Xuyên không thập niên 70
Chương38: Tro cốt người về, mùa vàng gõ cửa
Cỡ chữ
Mùi khói dầu ma-zút nồng nặc hòa lẫn với hương đất đỏ ba-zan ẩm ướt bốc lên từ gầm chiếc Zil-130 khiến lồng ngực Trần Bình nghẹn lại. Đôi ủng cao su dã chiến của anh lún sâu xuống lớp bùn nhão nơi chân dốc đê làng An Hòa. Toàn thân anh ê ẩm rã rời sau chặng đường dài hàng nghìn cây số đằng đẵng từ rẻo cao Tây Nguyên về lại đồng bằng, nhưng vết thương cũ nơi bắp chân trái – dẫu đang nhức buốt từng cơn vì ngấm nước mưa lạnh – cũng chẳng thể ngăn nổi bước chân anh dồn dập hướng về phía triền đê.
Nơi đó, bóng dáng mảnh khảnh quen thuộc đang đứng lặng giữa màn mưa phùn mờ mịt.
Chiếc áo tơi lá cọ khoác trên vai cô đã ướt đẫm, vạt áo dán chặt vào tấm thân gầy gò rộc đi trông thấy. Dưới vành nón mê nghiêng nghiêng, gương mặt An trắng bợt vì những đêm thức trắng và nỗi âu lo vắt kiệt sức lực, nhưng đôi mắt cô – đôi mắt sáng ngời và sâu thẳm như giếng nước đầu làng – đang nhìn trừng trừng vào anh, ngập tràn sự bàng hoàng rồi vỡ òa trong nỗi nghẹn ngào khôn xiết.
Bình nuốt khan một ngụm nước bọt mặn chát nơi cuống họng. Đôi bàn tay thô ráp, chai sần vì báng súng và cán cuốc của anh run rẩy siết chặt lấy quai chiếc ba lô bọc vải dù hoa rừng đang đeo lệch trước ngực. Anh khập khiễng bước từng bước dài leo lên bờ dốc.
“An!”
Tiếng gọi bật ra khỏi lồng ngực Bình, trầm đục và run rẩy, xé toang tiếng mưa ràn rạt trên vòm lá tre ngà.
An không đáp. Cô buông rơi chiếc gậy tre đang chống trên tay, lao thẳng xuống dốc đê trơn trượt. Đôi dép cao su mòn vẹt bấm chặt vào nền đất sét đỏ. Trước khi Bình kịp đưa tay đỡ, cô đã nhào vào lòng anh. Đôi bàn tay nhỏ bé, lạnh ngắt và thô ráp những vết xước bùn đất của An bấu chặt lấy mép áo dã chiến cứng đờ bùn đất của anh, bờ vai nhỏ rung lên bần bật trong từng tiếng nấc nghẹn.
“Anh về thật rồi... Bình ơi... Anh không sao thật rồi...” Giọng An lạc đi, hơi thở ấm nóng của cô phả vào hõm cổ anh, hòa lẫn với những giọt nước mắt nóng hổi thấm qua lớp vải bạt bạc màu.
Bình ôm chặt lấy An bằng cánh tay phải rắn như sắt nguội, tay kia vẫn cẩn trọng giữ chặt bọc hành lý trước ngực như giữ lấy sinh mệnh của chính mình. Anh vùi cằm vào mái tóc thơm mùi bồ kết và khói bếp của vợ, cảm nhận rõ rệt từng đốt xương sườn gầy guộc của cô đang run rẩy. Suốt sáu ngày đêm bị cô lập giữa tâm lũ đèo Mang Yang, giữa những tiếng gầm gào của núi lở và những dòng thác đất bùn đỏ quạch chực nuốt chửng cả trung đội công binh, hình bóng duy nhất níu giữ tâm trí anh, tiếp thêm sức mạnh cho anh bám trụ chính là gương mặt này, ánh mắt này.
“Tôi về rồi. Anh về với em rồi đây,” Bình thì thầm bên tai vợ, giọng anh khản đặc sau chuỗi ngày gào thét trong mưa bão chỉ huy dọn đường. “Đừng khóc nữa... Ngoan nào, u ở nhà thế nào rồi em?”
“U qua cơn nguy kịch rồi, thuốc sắc của cụ lang và cháo hoa gừng đã giúp u hồi tỉnh. Mấy hôm nay u cứ lần tràng hạt khấn suốt...” An ngước lên, đôi mắt đỏ hoe nhìn chăm chú vào từng vết trầy xước trên gương mặt sạm đen vì nắng gió chiến trường của chồng. Rồi ánh mắt cô rơi xuống bọc vải dù hoa rừng buộc dây dù cẩn mật trước ngực anh. Đồng tử cô khẽ co lại, hơi thở dồn dập ngưng trệ: “Anh... cái này...”
Bình buông nhẹ An ra một chút, ánh mắt anh chùng xuống, trang nghiêm và đượm một nỗi đau đớn thiêng liêng. Anh cẩn thận dùng hai tay nâng bọc hành lý lên, khẽ gật đầu:
“Anh đã tìm thấy anh Nam rồi. Nằm ở mé đồi phía tây cao điểm Đắk Tô, đúng theo sơ đồ và chiếc bi-đông của thầy. Đội K53 và Tỉnh đội đã phối hợp cất bốc trọn vẹn. Lũ quét tràn qua chia cắt đường 19, đất đá vùi lấp cả xe công binh, anh phải ôm ba lô này lội bộ ngược suối ba mươi cây số để đón chuyến xe chuyển vận của Quân đoàn 3... Anh Nam... anh ấy về với đất mẹ rồi, An ạ.”
Nghe đến đó, An đưa đôi bàn tay run rẩy sờ lên lớp vải bạt. Qua lớp dù hoa rừng và lá cờ Tổ quốc đỏ thắm lót bên trong, cô chạm vào chiếc quách gỗ nhỏ bằng danh mộc Tây Nguyên. Những giọt nước mắt kìm nén bấy lâu vỡ òa, cô quỳ sụp xuống vệ cỏ ven đê, ôm lấy kỷ vật của người anh trai đã ngã xuống trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh vệ quốc.
Tin Trần Bình trở về bình an vô sự và mang theo hài cốt liệt sĩ Nguyễn Hoài Nam lan nhanh như một ngọn lửa dọc theo triền đê sông Đáy.
Chỉ trong vòng mười lăm phút, từ khắp các ngõ xóm, bà con xã viên Đội 3, rồi cả bà con Đội 1 bồng bế, dắt díu nhau ùa ra chật kín đầu làng. Đồng chí Đỗ Luận mặc nguyên bộ cảnh phục sũng nước mưa, dẫn đầu tốp dân quân chạy tới, trang nghiêm giơ tay chào điều lệnh trước chiếc ba lô phủ cờ đỏ sao vàng. Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát thở không ra hơi, chiếc mũ cối kẹp nách, đôi mắt giàn giụa nước vì vừa mừng cho đứa cháu rể dũng cảm thoát chết trở về, vừa kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn người lính trinh sát.
Chiều hôm ấy, một lễ đón nhận và an táng hài cốt liệt sĩ trang nghiêm chưa từng có đã diễn ra tại Nghĩa trang Liệt sĩ xã An Hòa.
Trời mưa phùn bỗng ngớt hạt, nhường chỗ cho một khoảng trời hanh hao vàng vọt của buổi hoàng hôn cuối xuân. Cụ Khiêm đứng bên miệng huyệt mới đào, tấm áo lương the đen phủ trên dáng người gầy cộc run lên từng chặp. Đôi bàn tay cụ run rẩy áp vào chiếc bi-đông nhôm sứt sẹo có khắc ba chữ cái “H-N-A” mà Bình vừa trao lại. Nước mắt của người cha già từng trải qua bao cuộc tao loạn lặng lẽ rớt xuống nắp quách gỗ.
“Về là tốt rồi... Con về được với đồng bãi quê hương, về với dòng sông Đáy là tốt rồi con ơi...” Cụ Khiêm nghẹn ngào, giọng trầm ấm như muốn ru người con trai đã nằm lại nơi rừng thiêng nước độc suốt bốn năm ròng yên giấc ngàn thu.
U Mẫn được chị Đượm và mấy chị em phụ nữ Đội 3 dìu đứng bên cạnh. Bà cụ sụt sùi chấm vạt áo nâu lau nước mắt, thắp từng nén hương trầm thơm ngát cắm lên nấm mộ mới đắp. Hương trầm bảng lảng quyện vào làn khói lam chiều, phủ lên vùng nghĩa trang một vẻ ấm áp lạ kỳ. Đứng bên cạnh An, Bình nắm chặt lấy bàn tay lạnh buốt của vợ. Những ngón tay của An dần ấm lại trong lòng bàn tay anh. Một gánh nặng tâm linh đè nặng lên gia đình cụ Khiêm suốt bao năm qua cuối cùng đã được trút bỏ, để lại sự thanh thản và niềm tự hào sâu lắng trong lòng mỗi người dân An Hòa.
*
Sau ngày đón anh Nam về đất mẹ, nhịp sống khẩn trương của vụ chiêm xuân lại cuốn phăng đi những giọt nước mắt đau thương, thay vào đó là sự sôi động, hối hả của một mùa vàng đang độ chín rộ.
Vết thương ở chân Bình qua bàn tay chăm sóc, đắp thuốc lá bàng và bôi cao nghệ của An chỉ ba ngày sau đã se miệng, không còn sưng tấy. Vừa chống gậy đi lại vững vàng, Bình đã lập tức khoác chiếc áo bảo hộ màu cỏ úa bạc phếch, cùng An ra thẳng bãi Soi.
Đứng trên mặt đê nhìn xuống, cảnh tượng trước mắt khiến Bình sững sờ, tim anh đập thình thịch những nhịp rộn rã đầy kinh ngạc.
Mười lăm mẫu bãi bồi ven sông Đáy – nơi mà chỉ mấy tháng trước còn là bãi đất pha cát khô cằn, sỏi đá lổn nhổn, chỉ có cỏ may và lau sậy còi cọc – nay đã biến thành một dải lụa vàng xanh bát ngát, tràn trề nhựa sống. Dưới ánh nắng vàng như mật ong của những ngày cuối tháng tư, từng hàng ngô răng ngựa cao vượt đầu người, thân cây mập mạp, chắc nịch như những cây mía tím, thẳng tắp tắp tắp theo từng luống quy củ. Những bắp ngô to bằng bắp tay người lớn, râu ngô chuyển sang màu nâu sẫm, vỏ bẹ bên ngoài đã khô se, để lộ ra những hạt ngô mẩy tròn, vàng óng ả chen chúc nhau kín mít đến tận đầu bắp.
Xen kẽ dưới chân các gốc ngô, tầng thấp là thảm đậu tương xanh rờn đang độ già cỗi chuẩn bị thu hoạch. Những chùm quả đậu dày đặc, sai trĩu từ gốc lên đến ngọn, bọc một lớp lông tơ mịn màng óng ả. Đất phù sa dưới gốc nhờ lớp thảm phủ vi sinh bèo hoa dâu kỵ khí mà An dày công hướng dẫn bà con ủ từ đầu vụ nay tơi xốp lạ thường, đen nhánh màu mỡ, bốc lên mùi thơm ngai ngái của mùn hữu cơ chứ không hề khô cứng nứt nẻ như các khu ruộng lân cận.
“Anh thấy thế nào?” An đứng bên cạnh, nghiêng đầu nhìn anh, nụ cười rạng rỡ nở trên gương mặt đã có lại chút hồng hào tươi tắn.
Bình cúi người xuống, bẻ thử một bắp ngô bên rìa luống. Bắp ngô nặng trịch trên tay. Anh dùng ngón tay cái tách lớp vỏ bẹ khô khốc, để lộ ra những hàng hạt đều chằn chặn như bắp răng ngọc, bấm móng tay vào nghe một tiếng tách giòn giã, nhựa bột ngô trắng ngà tươm ra thơm phức.
“Kỳ diệu quá, An ơi...” Bình lẩm bẩm, giọng anh run lên vì xúc động. Là một người lính trở về làm nông dân, gắn bó với đồng ruộng An Hòa từ thuở cắt rốn chôn rau, chưa bao giờ anh thấy ngô bãi bồi lại đạt được tầm vóc và độ mẩy hạt phi thường như thế này. “Đất bãi Soi chưa bao giờ cho bắp ngô to đến thế này! Đợt rầy nâu hôm trước... không để lại chút tì vết nào sao?”
Chị Đượm từ luống trong lội ra, nón quai thao hất ngược ra sau lưng, hai tay ôm một bó cành đậu tương sai lúc lỉu, cất tiếng cười giòn tan:
“Anh Bình ơi là anh Bình! Anh phải hỏi xem cô An nhà anh đã thức mấy đêm liền, chế ra cái thứ thuốc trừ sâu từ tỏi ớt với nước vôi tro bếp thần tình thế nào chứ! Hôm ấy mà không có cô An chỉ huy, rồi Đội 1 kéo sang trợ lực, thì đám rầy nâu nó xơi tái cái dải băng số bốn rồi! Giờ thì anh nhìn xem, cả bãi Soi mười lăm mẫu, đố anh tìm thấy một bắp nào bị sâu đục hay hạt lép đấy!”
Bình quay sang nhìn vợ. Ánh mắt anh tràn ngập sự khâm phục và lòng biết ơn vô hạn. Anh hiểu rõ, đằng sau sự trù phú rực rỡ của bãi Soi hôm nay không chỉ có mồ hôi nước mắt của mười bốn hộ xã viên Đội 3, mà trên hết là trí tuệ, là bản lĩnh kiên cường của An – người phụ nữ đã một mình gánh vác cả gia đình lẫn tập thể trong những ngày tháng anh cận kề cái chết nơi rừng sâu.
Đúng lúc đó, tiếng kẻng đồng từ đ**m canh đê vang lên dồn dập, giòn giã:
“Keng! Keng! Keng! Keng...”
Đó là hiệu lệnh thu hoạch của Đội sản xuất số 3.
Từ trên triền đê, hơn năm mươi con người – gồm mười bốn hộ nòng cốt của Đội 3, cùng hàng chục thanh niên, phụ nữ Đội 1 được điều động sang hỗ trợ gặt đổi công – rầm rộ túa xuống bãi bồi. Tiếng cười nói, tiếng liềm hái va vào nhau xủng xoảng xua tan hoàn toàn không khí vắng lặng của triền sông.
“Bắt đầu thu hoạch thôi bà con ơi!” Bình dằn chiếc nạng tre sang một bên, đứng thẳng người trên bờ mương dẫn nước, cất giọng sang sảng chỉ huy như một vị tướng trận. “Tổ một thu hoạch ngô bẻ bắp, phân loại tại ruộng! Tổ hai cắt gốc đậu tương, gom thành từng bó chuyển lên bờ phơi! Chú ý giữ lại toàn bộ thân cây ngô và rễ đậu để băm nhỏ ủ phân xanh cho vụ sau!”
“Rõ rồi, đội trưởng ơi!” Tiếng đáp vang dội khắp cánh đồng.
Trận chiến thu hoạch diễn ra tưng bừng như một ngày hội lớn. Những đôi bàn tay thoăn thoắt bẻ từng bắp ngô chắc nịch quẳng vào sọt tre. Tiếng bắp ngô gãy rắc rắc rộn ràng khắp các luống đất. Những chiếc xe cải tiến ken két lăn bánh trên bờ vùng bờ thửa, chất đầy ắp những ngọn đồi ngô vàng rực. Đậu tương được gánh từng gánh kĩu kịt lên sân kho hợp tác xã, trải rộng trên những tấm cót đan bằng tre nứa để đón nắng.
Không khí lao động hăng say kéo dài liên tục suốt ba ngày ròng rã.
Mỗi buổi trưa, An lại cùng chị Đượm và u Mẫn gánh những nồi nước chè xanh om lá sen thơm ngát cùng rổ khoai lang luộc bốc khói nghi ngút ra tận bờ ruộng tiếp sức cho bà con. Nhìn mọi người vừa ăn khoai vừa tấm tắc khen hạt ngô Đội 3 năm nay ngọt đậm, hạt đỗ tròn vo béo ngậy, lòng Bình dâng lên một niềm kiêu hãnh khôn tả.
Đến chiều ngày thứ tư, công việc thu hoạch và tuốt hạt cơ bản hoàn tất. Sân kho Đội 3 chật ních những bao tải cói và cót quây chứa đầy ngô hạt đã phơi se và đậu tương mẩy tròn.
Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát dẫn đầu Ban Quản trị Hợp tác xã cùng kế toán trưởng xách chiếc cân tạ chân quỳ và chiếc bàn tính gẩy bằng gỗ mun xuống tận sân kho để trực tiếp chỉ đạo cân đong, nghiệm thu sản lượng.
Mặt trời xế bóng, ánh hoàng hôn nhuộm đỏ rực sân kho. Chiếc kim đồng hồ cân tạ nhảy tanh tách sau mỗi bao ngô được đặt lên bàn cân. Tiếng hạt bàn tính kêu lách cách giòn giã dưới bàn tay thoăn thoắt của cô kế toán:
“Bao thứ một trăm hai mươi... Sáu mươi mốt cân!”“Bao thứ một trăm hai mươi mốt... Sáu mươi cân rưỡi!”
Càng cộng dồn con số, mắt Chủ nhiệm Khoát càng mở to ra sau cặp kính lão trễ xuống tận sống mũi. Đôi môi ông mấp máy, bàn tay cầm chiếc bút máy Kim Tinh run rẩy ghi chép vào cuốn sổ tay bìa cứng. Khi con số tổng kết cuối cùng được xướng lên, toàn bộ sân kho bỗng chốc im bặt trong một giây, rồi vỡ òa thành những tiếng reo hò dậy đất.
“Báo cáo Chủ nhiệm! Báo cáo Ban Quản trị!” Cô kế toán hét lên, giọng lạc đi vì phấn khích: “Mười lăm mẫu bãi Soi thu hoạch tổng cộng được hai mươi tư tấn ngô hạt khô sạch và bảy tấn rưỡi đậu tương loại một! Đạt năng suất kỷ lục ba mươi mốt tạ trên một héc-ta đối với ngô, vượt một trăm sáu mươi phần trăm chỉ tiêu kế hoạch huyện giao!”
“Một trăm sáu mươi phần trăm!”
Chủ nhiệm Khoát giật phắt chiếc kính lão ra khỏi mắt, vỗ đùi đánh đét một cái, mặt đỏ bừng bừng vì xúc động. Ông bước vội tới, nắm chặt lấy hai vai Bình rồi quay sang nắm lấy bàn tay An:
“Tuyệt vời! Tuyệt vời lắm hai cháu ơi! Đây là năng suất cây màu cao nhất toàn huyện Chương Mỹ từ ngày thành lập hợp tác xã đến nay! Để bác tính... Để bác tính ngay!” Ông Khoát hoa chân múa tay, lật giở trang sổ tính toán nghĩa vụ: “Chỉ tiêu vụ chiêm toàn xã An Hòa phải nộp kho Lương thực Nhà nước là mười hai tấn ngũ cốc. Đội 3 các cháu một mình đã gánh trọn vẹn nghĩa vụ cho cả xã, nộp đủ mười hai tấn ngô hạt loại A khô nỏ, không mọt mốc! Huyện ủy mà biết tin này, danh hiệu Đơn vị Thi đua Xuất sắc năm nay chắc chắn không thể lọt khỏi tay xã ta!”
Bình đứng bên cạnh, đưa mắt nhìn An, trong lòng trào dâng một cảm xúc khó tả. Anh hắng giọng, tiến lên một bước, cất lời nhắc nhở đầy khéo léo:
“Báo cáo bác Chủ nhiệm, theo đúng tinh thần nghị quyết nội bộ của Ban Quản trị và bản quy chế khoán thí điểm mà Chi ủy đã phê duyệt... Sau khi hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ giao nộp lương thực cho Nhà nước mười hai tấn ngô, và trích nộp đủ ba tấn vào quỹ phúc lợi và hạt giống dự phòng của hợp tác xã, thì toàn bộ sản lượng vượt khoán còn lại...”
Chủ nhiệm Khoát khựng lại một nhịp, nhìn quanh sân kho. Nơi đó, mười bốn hộ xã viên Đội 3 – những con người từng run rẩy điểm chỉ vào bản cam ước sinh tử dưới bàn thờ gia tiên nhà họ Trần – đang nín thở dõi theo từng cử chỉ của ông. Ánh mắt họ khắc khoải, tha thiết nhưng cũng đầy kiên định. Họ đã đổ mồ hôi, đã đối mặt với bão lũ, sâu bệnh và cả những lời dèm pha nghi kỵ để làm nên kỳ tích này.
Ông Khoát thở hắt ra một hơi dài, nụ cười đôn hậu bỗng rạng rỡ trên khuôn mặt hằn sâu những nếp nhăn thời gian. Ông vung tay, giọng dõng dạc sang sảng giữa sân kho:
“Được! Ban Quản trị giữ đúng lời hứa! Toàn bộ chín tấn ngô dôi dư và bảy tấn rưỡi đậu tương loại một sẽ được chia đều theo tỷ lệ công lao động và định mức khoán cho mười bốn hộ xã viên Đội 3! Ai làm nhiều hưởng nhiều, ai đổ mồ hôi thì người đó được no ấm! Cân đong chia ngay tại sân kho tối nay!”
Tiếng reo hò của bà con xã viên Đội 3 như muốn làm nổ tung mái ngói sân kho hợp tác. Chị Đượm ôm chầm lấy An, hai người phụ nữ vừa cười vừa khóc. Những người đàn ông chai sạn như anh Khoa, anh Thao cũng không giấu nổi những giọt nước mắt lăn dài trên gò má xạm đen.
Đêm hôm đó, làng An Hòa không ngủ.
Những chiếc xe cút kít, xe cải tiến kĩu kịt chở ngô, chở đỗ về từng con ngõ nhỏ. Dưới ánh sáng vàng vọt của những chiếc đèn bão và ngọn đèn dầu lạc, gian bếp của mỗi gia đình Đội 3 đều sáng rực lửa. Từng cót ngô vàng óng ả được quây cao ngất ngưởng ngay giữa gian nhà ba gian; những bao tải đậu tương căng tròn được xếp ngay ngắn trên các sập gỗ khô ráo.
Nhà nào nhà nấy thơm lừng mùi ngô mới. Cảnh tượng nồi cơm độn sắn củ mục đắng ngắt, những bữa cháo loãng cầm hơi của những mùa giáp hạt triền miên trong quá khứ đã vĩnh viễn bị xua tan. Mỗi hộ gia đình nhận về hơn sáu tạ ngô hạt và hơn năm tạ đậu tương – một gia tài khổng lồ đủ để nuôi sống cả gia đình đàng hoàng qua trọn vẹn mùa giáp hạt, thậm chí còn dư dả để nuôi thêm lợn thịt, gà đẻ trứng và đổi lấy nhu yếu phẩm cần thiết.
Tại gian nhà ba gian của vợ chồng Bình, u Mẫn ngồi bên hiên, đôi bàn tay gầy guộc tỉ mẩn tẽ từng hạt ngô mẩy tròn thả vào chiếc mẹt tre, tiếng hạt ngô rơi lách tách như tiếng mưa rào mùa hạ. Cụ Khiêm ngồi trên phản gỗ lim, nhấp một ngụm trà mạn thơm ngát, ngắm nhìn hai góc nhà chất đầy những bao tải lương thực khô sạch, ánh mắt cụ ánh lên niềm mãn nguyện khôn cùng.
Bình và An đứng bên khung cửa sổ nhìn ra vườn cây. Gió đêm từ sông Đáy thổi về mát rượi, xào xạc qua tán ổi sau vườn – nơi chôn giấu chiếc ống nứa đựng bản cam ước khoán hộ an toàn tuyệt đối.
Bình khẽ vòng tay qua eo An, kéo cô tựa sát vào lồng ngực mình. Dưới ánh trăng thanh vằng vặc của đêm cuối xuân, anh khẽ đưa tay chạm vào chiếc kẹp tóc bằng vỏ đạn pháo trên mái tóc cô.
“Cảm ơn em, An,” Bình thì thầm, giọng anh trầm ấm, chan chứa yêu thương. “Nếu không có em, không có những tính toán tỉ mỉ và lòng can đảm của em, Đội 3 không thể có được ngày hôm nay. Anh cũng không biết mình có còn cơ hội trở về để đứng ở đây nhìn thấy mùa vàng này hay không.”
An ngước nhìn chồng, ánh mắt cô lấp lánh phản chiếu ánh trăng rằm:
“Đó là công sức của tất cả mọi người, của anh, của u, của bà con xóm giềng tin tưởng chúng mình. Em chỉ làm những gì một người vợ, một xã viên phải làm thôi. Từ nay, nhà mình không còn phải lo đói ăn nữa rồi anh ạ.”
Bình siết chặt vòng tay hơn một chút, áp má mình vào mái tóc mềm mại của vợ. Trong khoảnh khắc ấy, anh cảm thấy cuộc đời mình chưa bao giờ trọn vẹn và bình yên đến thế. Mọi gian nan, bom đạn, đói khổ dường như đã lùi lại phía sau, chỉ còn lại sự gắn kết máu thịt và một tương lai ấm no đang mở ra trước mắt.
*
Tối hôm sau, một bữa tiệc liên hoan mừng vụ chiêm thắng lợi chưa từng có được tổ chức ngay tại sân đình làng An Hòa.
Không khí náo nhiệt như hội làng thời xưa. Hai nồi quân dụng khổng lồ luộc ngô ngọt bốc khói nghi ngút, thơm lừng khắp xóm. Đậu tương rang cát vàng giòn rụm được chia ra từng đĩa nhỏ đặt trên các bàn dài kê bằng ván gỗ tạp. Những ấm nước chè tươi đặc sánh sủi bọt tăm, khói thuốc lào Tiên Lãng bốc lên nghi ngút dưới mái đình cổ kính rêu phong.
Toàn thể xã viên Đội 3, Đội 1 cùng đông đảo bà con trong làng tề tựu đông đủ. Tiếng cười nói, tiếng chúc tụng râm ran, tiếng cụ giáo Khiêm ngâm vịnh mấy câu thơ cổ về cảnh thái bình thịnh trị khiến không gian tràn ngập niềm hân hoan rạng rỡ.
Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát hôm nay phấn khởi ra mặt. Ông mặc bộ đồ đại lễ phẳng phiu, túi áo cài chiếc bút máy Kim Tinh sáng loáng. Sau khi uống cạn bát nước chè xanh sóng sánh, ông đứng dậy, bước ra giữa gian tiền tế của ngôi đình.
Ông giơ tay ra hiệu cho toàn thể hội trường trật tự. Tiếng bàn tán dần lắng xuống, hàng trăm ánh mắt đổ dồn về phía người đứng đầu hợp tác xã.
“Thưa toàn thể bà con xã viên, thưa các đồng chí cán bộ đảng viên!” Giọng ông Khoát dõng dạc, đầy vẻ tự hào và xúc động. “Thắng lợi giòn giã của Đội 3 trên bãi Soi vụ chiêm này đã chứng minh một chân lý thực tiễn: Khi đất đai được gắn liền với trách nhiệm và quyền lợi của người lao động, khi khoa học kỹ thuật được áp dụng đúng đắn, thì tấc đất thực sự biến thành tấc vàng! Mô hình khoán sản phẩm đến nhóm hộ mà đồng chí Trần Bình và đồng chí Hoài An khởi xướng không hề đi chệch đường lối, mà trái lại, nó đang làm sống dậy sức mạnh tập thể!”
Bà con bên dưới vỗ tay rào rào, tiếng huýt sáo tán thưởng vang dội.
Ông Khoát mỉm cười, hít một hơi thật sâu, chuẩn bị đưa ra tuyên bố mang tính lịch sử của xã nhà:
“Chính vì vậy, thay mặt Ban Quản trị Hợp tác xã và sau khi đã xin ý kiến định hướng từ đồng chí Bí thư Đảng ủy xã, tôi xin chính thức tuyên bố: Ngay trong vụ mùa tới đây, Hợp tác xã An Hòa sẽ nhân rộng phương án khoán sản phẩm bãi Soi ra toàn bộ bốn đội sản xuất trong toàn xã! Chúng ta sẽ...”
Lời Chủ nhiệm Khoát chưa kịp dứt điểm thì bỗng nhiên, từ trên ngọn cây đa cổ thụ đầu làng, chiếc loa phóng thanh bằng nhôm tráng men xám ngoét – vốn chỉ phát nhạc hiệu vào năm giờ sáng và sáu giờ chiều – bất ngờ rung lên bần bật.
“Rẹt... Rẹt... Ù... Ục...”
Tiếng rít chói tai của sóng vô tuyến từ đài truyền thanh huyện truyền về xé toang bầu không khí hân hoan náo nhiệt trong sân đình. Toàn bộ tiếng cười nói, tiếng vỗ tay lập tức ngưng bặt. Hàng trăm con người đồng loạt ngước mắt nhìn lên chiếc loa treo lơ lửng trên cành đa.
Bình cảm nhận được sống lưng mình lạnh toát. Với trực giác nhạy bén của một người lính trinh sát dạn dày sương gió, anh nhận ra ngay sự bất thường: Đây là tần số phát sóng khẩn cấp ngoài giờ định kỳ.
Sau tiếng tút dài chói gắt, giọng nói của nữ phát thanh viên Đài Tiếng nói Việt Nam vang lên, không còn vẻ êm dịu thường ngày mà dồn dập, đanh thép và chấn động từng ngõ ngách:
“...Alo! Alo! Đây là buổi phát thanh đặc biệt của Đài Tiếng nói Việt Nam! Phát thanh từ Hà Nội, thủ đô nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam... Thông cáo đặc biệt khẩn cấp của Chính phủ: Tình hình an ninh trên toàn tuyến biên giới phía Bắc đang diễn biến hết sức căng thẳng và nguy cấp! Quân thù đã bất ngờ nổ súng khiêu khích, pháo kích dữ dội vào các đồn biên phòng và bản làng thuộc các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Hoàng Liên Sơn... Xung đột vũ trang quy mô lớn đã bùng phát trên diện rộng! Tiền tuyến đang anh dũng chiến đấu, quân và dân cả nước chuyển sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất! Tất cả vì tiền tuyến, tất cả để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc!...”
Tiếng loa dõng dạc, nghẹn ngào rồi chìm dần trong tiếng quân nhạc hành khúc oai hùng nhưng trĩu nặng không khí thời chiến: “Đoàn vệ quốc quân một lần ra đi... Toàn thắng vinh quang ghi ngày trở về...”
Cả sân đình An Hòa chìm vào một sự im lặng tuyệt đối, ngột ngạt đến nghẹt thở.
Bát nước chè trên tay ai đó rơi xuống nền gạch vỡ toang đánh “choảng” một tiếng khô khốc. Nụ cười rạng rỡ trên môi Chủ nhiệm Khoát đông cứng lại, gương mặt ông tái nhợt đi trong tích tắc. Những người mẹ, người vợ có con em đang đóng quân ở các tỉnh biên cương thảng thốt ôm chầm lấy nhau, mắt dại đi vì kinh hoàng.
Bình từ từ đứng thẳng dậy.
Ánh mắt cương nghị của người cựu chiến binh Tây Nguyên bỗng lóe lên một tia sáng sắc lạnh như thép tôi trong lửa đỏ. Anh siết chặt nắm đấm, cảm nhận rõ rệt từng thớ thịt trên cơ thể mình đang căng cứng lại trước lời hiệu triệu của non sông. Bên cạnh anh, bàn tay An run rẩy tìm đến bàn tay anh, đan chặt những ngón tay nhỏ nhắn vào nhau.
Bình quay sang nhìn vợ. Giữa bầu không khí ngưng trệ và mùi khói súng vô hình dường như đang từ phương Bắc xa xôi tràn về đồng bằng, anh hiểu rằng, những ngày tháng yên ả của mùa vàng vừa gõ cửa đã chính thức khép lại.
Một cuộc thử thách sinh tử mới, dữ dội và khốc liệt hơn ngàn lần, đang ập xuống đôi vai của họ và cả đất nước.
, , vn, live
,
vn
Bình luận (0)
Đang tải bình luận...