Xuyên không thập niên 70
Chương27: Rào đê chặn dịch
Cỡ chữ
Gió bấc rít từng cơn qua những ngọn tre khẳng khiu ngoài bãi, thổi dạt đám mưa phùn lạnh buốt vào tận hiên lán. Trong gian chuồng trâu của Đội 3, sự ấm áp vừa nhen nhóm bỗng chốc như bị một gáo nước lạnh tạt thẳng vào, đông cứng lại.
Đồng chí cán bộ thú y huyện vẫn quỳ sụp dưới nền trấu, hơi thở phì phò ra từng luồng khói trắng, cả người ướt sũng bùn đất nhão nhoét. Tin dữ mà anh ta mang tới từ vùng hạ lưu sông Đáy tựa như một tiếng sét giữa trời đông giá rét.
“Đồng chí nói rõ lại xem nào!” Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát lảo đảo bước tới, hai bàn tay run rẩy túm chặt lấy bả vai áo mưa của người cán bộ thú y, giọng lạc hẳn đi: “Bên Thụy Hương với Đồng Tân... tình hình thực sự đến mức nào rồi?”
Người cán bộ thú y nuốt khan một ngụm nước bọt, giọng nghẹn lại:
“Thảm lắm bác Khoát ơi! Mới chớm từ ba hôm trước, ban đầu chỉ một vài con trâu sốt cao, bỏ ăn, nước dãi chảy ròng ròng như kéo bọt xà phòng. Thế rồi chỉ qua hai đêm rét đậm, mầm độc lây lan như dầu loang. Sáng nay tôi đạp xe qua thôn Thượng bên ấy, cả một dãy chuồng trâu tập thể tiếng rống thảm thiết vang tận đầu làng. Miệng chúng nó loét đỏ lòm, niêm mạc lột từng mảng to bằng bàn tay, lưỡi sưng vù không nuốt nổi một cọng rơm. Đau đớn nhất là móng chân... mủ vàng chảy ròng ròng, kẽ móng nứt toác, có con long cả móng ra, chỉ còn trơ cùi thịt dính đầy bùn đất, đau quá không đứng nổi phải quỵ xuống rồi nằm chết dần chết mòn trong phân rác!”
Mấy chị em Đội 3 đứng quanh nghe tả đến đấy thì rùng mình, mặt ai nấy tái mét. Chị Đượm bất giác đưa tay bụm miệng, mắt mở to kinh hãi.
Ở vùng quê châu thổ sông Hồng này, con trâu là đầu cơ nghiệp. Con trâu kéo cày, đạp lúa, bừa ải, gánh vác cả vận mệnh của mùa màng. Mất một con trâu đã là đại tang của một đội sản xuất, huống chi cả đàn ngã bệnh ngay trước thềm vụ cày cấy chiêm xuân. Nếu sức kéo bị tê liệt hoàn toàn, đất đai bỏ hoang, thì chỉ vài tháng nữa thôi, bóng ma của nạn đói giáp hạt sẽ bóp nghẹt từng mái nhà trong xã An Hòa.
“Thuốc... thế trạm thú y huyện có phân bổ thuốc kháng sinh về không?” Ông Khoát lắp bắp, trán vã mồ hôi hột dù gió rét đang rít từng hồi ngoài vách bạt: “Tôi... tôi sẽ ký giấy sang cửa hàng mậu dịch, rút toàn bộ tiền quỹ dự phòng của hợp tác xã để mua!”
Người cán bộ thú y chỉ lắc đầu tuyệt vọng, đôi môi thâm sì run rẩy:
“Lấy đâu ra thuốc hở bác! Cả kho thuốc của huyện chỉ còn vài lọ penixilin quá hạn từ thời chống Mỹ, kim tiêm còn rỉ sét. Thuốc bột sát trùng thì hết nhẵn từ tháng trước. Trên Ty Nông nghiệp tỉnh cũng đang cháy hàng vì dịch bùng phát cùng lúc ở mấy huyện ven sông. Dân bên Đồng Tân giờ chỉ biết nhìn trâu chết trong bất lực, người ta bắt đầu lén mổ thịt chui, rồi thả rông những con ốm dặt dẹo ra bãi đê cho nó tự sinh tự diệt. Đàn trâu bệnh chạy loạn khắp triền sông, gặp bãi cỏ nào gặm bãi ấy... Nước sông Đáy chảy xuôi mang theo mầm dịch, người đi chợ chạy loạn mang theo mầm dịch... Xã ta nằm ngay sát vách, làm sao mà thoát nổi trời ơi!”
Một sự im lặng nặng nề bao trùm. Tiếng nhai rơm ràn rạt của đàn trâu Đội 3 dường như cũng chùng xuống trước linh cảm chẳng lành. Ông Khoát thẫn thờ buông tay, ngồi bệt xuống một khúc gỗ mục bên cạnh cửa lán, đôi mắt đờ đẫn nhìn ra màn mưa mịt mùng. Vừa mới phút trước, ông còn mừng rỡ vì Đội 3 cứu được đàn trâu khỏi rét hại, thì phút này, vực thẳm diệt vong đã mở toang ngay trước mắt.
Giữa lúc mọi người hoang mang tột độ, Hoài An khẽ bước lên một bước. Gương mặt cô vẫn giữ được vẻ điềm tĩnh lạ lùng, đôi mắt sáng ánh lên tia nhìn sắc bén của một người làm khoa học.
Trong tâm thức của một kỹ sư công nghệ sinh học thế kỷ 21, An hiểu quá rõ: lở mồm long móng là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi-rút thuộc họ
Picornaviridae
gây ra. Loại vi-rút này có khả năng lây lan khủng khiếp qua đường hô hấp, tiếp xúc trực tiếp, qua giọt bắn nước bọt, và đặc biệt là tồn tại dai dẳng trong chất thải, đất bùn bám vào móng chân súc vật hay đế dép của con người. Nhưng nó lại có một điểm yếu chí mạng: cực kỳ nhạy cảm với nhiệt độ cao, môi trường kiềm mạnh hoặc axit mạnh, và dễ dàng bị bất hoạt bởi các hợp chất tự nhiên có hàm lượng tannin cao.
Thời đại bao cấp này thiếu thốn thuốc tây, không có vắc-xin ngoại nhập, nhưng đồng đất bờ bãi Việt Nam lại không hề thiếu những thảo dược chứa chất kháng sinh thực vật tự nhiên. Điều cốt tử lúc này không phải là ngồi than khóc chờ thuốc của huyện, mà là phải lập tức thiết lập hàng rào ngăn chặn sự lây nhiễm chéo và chuẩn bị sẵn phương tiện phòng hộ dã chiến.
An quay sang nhìn chồng. Trần Bình như bắt được suy nghĩ của vợ, ánh mắt anh đanh lại, sự quyết đoán của người lính từng xông pha trận mạc bừng lên. Anh gật đầu với cô một cái đầy tin cậy.
“Bác Khoát!” Giọng An cất lên, trong trẻo nhưng rành rọt, chặt chẽ từng chữ, kéo bừng sự chú ý của mọi người: “Bác đừng hoảng. Con trùng độc này tuy hung dữ, nhưng cháu từng nghe các cụ lang già và cán bộ quân y thời chiến tranh kể lại, nó chỉ lây mạnh khi trâu bò tiếp xúc gần, hoặc dẫm phải bãi phân, bãi nước dãi của con ốm. Nó sợ vôi bột, sợ nước chát và sợ hơi nóng. Chúng ta hoàn toàn có thể chặn đứng nó từ ngoài đê!”
Ông Khoát ngẩng phắt đầu lên, như người chết đuối chộp được ngọn cỏ:
“Cháu... cháu nói thật chứ An? Chặn bằng cách nào giữa cái đồng không mông quạnh này?”
“Phải lập tức ban bố tình trạng báo động đỏ toàn xã và thiết lập vòng vây cách ly ba tầng!” An dõng dạc nói, từng phương án được vạch ra mạch lạc như một bản kế hoạch tác chiến: “Thứ nhất, lập ngay trạm gác dã chiến trên mặt đê sông Đáy và các ngã ba đường dẫn vào xã An Hòa. Cử dân quân túc trực hai mươi tư trên hai mươi tư giờ, tuyệt đối cấm người ngoài lùa gia súc lạ vào địa bàn.
Thứ hai, ra lệnh cấm triệt để việc chăn thả gia súc tự do. Toàn bộ trâu bò của cả ba đội sản xuất phải bị nhốt chặt trong chuồng, ăn rơm khô và cháo cám nấu chín tại chỗ, uống nước giếng khơi gánh về, không được cho uống nước sông Đáy hay nước mương hở lúc này!
Thứ ba, rải vôi bột khử trùng trên tất cả các tuyến đường huyết mạch. Cửa ngõ mỗi xóm, trước cổng mỗi chuồng trâu phải đào một hố nông rải rơm khô tẩm đẫm nước vôi đặc. Bất kể ai, từ cán bộ xã đến bà con đi làm đồng về, xe thồ, xe đạp, đều phải lội qua hố vôi này để diệt sạch mầm độc dính dưới đế dép, bánh xe!”
Nghe An nói một mạch khúc chiết, khoa học mà lại vô cùng thực tế, người cán bộ thú y huyện há hốc mồm kinh ngạc. Anh ta làm chuyên môn ở huyện bao năm, cũng chỉ biết trông chờ vào chỉ tiêu phân phối thuốc của tỉnh, chưa từng nghe ai đưa ra một quy trình kiểm dịch đồng bộ, chặt chẽ và quyết liệt đến nhường này ngay tại cấp cơ sở.
Bình lập tức bước lên đứng cạnh vợ, bàn tay rắn rỏi đập mạnh xuống bàn tay còn lại:
“Cháu đồng ý với ý kiến của nhà cháu! Thưa Chủ nhiệm, phòng bệnh hơn chữa bệnh. Đội 3 chúng cháu xin nhận nhiệm vụ chốt chặn đoạn đê giáp ranh Thụy Hương ngay trong buổi trưa nay. Nhưng bác phải dùng quyền Chủ nhiệm phát loa toàn xã, yêu cầu Đội 1 và Đội 2 cũng phải lập tức dọn chuồng, nhốt trâu và rải vôi bột. Nếu để một đội lơ là làm lây lan ổ dịch, cả xã sẽ cùng chết chìm!”
Ánh mắt kiên định của đôi vợ chồng trẻ dường như truyền cho ông Khoát một luồng sinh khí mới. Cái vẻ lúng túng, bạc nhược biến mất, bản lĩnh của người cán bộ từng kinh qua kháng chiến trỗi dậy. Ông Khoát bật dậy, chỉnh lại chiếc mũ bông:
“Được! Nghe lời vợ chồng đồng chí Bình! Tôi sẽ lên ngay trạm truyền thanh xã, cho mở hết công suất loa phóng thanh để thông báo chỉ thị khẩn! Vôi bột trong kho hợp tác xã còn ba tấn dự trữ xây lò gạch, tôi cho mở kho xuất hết! Bình, cậu chỉ huy lực lượng Đội 3 lập chốt đê! An, việc sát trùng chuồng trại bằng mẹo dân gian, tôi giao toàn quyền cho cháu chỉ đạo chị em phụ nữ!”
“Rõ!” Bình giơ tay chào theo tác phong quân ngũ.
Tiếng kẻng báo động của xã An Hòa trưa hôm ấy gõ dồn dập khác thường. Từng hồi kẻng
keng... keng... keng...
vang vọng qua màn mưa phùn, xuyên qua những rặng tre, xé toạc sự u uất của ngày đông giá rét.
Trên loa phóng thanh treo trên ngọn cây đa đầu làng, giọng ông Khoát oang oang phát đi mệnh lệnh phong tỏa kiểm dịch dã chiến. Cả xã An Hòa bừng tỉnh sau cơn ngái ngủ ngày Tết, không khí khẩn trương như bước vào một chiến dịch chống giặc ngoại xâm.
Tại Đội 3, dưới sự chỉ huy của Bình, các thanh niên khỏe mạnh lập tức chia thành hai mũi. Một mũi mang theo xẻng, cọc tre, dây thừng và vôi bột lao thẳng lên triền đê sông Đáy để lập hàng rào rào đê và dựng lán canh dã chiến. Họ đào rãnh ngang mặt đê, đổ đầy trấu mục rồi rắc trắng xóa một lớp vôi bột dày ba tấc, biến con đường độc đạo thành một cửa ải khử trùng nghiêm ngặt.
Trong khi đó, ở hậu phương Đội 3, An nhanh chóng tập hợp chị em phụ nữ lại trong sân kho.
Gió bấc vẫn thổi từng cơn buốt nhói, nhưng trán An lấm tấm mồ hôi vì bận rộn. Cô nhìn quanh một lượt những gương mặt đang lo âu của các bà, các chị, cất giọng ấm áp nhưng đầy uy quyền:
“Các u, các chị! Mầm bệnh này tuy vô hình nhưng chúng ta có thuốc trị ngay quanh bờ rào nhà mình. Bây giờ, chị Đượm dẫn một nhóm mang liềm và thúng ra dọc các con đường xóm, trèo hái hết những lá bàng già, lá bàng bánh tẻ rụng hoặc sắp rụng. Càng già, càng đỏ càng tốt! Một nhóm khác đi chặt vỏ cây xoan đâu và hái thật nhiều lá trầu không già. Vỏ xoan có chất đắng diệt giòi bọ, lá bàng và trầu không có vị chát ngắt giúp làm se vết thương, diệt sạch mầm độc trong miệng và móng chân trâu!”
Chị Đượm nghe thế thì vỗ đùi đánh đét một cái, mặt mày tươi tỉnh hẳn:
“Tưởng cái gì cao sang chứ lá bàng với vỏ xoan thì làng ta bạt ngàn! Đi thôi các chị em ơi, cứu trâu nhà mình, cứu bát cơm của con mình!”
Lời kêu gọi mộc mạc của chị Đượm làm tan biến nỗi sợ hãi. Hơn ba mươi phụ nữ trong đội lập tức chia nhau tỏa đi khắp ngõ ngách. Tiếng chân huỳnh huỵch trên đường làng, tiếng liềm giật cành cây, tiếng gọi nhau í ới át cả tiếng gió rít.
Chỉ trong vòng hai tiếng đồng hồ, sân kho Đội 3 đã chất thành từng đống cao ngút ngàn những gánh lá bàng đỏ ối, những bao tải lá trầu không cay nồng và từng khúc vỏ xoan xù xì bốc mùi hăng hắc.
An cho người khiêng ba chiếc chảo gang đại chuyên dùng nấu chè kho ngày hội làng đặt lên các bếp lò dã chiến ngoài trời. Củi gộc được nhóm lên, ngọn lửa đỏ rực bập bùng xua tan cái rét cắt da cắt thịt.
Lá bàng được vò nát, rải từng lớp dày vào chảo cùng với vỏ xoan băm nhỏ và một lượng muối hạt vừa phải. Nước giếng khơi trong vắt được múc đổ ngập chảo. Chẳng mấy chốc, ba chiếc chảo gang khổng lồ sôi sùng sục, bốc lên những cuộn hơi nước màu nâu sẫm, đặc quánh và thơm nồng một mùi chát gắt đặc trưng của chất tannin đậm đặc.
An cầm một chiếc gậy tre dài cẩn thận khuấy đều chảo nước. Cô đứng sát miệng lò, hơi nóng phả vào làm đôi má rám nắng của cô ửng hồng.
Nhìn vào chảo nước thuốc đang sôi cuồn cuộn, An khẽ mỉm cười tự tin. Hợp chất tannin tự nhiên khi gặp protein ở vết thương hở sẽ lập tức kết tủa tạo thành một màng bảo vệ sinh học vững chắc, vừa ngăn chặn vi-rút xâm nhập sâu vào máu, vừa làm khô ráo các vết lở loét và chống hoại tử cực kỳ hiệu quả. Kết hợp với tro bếp tôi vôi có tính kiềm mạnh, đây chính là thứ “vắc-xin sát trùng” rẻ tiền mà thần kỳ nhất mà thiên nhiên ban tặng cho người nông dân nghèo.
“Nước được rồi đấy các chị!” An cất tiếng: “Múc ra từng xô gỗ, để nguội bớt cho ấm rồi chia nhau mang vào chuồng trâu!”
Một quy trình chăm sóc đặc biệt được triển khai nhịp nhàng dưới sự hướng dẫn tỉ mỉ của An.
Từng con trâu trong lán Đội 3 được các xã viên dắt ra mép chuồng. Chị Đượm dùng một chiếc khăn vải màn sạch nhúng vào chậu nước muối loãng pha phèn chua ấm, nhẹ nhàng lau sạch bọt dãi quanh mép và trong khoang miệng trâu. Con trâu ngoan ngoãn đứng yên, dường như cảm nhận được sự chăm sóc ân cần của con người nên chỉ khẽ chớp đôi mắt to tròn ươn ướt.
Sau đó, An trực tiếp bưng xô nước lá bàng đặc quánh, ấm nóng đến bên từng chân trâu. Cô hướng dẫn bà con dùng chổi đóm nhúng đẫm nước thuốc, cọ rửa kỹ càng từng kẽ móng, từng gót chân của gia súc. Những chỗ da non có dấu hiệu sưng đỏ lập tức được rửa sạch chất bẩn. Cuối cùng, An rắc lên kẽ móng một lớp bột mịn gồm tro bếp sạch trộn lẫn vôi bột đã tôi khô theo tỷ lệ vàng, rồi dùng bao tải sạch quấn nhẹ quanh cổ chân trâu để giữ ấm và ngăn bùn bẩn.“Thế này thì con trùng độc nào mà chui vào móng mày được nữa hả c* Trâu!” Bác Cả Sắn vừa vỗ vỗ vào cặp mông béo múp của con trâu mộng Đội 3 vừa cười rạng rỡ, những nếp nhăn nơi đuôi mắt giãn ra: “Cô An chu đáo quá! Từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ, tôi mới thấy trâu được ngâm chân nước thuốc lá bàng thế này đấy!”
Cả gian lán rộn rã tiếng cười nói, xóa tan hoàn toàn bầu không khí tang thương ảm đạm lúc ban trưa. Đàn trâu hăm tư con của Đội 3 sau khi được ngâm chân sát trùng và ăn no cháo nóng thì thong dong nằm nhai rơm trên lớp đệm trấu ấm sực, da dẻ bóng mượt, hơi thở đều đặn và khỏe khoắn.
*
Đến chiều muộn, mưa phùn bắt đầu nặng hạt hơn. Mặt đất nhão nhoét bùn lầy, nhiệt độ ngoài trời tiếp tục tụt dốc, gió lạnh thấu tận xương tủy. Theo lệnh cấm vận và phong tỏa kiểm dịch, toàn bộ xã viên không được phép ra đồng cày ải hay chăn thả gia súc.
Những ngày rét mướt giam chân người trong nhà thường là chuỗi ngày u ám nhất ở nông thôn thời bao cấp. Khi không có công điểm, không có việc làm đồng, người ta chỉ biết ngồi co ro bên bếp lửa đếm từng hạt thóc vơi dần trong hũ, nỗi âu lo về tiền than củi, tiền mua mắm muối cứ thế gặm nhấm tâm can.
Thế nhưng, tại gian nhà ba gian của gia đình An và Bình, không khí lại ấm cúng và bận rộn lạ thường.
Ngay từ hôm qua, khi biết sắp có đợt rét đậm kéo dài và nhớ lại lời dặn của kỹ sư Hoàng Tuấn trên Ty Nông nghiệp về đơn hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu sang Đông Âu của Ty Ngoại thương, An đã bàn với Bình xin ý kiến Ban Quản trị cho mượn kho mây tre dự trữ của hợp tác xã về làm nghề phụ.
Giữa gian nhà chính, một chậu than củi hồng rực tỏa hơi ấm xua tan giá buốt. Bà cụ Mẫn ngồi trên chiếc chõng tre vấn lại dải khăn nhung, miệng bỏm bẻm nhai trầu, đôi mắt hiền từ dõi theo con dâu. Xung quanh chiếc chiếu cói trải rộng trên nền đất nện, chị Đượm, thím Ba cùng mấy cô gái trẻ trong Đội 3 đang ngồi quây quần, tay thoăn thoắt cầm từng thanh nan mây dẻo quánh.
“Các chị nhìn này,” An ngồi ở đầu chiếu, đôi bàn tay thon thả thoăn thoắt luồn từng sợi mây trắng ngà qua những nan tre cật đã được vót nhẵn thín: “Hàng xuất khẩu sang các nước bạn đòi hỏi kỹ thuật cao hơn rổ rá ta dùng ở nhà nhiều lắm. Nan phải vót thật đều tay, không được để lại xơ dăm làm xước tay người ta. Khi đan nong mốt, nong đôi phải nén thật chặt tay để các đường nan khít rịt lại, nước không lọt qua được. Phần miệng làn phải dùng dây mây bánh tẻ quấn theo kiểu vặn thừng ba tao, vừa chắc chắn vừa tạo thành một đường viền gợn sóng đẹp mắt.”
An vừa làm mẫu vừa giải thích từng công đoạn một cách tỉ mỉ, kiên nhẫn. Bằng sự khéo léo và óc thẩm mỹ hiện đại, cô đã cải tiến mẫu làn mây thô kệch truyền thống thành những chiếc giỏ xách tay thanh lịch, có quai đeo uốn cong duyên dáng và nắp đậy khít khao hình vòm cuốn. Những chiếc rổ sảo đựng hoa quả cũng được đan theo họa tiết hoa thị tinh xảo, trông vừa mộc mạc lại vừa sang trọng.
Chị Đượm cầm một chiếc nan mây uốn thử, miệng tấm tắc:
“Cha mẹ ơi, cái nan mây này qua tay cái An uốn một cái mà nhìn như bông hoa nở thế này! Đan thế này thì mấy ông Tây bà đầm bên kia đại dương nhìn thấy chả mê tít thò lò!”
“Chị chỉ được cái khéo mồm!” Thím Ba cười mắng yêu, nhưng tay cũng nhanh nhẹn bắt chước theo từng nút đan của An: “Cơ mà công nhận, nhờ có cô An bày vẽ cho cái nghề này, mấy ngày rét mướt ngồi không ở nhà lại hóa ra hay. Mỗi cái làn này giao cho mậu dịch huyện, trừ tiền cốt tre cật mây đi, chị em mình cũng kiếm được vài hào mua mắm muối, lại thêm cân than hoa về sưởi cho con trẻ!”
“Không chỉ vài hào đâu thím ạ,” An ngẩng lên cười tươi, ánh mắt lấp lánh niềm hy vọng: “Anh Tuấn trên tỉnh bảo với nhà cháu rồi, nếu đợt này Đội 3 chúng ta đan đạt tiêu chuẩn chất lượng loại A, Ty Ngoại thương sẽ ký hợp đồng bao tiêu dài hạn trong suốt cả năm 1978. Họ sẽ cấp hạn ngạch chỉ tiêu mua thêm vải bảo hộ, dầu hỏa và đường cát cho đội sản xuất chúng ta nữa đấy!”
Lời An nói như thổi một luồng gió xuân ấm áp vào lòng từng người phụ nữ nghèo. Tiếng cười nói giòn tan rộn rã cả gian nhà tranh. Tiếng lách cách của những thanh nan tre, tiếng xào xạc của những sợi mây uốn lượn hòa cùng tiếng lửa than nổ tí tách, tạo nên một bản hòa tấu lao động ấm áp, bình yên đến lạ kỳ giữa mùa đông khắc nghiệt.
Bà cụ Mẫn khẽ thở phào nhẹ nhõm, đưa tay vuốt chỏm tóc bạc của mình, ánh mắt tràn ngập niềm tự hào nhìn đứa con dâu đảm đang. Từ ngày An về làm dâu họ Trần, gian nhà này lúc nào cũng đỏ lửa, ấm no và rộn rã tiếng cười, cái nghèo cái đói dường như tự động lùi xa ngoài ngưỡng cửa.
Gần nửa đêm, chị em trong xóm mới lục tục chia nhau ôm những bó nan mây về nhà để tranh thủ đan thêm bên bếp lửa. Gian nhà trở lại vẻ tĩnh mịch quen thuộc.
Bình từ ngoài trạm gác đê trở về. Chiếc áo trấn thủ của anh ướt đẫm sương đêm, đôi ủng cao su dính đầy đất vôi trắng xóa. Anh cởi bỏ lớp áo khoác ngoài, rón rén bước lại gần bếp than, sợ làm kinh động giấc ngủ của mẹ già trong buồng trong.
An vội buông chiếc làn mây đang đan dở xuống, rót một bát nước chè xanh gừng nóng hổi đưa cho chồng:
“Anh uống đi cho ấm người. Tình hình ngoài trạm gác đê thế nào rồi anh? Có con trâu lạ nào lọt qua không?”
Bình đón lấy bát nước, hai bàn tay thô ráp áp chặt vào thành bát để tìm kiếm chút hơi ấm. Anh nhìn vợ, ánh mắt chan chứa sự thương yêu và khâm phục:
“Yên tâm rồi em ạ. Hàng rào vôi bột của em phát huy tác dụng tốt lắm. Chiều nay có hai người buôn chuyến từ bên Thụy Hương dắt theo một con bò gầy định đi đường tắt qua bãi bối vào xã ta, nhưng tổ tuần tra đã phát hiện và kiên quyết yêu cầu họ quay đầu đi đường vòng lớn. Bác Khoát cũng đã cử thêm mười dân quân các đội khác thay phiên nhau cắm chốt. Tạm thời xã ta vẫn là một ốc đảo an toàn.”
Anh đặt bát nước xuống, rồi ngồi thụp xuống bên cạnh An. Nhìn thấy những đầu ngón tay nhỏ nhắn của vợ có vài vết xước dăm do vót mây, Bình khẽ thở dài xót xa. Anh nhẹ nhàng cầm lấy bàn tay An, đưa lên miệng hà hơi ấm, rồi dùng những ngón tay chai sần x** n*n nhè nhẹ cho cô đỡ mỏi:
“Cả ngày nay em vất vả quá rồi. Hết chỉ đạo nấu nước thuốc sát trùng cho cả trăm con trâu, lại ngồi cả buổi tối dạy chị em đan lát. Em cứ ôm đồm hết việc thế này, anh xót lắm...”
Cảm nhận được hơi ấm và tình cảm chân thành, vụng về mà sâu nặng của chồng, tim An run lên một nhịp đập êm đềm. Cô tựa nhẹ đầu vào bờ vai vững chãi của anh, khẽ lắc đầu:
“Em không mệt đâu mình ạ. Thấy đàn trâu của đội được bình an, thấy các chị, các u có thêm việc làm để kiếm đồng ra đồng vào mua thức ăn cho gia đình, em vui lắm. Xã hội thời này còn nhiều khó khăn, nếu ai cũng chỉ biết vun vén cho riêng mình thì làm sao mà cùng nhau vượt qua nổi cơn hoạn nạn này hở anh?”
Bình siết chặt bàn tay vợ trong lòng bàn tay mình, lặng lẽ ngắm nhìn gương mặt thanh tú dưới ánh lửa bập bùng. Người phụ nữ này, với tất cả sự thông tuệ, tấm lòng nhân hậu và bản lĩnh kiên cường, chính là món quà vô giá mà số phận đã bù đắp cho cuộc đời đầy rẫy vết thương chiến tranh của anh.
Đêm càng về khuya, không gian càng trở nên tĩnh mịch đến rợn ngợp. Ngoài trời, tiếng gió bấc gầm rít qua rặng tre bên bờ sông Đáy nghe như tiếng gầm gừ của một loài dã thú vô hình. Mưa phùn dày đặc phủ một lớp sương mù trắng xóa, lạnh buốt lên toàn bộ thôn xóm. Ngọn đèn dầu hoa kỳ trên bàn le lói tỏa ra một quầng sáng vàng mờ ảo.
Hai vợ chồng vừa định tắt đèn đi nghỉ thì bỗng nhiên...
“Ùm bò... bò... o... o!”
Một tiếng trâu rống thảm thiết, nghẹn ngào và đứt quãng đột ngột xé toạc màn sương đêm tĩnh mịch!
Tiếng kêu không phát ra từ khu chuồng ấm áp của Đội 3, mà vang lên từ phía bờ rào râm bụt rậm rạp ngăn cách giữa ngõ xóm Đội 3 và cánh đồng hoang phía Đội 1.
An giật bắn mình, ngồi thẳng dậy. Bình lập tức buông tay vợ, tai vểnh lên nghe ngóng theo phản xạ nhạy bén của một người lính trinh sát.
“Phì... phì... khẹc!”
Tiếng thở hồng hộc khó nhọc kèm theo tiếng bọt dãi sùi ra phì phò, hòa lẫn với tiếng móng chân lê lết nặng nề, loạng choạng trên mặt đất bùn lầy.
Ngay sau đó là tiếng xì xào, th* d*c đầy căng thẳng của một bóng người đang cố sức lôi kéo, thúc giục con vật:
“Đi... Đi mau lên con súc sinh này! Bước qua cái bờ rào này là mày muốn chết ở đâu thì chết! Cố lên... Sang bên kia mà nằm!”
Bình và An đưa mắt nhìn nhau, đồng tử hai người cùng co rút lại. Giọng nói the thé, đứt quãng kia dù có cố tình hạ thấp thì họ vẫn nhận ra ngay lập tức: đó chính là Đặng Tiết, gã cựu Đội trưởng Đội 1 vừa bị kỷ luật cách chức!
Linh cảm chẳng lành ập đến như một tia chớp rạch ngang tâm trí. An vội với lấy chiếc đèn bão đã vặn nhỏ bấc, trong khi Bình nhanh như cắt vồ lấy chiếc đòn gánh dựng ở góc cửa.
Hai người khẽ khàng mở then cài cửa liếp, nép mình men theo bóng tối của hàng chuối, hướng về phía rào râm bụt đầu ngõ Đội 3.
Dưới ánh sáng lờ mờ của màn sương đêm buốt giá, một cảnh tượng kinh hoàng hiện ra trước mắt họ.
Đặng Tiết đang mặc một chiếc áo tơi lá tơi tả, hai chân ngập trong bùn, đang dùng hết sức bình sinh giật mạnh sợi dây thừng xỏ mũi một con trâu đực to lớn. Nhưng con trâu ấy không còn chút sinh khí nào. Toàn thân nó run bần bật như cầy sấy giữa cơn sốt cao mê man, hai mắt đỏ ngầu lồi ra vì đau đớn.
Kinh khủng hơn cả, từ khoang miệng há hốc của con trâu, bọt mép lẫn máu tươi và mủ vàng đang trào ra ròng ròng, nhỏ tong tỏng xuống mặt đất bùn buốt giá. Bốn chân nó sưng vù, mủ dịch chảy toe toét, hai móng trước đã lột trơ cả cùi thịt đỏ lòm đang bốc lên một mùi xú uế tanh tưởi đến lợm giọng.
Con trâu ốm ngã quỵ xuống ngay trước lối vào bãi cỏ Đội 3, không thể bước nổi dù chỉ một bước. Còn Đặng Tiết, gương mặt gã vặn vẹo trong bóng tối vì sự đố kỵ và thù hận điên cuồng, tay lăm lăm một đoạn gậy có cắm đinh nhọn, đang hung bạo chọc thẳng vào mông con trâu bệnh, cố tình đẩy nó lao qua hàng rào phòng dịch của Đội 3 để trút cái mầm độc chết người vào nơi này!
, , vn, live
,
vn
Bình luận (0)
Đang tải bình luận...