Bình vang lên dồn dập, đanh gọn từ lúc tờ mờ sáng sương mù còn giăng kín mặt nước. Dưới sự chỉ huy nghiêm cẩn của người cựu trinh sát, năm mươi nam nữ thanh niên khoác trên mình những bộ quần áo nâu, áo bảo hộ màu cỏ úa vá chằng vá đụp, lăn xả trên bãi cát. Tiếng hô “Một! Hai!”, tiếng súng nổ giòn giã ở bãi bắn bia sau lũy tre, tiếng leng keng của xẻng cuốc đào hầm chữ A dọc theo triền đê rộn rã suốt từ sáng sớm đến tận lúc trời sẩm tối. Bình nghiêm khắc đến từng động tác: từ cách ngắm bắn đầu ruồi, cách bò trườn áp sát mặt đất để tránh mảnh pháo, cho đến kỹ năng sơ cứu thương binh bằng nẹp tre và lá thuốc rừng. Không một ai kêu ca, bởi nhìn thấy người chỉ huy của mình chân trái còn khập khiễng vì vết thương cũ nhưng vẫn thoăn thoắt vượt qua các chướng ngại vật, lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ trong họ bùng cháy dữ dội. Ở trong làng, không khí thu gom lương thực cũng sục sôi không kém. Sân đình An Hòa biến thành tổng hành dinh tiếp nhận ngũ cốc. Bà con xã viên gánh từng gánh ngô vàng óng từ bãi Soi về, các cụ già gom từng đấu thóc thịt cất kỹ trong chum vại mang ra ủng hộ hợp tác xã. Ai nấy đều ý thức được rằng, mỗi cân thóc nộp cho nhà nước lúc này là thêm một viên đạn, thêm một bát cơm nóng cho người lính giữ chốt trên đồn biên phòng Lạng Sơn, Vị Xuyên. Hoài An thoăn thoắt di chuyển giữa các bồ thóc khổng lồ. Với chiếc que thăm thóc bằng đồng tự chế và chiếc cân đòn nhẵn bóng, cô trực tiếp kiểm tra từng bao tải. An cẩn thận chọc sâu que thăm vào tận đáy bao, rút ra một nắm hạt, xoa nhẹ trên lòng bàn tay rồi đưa lên miệng cắn thử đánh “tách” một tiếng. Bằng kiến thức nông học thực nghiệm sâu sắc, cô chỉ cần ngửi mùi cám, cảm nhận độ gãy của phôi hạt là biết ngay khối hạt đó có độ ẩm bao nhiêu phần trăm. “Bao này đạt chuẩn, độ ẩm khoảng mười hai phần trăm, hạt mẩy, không có mọt. Cho nhập kho số một!” An hô lớn với người ghi sổ. “Còn sọt ngô này của Đội 2 chưa phơi kỹ, phôi hạt còn mềm, ẩm độ phải đến mười lăm phần trăm. Các chị mang ngay ra nong đảo lại, tuyệt đối không được đổ lẫn vào đống lớn kẻo sinh nhiệt hỏng cả kho!” Chị Đượm mồ hôi nhễ nhại, vừa quẩy đôi bồ ngô vừa thở hổn hển: “Gớm, cô An nhà ta khó tính như mẹ chồng khó tính với nàng dâu ấy! Cơ mà đúng thật, hôm qua đống ngô nhà lão Tiết để góc bếp quên không đảo, sáng nay sờ vào đã nóng ran như có than vùi bên trong.” An mỉm cười giải thích cho chị em: “Ngũ cốc sau thu hoạch tế bào hạt vẫn còn hô hấp mạnh lắm các chị ạ. Hạt ẩm mà ủ kín thì vi sinh vật và nấm mốc phát triển theo cấp số nhân, tự sinh nhiệt làm thối hạt từ bên trong. Mình kỹ tính một chút ở đây thì hạt gạo ra tiền tuyến mới để được hàng tháng trời trong hầm ẩm ướt mà không mốc meo.”Cứ thế, An miệt mài làm việc không ngừng nghỉ. Buổi trưa cô chỉ kịp ăn vội củ khoai luộc chấm muối vừng, chiều lại tất tả cùng đội cơ động bốc xếp các bao lương thực đã đạt chuẩn vào kho kín, kê cao trên các giát tre cách mặt đất ba mươi phân và rải vôi bột khử trùng xung quanh chân tường. Tuy nhiên, bắt đầu từ ngày thứ tư của đợt chiến dịch, An cảm thấy cơ thể mình có những biểu hiện rất lạ lùng. Những cơn chóng mặt bất chợt ập đến vào mỗi buổi sớm mai khi cô vừa bước chân xuống giường. Đứng giữa sân đình đầy bụi cám thóc, mùi cám khô nồng nặc và mùi dầu hỏa từ chiếc đèn măng-sông thường ngày cô vẫn quen thuộc bỗng nhiên xộc vào mũi khiến lồng ngực cô cồn cào, buồn nôn dữ dội. Đầu óc cô nhiều lúc váng vất, chân tay bủn rủn như người vừa ốm dậy. Nhưng nhìn đống lương thực ngổn ngang và chỉ tiêu năm mươi tấn đang đè nặng lên vai xã nhà, An chỉ nghĩ rằng mình bị kiệt sức do chuỗi ngày làm việc căng thẳng và thiếu ngủ kéo dài. Cô lén nuốt từng ngụm nước lã, bấm chặt huyệt phong trì sau gáy để xua tan cơn choáng váng rồi lại tiếp tục lao vào công việc. * Đến chiều ngày thứ sáu, khối lượng lương thực tập kết tại sân đình và các kho phụ đã lên tới gần bốn mươi tấn. Từng chồng bao tải được xếp ngay ngắn, cao ngút đầu người, tỏa ra mùi thơm ngọt ngào của ngô mới và thóc mùa khô ráo. Cả xã An Hòa như thở phào nhẹ nhõm, hy vọng hoàn thành chỉ tiêu trước hạn mười ngày đã nằm trong tầm tay. Trời về chiều bỗng trở nên ngột ngạt kỳ lạ. Không khí oi nồng, đặc quánh như sắp có dông lốc, dù đang giữa tiết cuối đông. Mồ hôi túa ra ướt đẫm lưng chiếc áo sơ mi bảo hộ màu cỏ úa của An. Cô bắc một chiếc thang tre, trèo l*n đ*nh của bồ thóc dự trữ lớn nhất đặt ở gian chái đình để kiểm tra nhiệt độ lớp hạt phía trên. Khi leo đến bậc thang thứ năm, một cơn buồn nôn dữ dội từ đáy dạ dày bỗng cuộn trào lên cổ họng. Đất trời trước mắt An bỗng nhiên chao đảo dữ dội, những bao thóc màu vàng nhạt nhòe đi, tiếng người nói chuyện lao xao dưới sân đình như bị hút vào một đường hầm hun hút, xa xăm. “An ơi! Coi chừng trượt chân!” Tiếng chị Đượm hét lên thất thanh. An cố gắng bám chặt lấy gióng thang tre, nhưng các đầu ngón tay cô bỗng mất hết cảm giác. Mắt cô tối sầm lại, một màn đen đặc quánh trùm xuống. Đôi chân cô mềm nhũn, cả cơ thể mảnh khảnh đổ nhào xuống từ trên thang. “Bắt lấy cô ấy! Mau lên!” May mắn thay, Khoa và Thao – hai thanh niên Đội 3 đang vác bao thóc bên dưới – kịp thời lao tới, đỡ trọn lấy thân người An trước khi cô chạm xuống nền gạch đá hoa buốt lạnh. An hoàn toàn bất tỉnh, gương mặt trắng bệch không còn một giọt máu, bờ môi khô khốc nứt nẻ. Cả sân đình náo loạn. Tiếng la hét, tiếng bước chân chạy rầm rập xé toang không gian tĩnh mịch. “Trời đất ơi! Cái An làm sao thế này? Mau gọi cấp cứu!” “Đồng chí Bình! Có ai chạy ra bãi sông gọi đồng chí Bình về ngay không!” Tin An ngất xỉu truyền ra bãi tập ven sông Đáy nhanh như một cơn gió lốc. Bình đang đứng trên ụ cát hướng dẫn chiến thuật ném lựu đạn thì thấy một đứa trẻ trong làng vừa chạy vừa thở không ra hơi, mồm lắp bắp: “Chú... chú Bình ơi... cô An... cô An ngã từ trên thang thóc xuống... ngất lịm rồi!” Chiếc còi sắt trên tay Bình rơi tuột xuống cát. Gương mặt người cựu chiến binh dạn dày sương gió trong tích tắc cắt không còn một hột máu. Trái tim anh thắt lại một cơn đau buốt nhói. Không kịp nói một lời, anh vứt bỏ chiếc gậy chỉ huy, xoay người lao như bay về phía con đê đầu làng. Chân trái hơi khập khiễng vì vết thương đạn sượt dường như không còn tồn tại dưới sức bật điên cuồng của bản năng yêu thương và sợ hãi tột cùng. Anh chạy băng qua những rặng tre, băng qua cánh đồng ngô xào xạc, trong đầu chỉ vang lên một ý nghĩ duy nhất: An không thể có chuyện gì! Cô là sinh mệnh, là tất cả của cuộc đời anh! Bình xô bật cánh cửa đình, th* d*c dữ dội, lồng ngực phập phồng như muốn nổ tung. Giữa gian nhà tiền tế, An đang được đặt nằm trên một chiếc chiếu hoa trải tạm. Bà cụ Mẫn ngồi bên cạnh, hai tay run rẩy xoa dầu cù là vào thái dương con dâu, nước mắt lưng tròng. Chị Đượm liên tục quạt nhẹ cho cô. Xung quanh, ông Khoát và các xã viên đứng vây kín, nét mặt ai nấy đều thảng thốt, lo lắng. “An! An ơi!” Bình quỳ sụp xuống bên cạnh chiếu, giọng anh lạc đi, run rẩy nắm lấy bàn tay lạnh ngắt của vợ. Bàn tay anh – bàn tay từng bóp cò súng hạ gục quân thù, từng bới đất tìm đồng đội – lúc này đang run lên bần bật vì sợ hãi. Đúng lúc đó, cụ lang Cảnh – một bậc cao niên tinh thông đông y, nguyên là y tá cứu thương thời chống Pháp – bước nhanh vào phòng, tay xách chiếc tráp gỗ đựng kim châm và thuốc cứu. “Tất cả lùi ra cho thoáng khí!” Cụ lang Cảnh nghiêm giọng. Mọi người vội vã tản ra, nhường không gian cho cụ lang già. Cụ ngồi xuống mép chiếu, cẩn thận vạch mí mắt An kiểm tra, sau đó đặt ba ngón tay gầy gò, khô khẳng lên lằn chỉ cổ tay mảnh khảnh của cô. Không gian trong đình chìm vào một sự im lặng tuyệt đối, ngột ngạt đến mức chỉ còn nghe thấy tiếng thở dồn dập của Bình và tiếng rít khẽ của ngọn đèn dầu. Bình nhìn chằm chằm vào từng biến đổi trên gương mặt già nua của cụ lang, từng giây trôi qua dài như hàng thế kỷ tra tấn tinh thần. Cụ lang Cảnh nhíu mày, đổi tay bắt mạch cổ tay bên kia của An. Rồi bỗng nhiên, đôi lông mày bạc trắng của cụ giãn ra. Một nụ cười đầm ấm, hiền từ từ từ nở trên khóe miệng nhăn nheo của ông cụ. Cụ vuốt chòm râu bạc, ngước nhìn Bình, rồi lại nhìn sang bà cụ Mẫn đang chắp tay khấn vái. “Thế nào hả cụ? Vợ cháu... vợ cháu bị làm sao? Có phải trúng độc hay kiệt sức quá không cụ?” Bình dồn dập hỏi, giọng nghẹn ứ nơi cổ họng. Cụ lang Cảnh bật cười khà khà, vỗ mạnh vào vai Bình một cái thật kêu: “Anh bộ đội đặc công này, đánh giặc thì giỏi mà việc nhà thì lơ đễnh quá! Vợ anh không trúng độc, cũng chẳng phải bệnh tật hiểm nghèo gì đâu!” Cụ dừng lại một nhịp, giọng dõng dạc và xúc động vang khắp gian đình: “Mạch thái đới, hỷ mạch lưu lợi như hạt châu lăn trên đĩa ngọc! Con bé An nó đã có tin vui rồi! Thai khí đã kết tụ được gần hai tháng, thai trạng rất tốt! Nó ngất đi là do ốm nghén, lại thêm mấy ngày nay làm lụng quá sức, ăn uống thất thường và ngửi phải mùi cám nồng bức bối mà thôi!” Một thoáng sững sờ tuyệt đối bao trùm căn phòng. Bình như bị sét đánh ngang tai, toàn thân anh đông cứng lại. Anh trố mắt nhìn cụ lang Cảnh, rồi từ từ quay sang nhìn người vợ đang nằm yên bình trên chiếu hoa, dường như chưa thể tin nổi vào tai mình. “Cụ... cụ nói thật chứ ạ? An... An mang thai rồi?” Bình lắp bắp, giọng nói run rẩy của một người đàn ông vừa nhận được báu vật lớn nhất của cuộc đời. “Thật chứ còn đùa anh à!” Cụ lang cười lớn. “Tôi bắt mạch cứu người bốn mươi năm nay, chẳng lẽ lại nhầm được cái mạch hỷ này sao? Mau đun một bát nước gừng ấm pha đường phèn cho nó uống, rồi đưa về nhà tĩnh dưỡng. Từ nay cấm tuyệt đối không được để nó leo trèo, khiêng vác nặng nữa!” “Trời Phật tổ cô phù hộ độ trì!” Bà cụ Mẫn òa khóc nức nở, vội vã chắp tay lạy bốn phương tám hướng. “Nhà họ Trần có phúc rồi con ơi! Nam mô A Di Đà Phật, hương hồn các cụ chứng giám!” Chị Đượm vỗ tay đánh đét một cái, cười vang cả sân đình: “Ôi làng nước ôi! Cái An có bầu rồi! Thế mà mấy hôm nay cứ giấu tiệt, làm chị mày sợ đứng cả tim!” Tiếng chúc mừng rộ lên râm ran khắp gian đình. Các mẹ, các chị xã viên ai nấy đều rạng rỡ, những nét căng thẳng thời chiến như tạm thời tan biến trước tin vui thiêng liêng của sự sống mới đang đâm chồi. Giữa những tiếng ồn ào hân hoan ấy, hàng mi cong dài của An khẽ rung rinh. Cô từ từ mở mắt ra. Cảm giác đầu tiên là bàn tay ấm nóng, run rẩy của Bình đang bọc trọn lấy tay cô, áp chặt lên má anh. Trên gò má sương gió của người lính dũng cảm ấy, An kinh ngạc nhìn thấy hai hàng nước mắt đang lăn dài. “Anh Bình... em... em bị sao thế?” An thều thào, giọng còn yếu ớt. Bình cúi rạp người xuống, áp trán mình vào trán cô, hơi thở anh ấm áp phả vào mặt cô, giọng nghẹn ngào trong niềm hạnh phúc vỡ òa: “An... Mình ơi... Chúng mình sắp có con rồi! Con của chúng mình... được gần hai tháng rồi em ơi!” An sững người. Bàn tay còn lại của cô bất giác đưa xuống, nhẹ nhàng chạm vào bụng dưới phẳng lặng của mình. Một sinh linh bé bỏng, kết tinh từ tình yêu mộc mạc và sự đồng cam cộng khổ của hai con người qua bao thăng trầm, đang âm thầm lớn lên trong cơ thể cô. Một dòng suối ấm áp, ngọt ngào lan tỏa khắp các mạch máu, xua tan mọi mệt mỏi rã rời. Cô nhìn vào mắt chồng, nở một nụ cười rạng rỡ, mãn nguyện giữa những giọt nước mắt hạnh phúc đang trào dâng. * Thế nhưng, giữa những năm tháng khốc liệt của lịch sử, niềm vui của con người chưa bao giờ trọn vẹn và dễ dàng. Bình vừa cẩn thận bế bổng An lên tay để đưa cô về nhà nghỉ ngơi, chuẩn bị bước qua bậu cửa đình thì bỗng nhiên, một luồng gió lạnh buốt từ phía đông bắc thổi thốc vào, mang theo mùi tanh nồng của hơi nước sông Đáy. Trời đất tối sầm lại một cách bất thường. Những đám mây xám xịt, nặng trĩu từ đâu ùn ùn kéo về, che khuất hoàn toàn chút ánh sáng le lói cuối cùng của buổi hoàng hôn. Rồi, những hạt nước li ti bắt đầu rơi xuống. Không phải là một cơn mưa rào mùa hạ xối xả rồi tạnh ngay, mà là thứ mưa phùn dầm dề, dai dẳng và độc hại đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ khi bước vào đợt rét nàng Bân nồm ẩm kỷ lục. Gió đổi hướng cuốn theo những hạt mưa bụi giăng mắc khắp sân đình. Nền gạch Bát Tràng vừa mới ráo hoảnh lúc chiều bỗng chốc đẫm ướt, nhớp nháp hơi nước như đổ mồ hôi. Không khí trở nên đặc quánh, độ ẩm tăng vọt lên mức tối đa. Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát hốt hoảng lao ra giữa sân đình, ngửa mặt nhìn lên bầu trời đen kịt, rồi thò tay vào một bao thóc vừa tập kết bên hiên ngoài. Khuôn mặt ông Khoát lập tức biến sắc, méo mó đi vì kinh hãi. “Chết rồi! Nồm trời rồi! Mưa phùn dầm dề thế này thì gay to rồi bà con ơi!” An nghe tiếng kêu thảng thốt, vội níu lấy vai áo Bình: “Anh Bình, thả em xuống!” Bình đặt An đứng tựa vào cột đình lim vững chãi. An nhìn ra ngoài sân. Toàn bộ năm mươi tấn thóc và ngô – bao gồm cả phần lương thực của hợp tác xã vừa gom về đang chất đống chờ đóng bao – đều đang bị bủa vây bởi màn mưa phùn ẩm ướt. Với kiểu thời tiết nồm ẩm “ch** n**c” này, nếu không có nắng để phơi, chỉ trong vòng bốn mươi tám đến bảy mươi hai giờ tới, khối ngũ cốc khổng lồ này sẽ tự bốc men, hấp hơi nóng hầm hập. Hạt thóc sẽ nứt nanh, đâm mầm trắng xóa, nấm mốc đen nấm mốc xanh sẽ bao phủ toàn bộ kho lương thực! Mười ngày ấn định giao nộp năm mươi tấn lương thực khô sạch cho hỏa tuyến chỉ còn lại bốn ngày ngắn ngủi. Tiếng súng biên cương đang gầm vang đòi hỏi từng hạt gạo chi viện, mà kho lương thực cứu mạng lại đang đứng trước nguy cơ thối rữa hoàn toàn trước mắt họ! , , vn, live , vn

Bạn cũng là tác giả hoặc dịch giả?

Đăng sáng tác hoặc bản dịch của riêng bạn lên Say Truyện — miễn phí, chỉ mất vài phút.

Đăng truyện ngay

Bình luận (0)

Đang tải bình luận...