Xuyên không thập niên 70

Chương26: Giá buốt cắt da

Cỡ chữ
Gió bấc như những lưỡi dao lam sắc lẹm cứa rách toạc da thịt. Từng cơn gió từ triền đê sông Đáy thốc ngược vào lòng xóm, mang theo hơi nước buốt giá đến tê dại. Mặt đường đất nện của thôn An Hòa sau một đêm sương muối đã đanh lại, lạo xạo dưới đế dép cao su đúc những mẩu băng vụn mỏng tang. Trần Bình siết chặt hai quai chiếc áo đại hàn lót lông cừu đã sờn rách ở mép gấu, bước chân khập khiễng vì vết thương cũ nơi chiến trường thoăn thoắt lao đi trong màn sương mờ đục. Anh không hề cảm thấy cái lạnh đang thọc sâu vào cổ áo, bởi trong lồng ngực anh lúc này, một ngọn lửa lo âu đang bốc cháy ngùn ngụt. Phía sau lưng anh, Hoài An quấn chặt chiếc khăn len sợi đỏ bạc màu, hai tay xốc vội tà áo bông chần, cắn răng chạy bám sát từng bước. “Anh Bình! Đằng này! Nhanh lên không trâu quỵ hết mất!” Tiếng anh Thao, Đội phó Đội 1, khản đặc và đứt quãng như người sắp hụt hơi. Gã vừa chạy vừa vấp ngã chúi lủi vào bờ mương cạn, bùn non đông cứng cào rách một bên ống quần láng đen. Khu chuồng trâu tập trung của Đội 1 nằm trơ trọi ngay mép cánh đồng chiêm trũng, nơi hứng trọn luồng gió bấc rít gào từ hướng Bắc thổi về. Khi Bình và An chạy tới nơi, một cảnh tượng bi thảm đập thẳng vào mắt khiến tim Bình thắt nghẽn lại. Đó là một dãy lán dài lợp mái rạ thưa thớt, cột kèo bằng tre đực xiêu vẹo, bốn bề hoàn toàn trống toác không có lấy một tấm liếp che chắn. Gió đông bắc cuốn theo mưa phùn lùa thẳng vào từng gian chuồng, biến nền đất bên dưới thành một bãi bùn lỏng bõng nước giải và phân trâu nhớp nháp. Nhiệt độ ngoài trời lúc này đã tụt xuống dưới sáu độ C. Nước trên các rãnh thoát nước đã đông lại thành từng vệt trắng nhờ nhờ. Ngay lối vào gian đầu tiên, ba con trâu đực mộng to lớn — vốn là những “tay cày” cừ khôi nhất của hợp tác xã trong vụ mùa năm ngoái — đang nằm sóng soài trên mặt bùn buốt giá. Bốn chân chúng duỗi đơ, các khớp gối sưng vù, móng chân nứt nẻ ứa ra những dòng máu tím bầm vì cước lạnh. Đôi mắt to tròn vốn dũng mãnh giờ đục ngầu, phủ một màng nhớt mờ dại, chỉ còn biết thở hắt ra từng luồng hơi mỏng manh yếu ớt. Một con trâu mộng lông hoa cà đã ngừng thở hẳn, cái bụng trương phình cứng ngắc như một tảng đá xám giữa đầm lầy. Hai con còn lại cả thân mình co giật bần bật theo từng cơn gió luồn qua khe cột. Xung quanh chúng, hơn ba chục con trâu cái và nghé con đang chen chúc dồn về một góc chuồng khuất gió, run rẩy cọ vào nhau, tiếng thở phì phò r*n r* nghẹn ngào như tiếng khóc của con trẻ. “Trời cao đất dày ơi! Thế này thì tan nát cả rồi!” Một tiếng gào thất thanh vang lên bên đường đê. Ông Bùi Đắc Khoát, Chủ nhiệm Hợp tác xã, chiếc xe đạp Thống Nhất vứt chỏng chơ bên vệ cỏ, đang hớt hải lao xuống triền dốc. Chiếc áo dạ bốn túi cài kín cổ của ông đẫm ướt sương giá, chiếc bút máy Kim Tinh cài trên túi áo cọ vào ngực kêu lách cách theo từng nhịp thở gấp gáp. Vừa nhìn thấy con trâu đầu đàn nằm bất động, hai đầu gối ông Khoát như khuỵu xuống, cả người lảo đảo bám chặt vào một thân tre bên mép chuồng: “Con trâu mộng hoa cà... Con trâu ấy vụ trước kéo liền hai mẫu ruộng cày ải... Sao lại chết thế này? Đêm qua tổ trực chuồng làm ăn cái kiểu gì hả Thao?” Anh Thao mặt mày xám ngoét, run rẩy chắp hai tay: “Báo... báo cáo Chủ nhiệm, chiều ba mươi Tết, anh em phân công nhau trực... nhưng nghĩ Tết nhất chỉ rét bình thường, vả lại đống củi sưởi bị ẩm hết không bén lửa... Ai ngờ nửa đêm trời trở gió độc, rét hại đổ về đột ngột thế này... Sáng ra mở cửa thì... thì ba con đã quỵ chân từ bao giờ rồi!” “Quỵ cái mả mẹ các anh!” Ông Khoát run bắn người vì vừa lạnh vừa giận dữ tột cùng, giọng nói lạc hẳn đi. “Con trâu là đầu cơ nghiệp! Cả xã An Hòa này chỉ trông vào bảy chục con trâu cày cho hơn ba trăm mẫu ruộng chiêm trũng! Vụ chiêm xuân đang cận kề, chỉ nửa tháng nữa là xuống giống cấy đại trà, giờ trâu chết rét thế này thì lấy cái gì mà cày ải? Các anh định kéo cày thay trâu à? Vỡ kế hoạch lương thực thì tôi với các anh vác mặt lên Huyện ủy mà nhận án kỷ luật!” Bà con xã viên xóm ngoài nghe tiếng mõ báo động cũng bắt đầu túa ra đứng vây kín quanh hàng rào dâm bụt. Tiếng xì xào, tiếng than khóc xót của nổi lên râm ran khắp bờ ruộng. Trong cái thời buổi thóc cao gạo kém, mỗi con trâu tập thể được coi như một gia tài khổng lồ, là xương sống nuôi sống hàng trăm miệng ăn. Mất trâu đồng nghĩa với việc vụ chiêm xuân trắng tay, đồng nghĩa với những bữa cơm độn sắn củ mục lại kéo dài đằng đẵng qua mùa giáp hạt. Giữa cơn hoảng loạn tột độ của Ban Quản trị, Bình bước những bước dứt khoát vượt qua vũng bùn lạnh ngắt, tiến thẳng đến bên con trâu đực đang thoi thóp. Anh quỳ một chân xuống lớp bùn nhão, bất chấp cái lạnh buốt thấu qua lớp vải quần, vươn bàn tay thô ráp áp chặt vào hõm tai và vùng ức của nó. Tai con trâu lạnh ngắt như một phiến đá ngâm nước đá, da thịt cứng đờ, mạch máu ở cổ đập chậm chạp và rời rạc. “An! Mau lại đây xem!” Bình quay đầu gọi giật giọng. Hoài An lập tức lách qua đám đông, vén tà áo bông bước nhanh tới bên cạnh chồng. Đôi mắt sáng của cô lướt nhanh từ đỉnh đầu xuống bốn vó của con vật, ngón tay thoăn thoắt vạch khóe mắt, kiểm tra niêm mạc miệng rồi ấn mạnh vào các khớp chân sau. “Thế nào mình? Còn cứu được không?” Bình lo lắng hỏi, giọng trầm đục mang theo sự căng thẳng của người chỉ huy trận mạc. An lắc đầu, giọng nói điềm tĩnh nhưng đượm vẻ nghiêm trọng: “Hai con này bị h* th*n nhiệt quá sâu, cước chân làm nghẽn mạch máu ngoại vi, thêm vào đó phổi đã bị nhiễm lạnh nặng do nằm trực tiếp trên nền bùn ướt và gió thốc liên tục. Nếu không xử lý ngay trong vòng một tiếng nữa, tim chúng sẽ ngừng đập.” Ông Khoát nghe thấy thế liền bổ nhào tới, túm lấy cánh tay áo Bình như vớ được cọc giữa dòng nước lũ: “Đồng chí Bình! Cô An! Tôi biết hai vợ chồng cậu có nhiều mẹo hay thời đi thanh niên xung phong! Cứu lấy đàn trâu của hợp tác xã với! Cứu được đàn trâu này, muốn ghi bao nhiêu công điểm tôi cũng duyệt! Chứ để chết thêm vài con nữa thì An Hòa coi như xong phim!” An ngẩng đầu nhìn người Chủ nhiệm đang tái mét vì sợ hãi, khẽ nói: “Bác Khoát, bây giờ không phải lúc nói chuyện công điểm. Trâu của Đội 1 bị thế này là do rét từ dưới đất bốc lên kết hợp với gió lùa ngang hông. Bệnh ở dưới chân và trong lồng ngực. Muốn cứu hai con này, phải lập tức kéo chúng vào ch* k*n gió, đốt lửa hơ ấm và xoa bóp bằng rượu gừng để thông huyết. Nhưng điều quan trọng nhất lúc này không phải chỉ là hai con trâu này...” An dừng lại, ánh mắt nhìn thẳng sang Bình: “Anh Bình, chuồng trâu của Đội 3 bên xóm Nam thế nào rồi? Đàn trâu hăm tư con bên đó nếu không phòng bị ngay từ bây giờ, chỉ đến chiều tối nay khi đợt gió thứ hai tràn về, toàn bộ cũng sẽ quỵ cước như ở đây!” Lời cảnh báo của An như một hồi chuông gióng thẳng vào tâm trí Bình. Đúng vậy! Đội 3 của anh có hai mươi tư con trâu cày, tuy chuồng trại có che chắn khá hơn Đội 1 đôi chút nhưng cũng chỉ là vách nứa đơn sơ. Cái rét dưới sáu độ C này không tha cho bất kỳ sinh vật nào nếu không có biện pháp bảo vệ đặc biệt. Bình đứng phắt dậy, đôi vai vạm vỡ ưỡn thẳng, tác phong của một người lính dạn dày trận mạc lập tức bộc lộ trọn vẹn: “Bác Khoát! Ở đây bác giao cho anh Thao huy động thanh niên khiêng ngay hai con trâu này vào gian kho chứa rơm của hợp tác xã, trát kín vách lại, lấy củi khô đun nước gừng xoa bóp chân cho chúng! Còn con trâu đã chết thì lập tức lập biên bản mổ thịt cấp đông để tránh ươn thối, chia tiêu chuẩn cho xã viên ăn Tết lấy sức chống rét! Cháu với An phải về Đội 3 ngay lập tức để giữ lấy đàn trâu của đội cháu!” Nói đoạn, không đợi ông Khoát kịp trả lời, Bình quay sang An, nắm chặt lấy bàn tay lạnh buốt của cô: “Đi mình! Về Đội 3!” * Gió bấc vẫn gầm rít từng cơn điên cuồng trên mặt đê. Con đường đất trơn trượt dài gần hai cây số từ Đội 1 về Đội 3 dường như bị thu ngắn lại dưới những bước chân hối hả của hai vợ chồng. Trên đường đi, Bình đã hình dung ra toàn bộ trận địa mà mình phải đối mặt. Không thể dựa vào cách làm cũ, không thể trông chờ vào vài bó củi ướt hay mấy mảnh bao tải rách. Đối mặt với thiên tai chết chóc, phải có phương án triệt để và thần tốc. Vừa về tới đầu ngõ Đội 3, Bình đã rút chiếc còi đồng đeo trước ngực — kỷ vật thời còn ở sư đoàn — ngậm vào miệng thổi lên ba hồi dài dõng dạc: “Tét... tét... téttt! Tét... tét... téttt!” Tiếng còi báo động khẩn cấp vang vọng khắp xóm Nam, át cả tiếng gió gào. Chỉ trong vòng chưa đầy mười phút, hàng chục xã viên trẻ khỏe của Đội 3, dẫn đầu là bác Cả Sắn, chị Đượm béo tròn và các đoàn viên thanh niên, ai nấy đều mặc áo tơi lá, đầu đội mũ nan, hớt hải cầm đòn xóc, xẻng cuốc chạy dồn về phía sân kho Đội 3. “Có chuyện gì thế chú Bình? Vỡ đê hay có trộm?” Bác Cả Sắn thở hổn hển, chòm râu kẽm rung lên bần bật. Bình đứng trên bậc thềm đá của kho rơm, cất giọng sang sảng, dứt khoát: “Báo cáo bà con! Đội 1 ngoài bãi Soi đã chết mất một trâu mộng, hai con ngã quỵ vì cước chân! Đợt rét hại này dưới sáu độ, sương muối sẽ kéo dài ít nhất ba ngày nữa. Nếu chúng ta khoanh tay đứng nhìn, đàn trâu hăm tư con của Đội 3 cũng sẽ chịu chung số phận, vụ chiêm xuân coi như mất trắng! Bây giờ tôi lệnh cho toàn đội bước vào tình trạng khẩn cấp, chia làm ba mũi hành động ngay lập tức!” Cả đám đông xôn xao kinh hãi khi nghe tin trâu Đội 1 chết, nhưng nhìn thấy vẻ cương nghị, bình tĩnh của Bình, sự hoang mang lập tức lắng xuống, nhường chỗ cho kỷ luật lao động. “Mũi thứ nhất!” Bình chỉ tay về phía cánh thanh niên vạm vỡ do bác Cả Sắn phụ trách: “Lấy toàn bộ bạt dứa dự phòng bão lũ trong kho, kết hợp với các tấm liếp nứa, rơm rạ khô bện dày, kéo ra chuồng trâu quây kín toàn bộ hướng Bắc và Đông Bắc! Phải bịt kín mít từ chân tường lên đến quá tầm trâu đứng, chỉ chừa lại các khe hở nhỏ phía Nam trên cao để thoát khí độc! Làm thật nhanh và chắc chắn, gió thổi không được bay!” “Rõ! Đi thôi các anh em!” Bác Cả Sắn vung tay, dẫn đầu nhóm thanh niên lao vội về phía kho bạt. “Mũi thứ hai!” Bình quay sang An và chị Đượm: “Nhà bếp và chị em phụ nữ làm theo hướng dẫn của đồng chí An! Cần vật liệu gì cứ lấy thẳng từ kho của đội, tôi chịu trách nhiệm trước Ban Quản trị!” An bước lên một bước, đôi mắt sáng ngời lấp lánh sự tự tin và quyết đoán của một kỹ sư sinh học dạn dày kinh nghiệm thực tế. Cô nhìn quanh các chị em đang run rẩy vì giá rét, cất giọng dõng dạc, rõ ràng từng lời: “Các chị em nghe tôi! Cái rét làm chết trâu không phải chỉ vì gió thổi trên lưng, mà nguy hiểm nhất là hơi lạnh và khí độc từ đống phân ướt ngấm ngược từ bàn chân và bụng trâu lên! Vì vậy, chúng ta sẽ làm ‘đệm lót ấm chân’ cho trâu bằng trấu và men vi sinh!” “Đệm lót trấu ư cô An?” Chị Đượm tròn xoe mắt, chiếc khăn bông trùm đầu lay động: “Trấu xơ xác thế thì ấm vào đâu được?” “Ấm gấp mười lần đống rơm ướt các chị thường lót!” An giải thích nhanh gọn: “Trấu khô xốp, cách nhiệt cực tốt và hút ẩm cực nhanh. Nhưng bí quyết là chúng ta sẽ trộn trấu với tro bếp, một ít vôi bột khử trùng và lớp men ủ vi sinh từ đống bèo dâu hoai mục hôm trước. Các vi sinh vật trong men khi gặp phân và nước tiểu của trâu sẽ lập tức ‘ăn’ và lên men nóng. Tự thân lớp đệm lót ấy sẽ bốc nhiệt âm ỉ ngày đêm, giữ cho nền chuồng luôn ấm ran như một cái bếp lò mini, lại triệt tiêu hết mùi xú uế, không để mầm bệnh ăn thủng móng chân trâu!” Nghe An nói, bà con xã viên tuy chưa hiểu hết cái gọi là “vi sinh vật lên men hiếu khí” của thế kỷ hai mươi mốt, nhưng uy tín từ vụ cứu bãi ngô và hố ủ bèo dâu đợt trước đã khiến họ tin tưởng tuyệt đối vào từng lời của cô. “Chị Đượm!” An phân công rành rọt: “Chị dẫn năm người ra kho thóc cối, xúc ngay sáu mươi thúng trấu khô sạch chở về chuồng trâu! Nhớ chọn trấu mới, khô ráo không ẩm mốc! Bác Ba quét sạch lớp bùn phân ướt cũ trong chuồng tống ra hố ủ xa, rắc một lớp vôi bột mỏng sát trùng đáy nền!” “Còn lại những ai?” An nhìn nhóm phụ nữ lớn tuổi, trong đó có cả bà cụ Mẫn vừa chống gậy đi tới: “U và các thím gom hết bao tải gai, bao bố đựng đỗ tương cũ của đội lại. Mang theo kim bao và dây chuối khô, chúng ta sẽ may ‘áo giáp’ chống rét cho trâu!” Mọi người rùng rùng chuyển động. Cả khu vực sân kho Đội 3 bỗng chốc biến thành một công trường sôi động giữa ngày mùng Một Tết. Không còn ai nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi du xuân hay chén rượu đầu năm, tất cả đều hòa mình vào cuộc chiến sinh tồn giữ lấy cơ nghiệp của tập thể.Bình cởi phăng chiếc áo đại hàn cồng kềnh, chỉ mặc chiếc áo trấn thủ bên trong, xông xáo vác từng súc gỗ tre nặng trịch cùng nhóm thanh niên đóng cọc, chằng néo bờ rào chuồng trâu. Gió bấc rít từng hồi quất rát mặt, mồ hôi trên trán anh túa ra gặp không khí lạnh bốc khói nghi ngút. Chân anh nhức buốt vì vết thương cũ tấy lên trong giá rét, nhưng từng động tác đóng cọc, siết dây mây của anh vẫn chuẩn xác, rắn rỏi như thép nguội. Chỉ sau hơn một giờ đồng hồ cật lực, dãy chuồng trâu của Đội 3 đã thay đổi hoàn toàn diện mạo. Toàn bộ mặt sau hướng Bắc và hai bên sườn đón gió bấc đã được quây kín mít bằng hai lớp bạt dứa dày, bên ngoài nẹp chặt bằng những tấm liếp tre đan mắt cáo ken đầy rơm rạ khô. Gió bấc gầm rú bên ngoài chỉ có thể làm rung rinh lớp bạt, tuyệt đối không lọt được một tia gió độc nào vào bên trong. Không gian trong chuồng lập tức lặng gió, không khí bắt đầu đặc quánh lại và ấm dần lên. Cùng lúc đó, dưới sự chỉ huy của An, nền chuồng đã được quét dọn sạch bóng lớp bùn lạnh ngắt. Một lớp vôi bột trắng mịn được rải đều để triệt tiêu nấm mốc và vi khuẩn. Ngay sau đó, hàng chục thúng trấu khô vàng rộm được đổ tràn xuống, cào phẳng tạo thành một tấm thảm xốp dày hơn một gang tay — đúng ba mươi phân. An đích thân mang theo một thùng gỗ chứa dịch men ủ vi sinh đậm đặc được chiết xuất từ đống ủ bèo hoa dâu và cám bổi ngâm chua. Cô hòa thêm hai bát rỉ mật mía sóng sánh vào thùng nước ấm, khuấy đều rồi dùng một chiếc chổi đót nhúng vào dung dịch, vẩy đều tơi xốp lên khắp bề mặt lớp trấu. “Anh Bình! Xong rồi, cho đàn trâu bước vào đi anh!” An quệt giọt mồ hôi vương trên sống mũi, mỉm cười nhìn chồng. Bình gật đầu, cùng các thanh niên dắt từng con trâu từ sân ngoài bước vào lán. Đàn trâu vốn đang co ro run rẩy, bốn chân cứng đờ vì giẫm trên nền đất lạnh, vừa bước chân vào lớp trấu xốp mềm lập tức phát ra những tiếng thở phì phò khoan khoái. Móng chân chúng lún sâu vào lớp trấu khô ráo, không còn phải ngâm mình trong bùn buốt giá. Kỳ diệu thay, chỉ sau khoảng ba mươi phút khi trâu bắt đầu dẫm đạp và thải ra những bãi phân đầu tiên, phản ứng lên men kỵ khí nóng giữa men vi sinh, trấu và chất thải hữu cơ lập tức được kích hoạt. Lớp đệm sinh học bắt đầu sinh nhiệt. Bình tò mò bước tới, cởi chiếc găng tay len, luồn các ngón tay sâu xuống lớp trấu bên dưới đáy chuồng. Mắt anh mở to vì kinh ngạc. Từ sâu dưới lớp trấu dày ba mươi phân ấy, một luồng hơi ấm hừng hực bốc lên, lan tỏa khắp lòng bàn tay anh. Cảm giác ấm áp dịu dàng như đang hơ tay bên cạnh một nồi nước xôi vừa bắc ra khỏi bếp lò! “Nhiệt độ này... phải đến hăm lăm, hăm sáu độ chứ chẳng chơi!” Bình thốt lên, giọng rung rinh vì thán phục. An đứng bên cạnh, hai má ửng hồng vì hơi ấm, khẽ giải thích cho chồng nghe: “Các vi sinh vật háo khí đang phân hủy chất xơ trong trấu và phân giải đạm trong phân trâu, quá trình đó tỏa ra một nhiệt lượng rất lớn. Nhiệt lượng này không bao giờ tắt chừng nào lớp trấu còn độ ẩm và chất hữu cơ. Bàn chân trâu đứng trên lớp đệm ấm này mạch máu sẽ lưu thông liên tục, tuyệt đối không bao giờ bị cước móng hay sưng khớp nữa!” Bà cụ Mẫn và bác Cả Sắn đứng nhìn mà há hốc mồm. Bác Cả Sắn quỳ hẳn xuống, áp cả hai bàn tay chai sần vào đống trấu, miệng lẩm bẩm như thấy phép lạ: “Trời đất quỷ thần ơi! Cả đời tôi chăn trâu chưa từng thấy cái mẹo nào kỳ tài như thế này! Nền chuồng ấm ran thế này thì người vào nằm ngủ cũng còn thấy sướng, nói gì đến trâu!” Nhưng Hoài An vẫn chưa dừng lại ở đó. Cô quay sang nhóm phụ nữ đang thoăn thoắt xâu chỉ may bao tải. Những chiếc bao tải gai thô ráp, sau khi được giặt sạch phơi khô, đã được cắt may khéo léo thành những tấm áo choàng lớn hình chữ nhật. Ở bốn góc, các chị em đính thêm những dải dây bện bằng bẹ chuối khô dẻo dai. “Nào, mặc áo cho các cụ trâu thôi các chị!” An hô to. An trực tiếp tiến đến con trâu đực đầu đàn của Đội 3 — một con trâu đực đen nhánh, sừng cong vút như cánh cung. Cô nhẹ nhàng v**t v* sống mũi nó để nó bình tĩnh, rồi cùng chị Đượm phủ tấm bao tải gai dày cộp lên lưng con vật. Tấm bao phủ kín từ gáy xuống tận khấu đuôi, ôm trọn lấy lồng ngực và hai bên bẹ sườn. An luồn hai sợi dây chuối vòng qua ức và bụng, thắt một nút bướm vừa vặn, không quá chặt làm nghẽn thở nhưng đủ chắc chắn để trâu không cọ đổ. “Nhớ buộc kỹ phần ức nhé các thím,” An vừa làm vừa chỉ dẫn cặn kẽ: “Hai lá phổi của trâu nằm sát lồng ngực, chỗ này da mỏng nhất, nếu bị gió lạnh ngấm vào là trâu sẽ ho khan, viêm phổi rồi chết rạc đi. Che kín được lồng ngực là giữ được bảy phần mạng sống cho trâu rồi!” Chỉ trong chốc lát, toàn bộ hai mươi tư con trâu của Đội 3 đã được khoác lên mình những chiếc “áo giáp” bằng bao tải gai tơi xốp, trông vừa lạ mắt vừa vô cùng ấm cúng. Đàn trâu không còn đứng co cụm một chỗ run rẩy nữa, chúng bắt đầu tản ra, đứng nhai rơm rạ rào rào, cái đuôi ve vẩy liên hồi vẻ đầy mãn nguyện. Cùng lúc đó, từ góc chuồng, một mùi thơm nồng nàn bốc lên xua tan đi sự ảm đạm của mùa đông. Bình đã cho kê ba hòn gạch ba banh nhóm một bếp lửa lớn ngay cạnh cửa ra vào khuất gió. Trên bếp là một chiếc chảo gang đại đang sôi sùng sục. Trong chảo, hàng yến cám gạo bổi được nấu loãng với nước sôi, thả vào mấy vốc muối hột rang nổ tanh tách và hàng củ gừng già giã nát cả vỏ. Mùi cay nồng của gừng, vị mằn mặn của muối và mùi thơm béo ngậy của cám gạo bốc lên ngào ngạt trong làn khói trắng mờ ảo. Bình dùng chiếc gầu múc từng muôi cháo cám nóng hổi, đổ vào những chiếc chậu gỗ đã pha sẵn nước ấm cho bớt bỏng. Đích thân anh bê từng chậu cháo tới trước miệng từng con trâu. Hương thơm của gừng và vị ấm ngọt của cám muối lập tức k*ch th*ch vị giác của những con vật đang kiệt sức vì rét. Con trâu đực đầu đàn thò chiếc lưỡi nhám đen thô ráp ra l**m láp mép chậu, rồi không chút do dự, nó sục thẳng mõm vào húp từng ngụm lớn: “Sột... sột... xoạt... xoạt!” Tiếng húp cháo ngon lành vang lên rộn rã khắp gian chuồng. Nước cháo ấm nóng mang theo tính cay ấm của gừng già đi thẳng vào dạ dày, làm toàn thân con vật nóng bừng lên. Chỉ sau vài phút, hai lỗ mũi to bè của nó bắt đầu phì phì phun ra những luồng hơi trắng ấm áp, đôi mắt đục ngầu lúc sáng bỗng sáng bừng trở lại, long lanh ánh lên sinh khí mãnh liệt. Đến tận đầu giờ chiều, khi đợt rét hại thứ hai tiếp tục tràn xuống làm nhiệt độ ngoài trời giảm sâu kỷ lục, cả vùng quê An Hòa dường như đông cứng lại trong lớp sương muối lạnh giá, thì bên trong chuồng trâu Đội 3 lại là một thế giới hoàn toàn khác biệt. Bên ngoài, gió bấc gầm thét quằn quại trên ngọn phi lao ven sông, mưa phùn buốt như xát muối vào da thịt. Nhưng bên trong lán, không gian ấm áp, thơm mùi trấu ủ và ngai ngái mùi trâu khỏe mạnh. Nền đệm lót sinh học vẫn âm ỉ tỏa nhiệt ổn định ở mức hai mươi sáu độ C. Hai mươi tư con trâu được khoác áo gai ấm áp, bụng căng tròn cháo nóng, nằm êm ái trên lớp thảm trấu khô ráo, thong dong nhai lại từng búi rơm khô. Toàn bộ đàn trâu của Đội 3 đã được bảo toàn nguyên vẹn một trăm phần trăm, không một con nào bị cước chân, không một con nào bị h* th*n nhiệt! Bà con xã viên Đội 3 ngồi quây quần bên đống than củi cạnh cửa chuồng, nhìn đàn trâu bình yên vô sự mà ai nấy đều rơm rớm nước mắt vì nhẹ nhõm. Bác Cả Sắn run run châm điếu thuốc lào, rít một hơi dài rồi ngửa mặt phà khói lên mái rạ, tấm tắc khen: “Đúng là trời cho Đội 3 chúng ta có được vợ chồng chú Bình, cô An! Giữa cái lúc sống chết gang tấc thế này, nếu không có cái đầu tính toán quân sự của chú Bình và cái tay thông thái của cô An, thì cơ nghiệp Đội 3 hôm nay cũng trôi sông trôi biển rồi!” Chị Đượm bưng bát nước chè tươi nóng hổi đưa cho An, cười giòn giã: “Cô An ơi là cô An, cái đầu cô chứa cái gì mà khôn thế không biết! Trấu mục vứt đi mà cô biến thành đệm sưởi ấm cho trâu, bao tải rách cô may thành áo giáp! phen này ông Khoát Chủ nhiệm mà sang đây nhìn thấy, chắc lóa mắt mà ngã ngửa ra mất thôi!” Bình ngồi bên cạnh An, nhìn khuôn mặt lấm lem vài vệt tro bếp nhưng rạng rỡ nét cười của vợ, trong lòng dâng lên một niềm tự hào và tình yêu thương vô bờ bến. Anh khẽ vươn tay dưới lớp vạt áo trấn thủ, tìm kiếm bàn tay nhỏ nhắn của An rồi siết chặt lấy. Bàn tay cô đã ấm dần lên sau nhiều giờ lao động cật lực. An quay sang nhìn chồng, ánh mắt hai người giao nhau giữa ánh lửa bập bùng, không cần một lời nói nào nhưng chan chứa sự thấu hiểu và gắn kết keo sơn. Đúng lúc ấy, cánh cửa liếp che chắn phía lối đi bỗng bị xô bật ra. Ông Bùi Đắc Khoát run rẩy bước vào, theo sau là hai cán bộ của Ban Quản trị hợp tác xã. Chiếc áo dạ của ông ướt đẫm mưa phùn, đôi môi thâm tím vì lạnh. Ông vừa nhận được tin báo Đội 3 đã giữ yên được đàn trâu nên vội vã lội bùn chạy sang kiểm tra. Vừa bước qua ngưỡng cửa, cảm giác ấm áp dễ chịu phả thẳng vào mặt khiến ông Khoát sững sờ. Đôi mắt trần kèm nhèm của người Chủ nhiệm đảo quanh khắp lượt: bờ vách bạt dứa nẹp chặt kín gió, nền chuồng rải trấu khô ráo bốc hơi ấm mờ mờ, đàn trâu hăm tư con béo tốt mặc áo choàng bao tải đang thong dong nằm nhai rơm, không một con nào run rẩy, không một con nào ngã quỵ. Ông Khoát bước tới, cúi người sờ thử xuống lớp đệm trấu, rồi lại vỗ vỗ vào chiếc áo bao tải trên lưng con trâu đực đầu đàn. Đôi bàn tay gầy gò của người đứng đầu hợp tác xã run bắn lên: “Kỳ diệu... Thật sự là kỳ diệu quá các đồng chí ơi!” Ông Khoát quay sang nhìn Bình và An, giọng nghẹn ngào xúc động, hoàn toàn trút bỏ cái vẻ quan liêu hách dịch thường ngày: “Bên Đội 1... chết thêm một con nghé nữa rồi... Cả đội đang khóc như cha chết ngoài kia. Thế mà sang bên này, các đồng chí lại tạo ra được một cái ốc đảo ấm áp như thế này! Tôi phục... Thật lòng tôi phục vợ chồng đồng chí Bình sát đất!” Bình đứng dậy, nghiêm túc chỉnh lại chiếc thắt lưng quân dụng: “Báo cáo Chủ nhiệm, việc giữ đàn trâu là trách nhiệm chung của toàn đội. Bây giờ Đội 3 đã an toàn, cháu đề nghị bác cho phổ biến ngay cách làm đệm lót sinh học bằng trấu và may áo bao tải này sang cho Đội 2 và số trâu còn lại của Đội 1! Trấu và bao tải trong các kho thóc của xã còn rất nhiều, chỉ cần làm khẩn trương trong chiều nay thì vẫn kịp cứu toàn bộ đàn gia súc của hợp tác xã!” “Đúng! Phải làm ngay! Tôi sẽ phát loa truyền thanh của xã ngay bây giờ!” Ông Khoát vội vã gật đầu lia lịa, trên mặt lộ rõ vẻ vui mừng như người chết đuối vớ được cọc. Thế nhưng, giữa lúc niềm vui cứu trâu vừa mới chớm nở trong gian chuồng ấm áp, thì từ phía ngoài ngõ xóm bỗng vang lên tiếng còi xe đạp bóp liên hồi: “Kính coong! Kính coong! Kính coong!” Một bóng người mặc áo mưa cánh dơi màu xanh bộ đội, vừa đạp xe vừa loạng choạng ngã nhào xuống vũng bùn trước cổng chuồng trâu. Đó là đồng chí cán bộ thú y của Phòng Nông nghiệp huyện Chương Mỹ, người được phái đi kiểm tra tình hình rét đậm ở các xã ven sông Đáy. Anh ta lồm cồm bò dậy, chiếc mũ cối rơi lăn lóc dưới đất, mặt cắt không còn một hột máu, lao thẳng vào trong lán, giọng nói run rẩy kinh hoàng xé toạc bầu không khí yên bình: “Chủ... Chủ nhiệm Khoát có ở đây không? Các đồng chí ơi... Nguy to rồi!” Bình lập tức bước tới đỡ lấy anh ta: “Bình tĩnh! Có chuyện gì thế đồng chí?” Người cán bộ thú y th* d*c, hai hàm răng va vào nhau lập cập, đôi mắt thất thần nhìn quanh mọi người: “Không chỉ là rét hại đâu... Tin dữ từ hạ lưu sông Đáy truyền lên rồi! Xã Đồng Tân và Thụy Hương giáp ranh với xã ta... dịch lở mồm long móng đã chính thức bùng phát dữ dội từ đêm qua rồi! Hàng trăm con trâu bò bên đó đang sốt cao, sùi bọt mép trắng xóa, móng chân lở loét thối rữa rụng cả ra không đi lại được! Đàn gia súc trôi dạt theo triền đê chạy loạn... Mầm dịch... mầm dịch quái ác đang men theo dòng sông Đáy tràn thẳng về hướng An Hòa chúng ta rồi!” Lời nói như một quả bom dội thẳng vào giữa gian chuồng trâu ấm áp. Nụ cười trên môi ông Khoát tắt ngấm, mặt ông xám ngoét lại như người chết trôi. Bà con xã viên Đội 3 chết lặng, tiếng rơm rạ xào xạc dưới chân đàn trâu bỗng chốc trở nên rợn ngợp. Bình siết chặt nắm đấm, khớp xương kêu răng rắc. Anh nhìn ra màn mưa phùn mờ mịt phía dòng sông Đáy, nơi một hiểm họa vô hình còn kinh khủng hơn cả cái rét cắt da cắt thịt đang cuồn cuộn tràn tới. , , vn, live , vn

Bạn cũng là tác giả hoặc dịch giả?

Đăng sáng tác hoặc bản dịch của riêng bạn lên Say Truyện — miễn phí, chỉ mất vài phút.

Đăng truyện ngay

Bình luận (0)

Đang tải bình luận...