Quán Nước Bên Bến Đò Năm Ấy

Chương6: Những nhát bào thầm lặng trong đêm

Cỡ chữ
Chiều muộn buông xuống bến Vạn Cát xám ngắt như một tấm chăn chiên cũ rách. Gió từ mặt sông Hồng thổi thốc lên triền đê ràn rạt, cuốn theo hơi lạnh ẩm ướt của bùn bãi phù sa và sương đêm bắt đầu kết hạt trên những ngọn cỏ may xơ xác. Đặng Văn Hùng chống chiếc gậy tre, từng bước tập tễnh lần theo con đường mòn lầy lội men bờ đê để về xóm Mộc. Khớp gối chân trái – nơi còn găm mảnh đạn cối từ trận đánh giáp lá cà ở biên giới Tây Nam – buốt nhói từng hồi theo mỗi nhịp đặt gót. Cái lạnh đầu đông miền Bắc như con sâu sắt luồn lách qua lớp vải Tô Châu đã bạc phếch, cắn rỉa vào tận tủy xương. Nhưng nỗi đau thể xác ấy chẳng thấm tháp vào đâu so với cơn thắt quặn lại nơi lồng ngực anh lúc này. Trong tâm trí Hùng, hình ảnh cô gái mồ côi nơi quán nước ven sông cứ chập chờn, dằn vặt khôn nguôi. Manh áo nâu vá chằng vá đụp phong phanh trong gió bấc, đôi bờ vai gầy guộc run rẩy đến tội nghiệp, và đôi mắt đen láy đẫm nước nhưng vẫn cố mím chặt môi để không bật ra tiếng khóc uất ức. Chiếc nắp ấm tích da lươn – kỷ vật thiêng liêng mà mẹ Thu để lại – đã vỡ vụn dưới chân đôi ủng bạt của gã đội phó kiểm soát hách dịch. Khi Bền quày quả đạp chiếc xe Phượng Hoàng đi khuất, Thu đã quỳ sụp xuống nền đất ẩm, đôi bàn tay đỏ ửng vì cóng buốt run rẩy nhặt từng mảnh gốm vỡ gom vào lòng vạt áo, như muốn gom nhặt lại chút hơi ấm cuối cùng của tình thân. Hùng siết chặt cán gậy tre đến mức các khớp ngón tay trắng bệch. Anh tự trách mình. Dẫu anh đã đứng ra đem tấm thẻ thương binh chặn họng thằng Bền, dẫu bà cụ Vấn và cánh thợ đò đã xúm vào giải vây, nhưng những lời đe dọa cay độc của gã kiểm soát vẫn như bóng ma lơ lửng bóp nghẹt sinh kế của Thu. Ở cái đất làng Yên Sa này, khi một kẻ mang danh trật tự viên đã ghi tên ai vào cuốn sổ đen bìa xanh, người đó coi như bị cô lập giữa lưới rào vô hình của định kiến và sự sợ hãi. Người ta sợ mang tiếng bao che tư thương, sợ bị trừ công điểm, sợ đến kỳ chia thóc giáp hạt chỉ nhận về toàn trấu lép. Thu một thân một mình, côi cút giữa đời, liệu bờ vai nhỏ bé ấy gánh gồng được bao lâu? Về đến cổng ngõ nhà mình, bóng tối đã đặc quánh. Mùi khói rơm quyện với mùi sắn luộc ngai ngái bốc lên từ gian bếp vách đất trát rơm. Em gái anh – con Thắm – vừa thấy bóng anh tập tễnh bước qua rặng râm bụt liền vội vàng chạy ra đón, đỡ lấy chiếc gậy tre: “Anh Hùng về rồi đấy à? Chân anh lại tấy đỏ lên rồi kìa, để em múc nước ấm cho anh ngâm chân. Thầy vừa bẻ ngọn cúc tần ngoài bờ ao đem sao với muối hột đấy.” Hùng khẽ lắc đầu, nén tiếng thở dài: “Anh không sao. Chút nhức mỏi vặt thôi, quen rồi.” Bên mâm cơm đặt trên chiếc chõng tre ọp ẹp nơi góc nhà, ngọn đèn hoa kỳ leo lét phả thứ ánh sáng vàng vọt, tù mù lên gương mặt khắc khổ của ông Đặng Văn Quỳ. Bữa cơm chiều đạm bạc của một gia đình thợ mộc thời bao cấp: một âu sắn độn chỉ lơ thơ vài hạt gạo đỏ quạch, một đĩa muối vừng giã dối vơi nửa và một bát canh rau tàu bay nấu suông không một giọt mỡ. Ông Quỳ ngồi im lặng, đôi bàn tay gân guốc đầy sẹo dăm bào nâng bát cơm lên rồi lại đặt xuống. Ông nhìn vết bùn non còn bám bê bết nơi ống quần của con trai, chòm râu bạc khẽ rung lên. Là người từng trải qua bao cuộc bể dâu từ thời hợp nhất tài sản, chứng kiến xưởng mộc bề thế của cha ông bị giải tỏa, ông thừa hiểu tính nết thẳng thắn đến mức bướng bỉnh của Hùng. “Chiều nay… ngoài bến đò có chuyện à?” Ông Quỳ cất giọng trầm đục, phá tan sự im ắng ngột ngạt. Hùng ngước mắt nhìn cha, khẽ đáp: “Không có gì lớn đâu thầy. Thằng Bền đội kiểm tra xuống hạch sách bà con qua đò, con có nói vài câu.” “Nói vài câu?” Ông Quỳ thở hắt ra một hơi, ánh mắt trĩu nặng âu lo: “Người ta đồn ầm lên ngoài ngõ kia kìa. Bảo mày cậy thẻ thương binh ra mặt che chở cho cái Thu con bà Chắt buôn lậu mật mía. Hùng ơi là Hùng, mày mới ở chiến trường về, chân cẳng còn chưa lành lặn, chế độ thương tật xã còn đang xét duyệt. Mày dây vào cái quán nước ấy làm gì cho rước vạ vào thân? Thằng Bền nó hẹp hòi, chấp nhặt, nó mà báo cáo lên ban quản trị hợp tác xã thì cả nhà này mất tiêu chuẩn phân phối gỗ xẻ vụ tới!” “Thầy!” Hùng đặt mạnh đôi đũa tre xuống mâm, giọng nghẹn lại: “Cô Thu không buôn lậu. Cô ấy mồ côi mồ cút, mùa màng thất bát, nợ nần thuốc men của u cô ấy để lại còn chưa trả xong. Cô ấy chỉ nấu ấm nước chè xanh, chút kẹo mật vụn cho bà con lái đò, khách lỡ bước dằn bụng qua cơn rét mướt. Người ta lao động chân chính bằng mồ hôi nước mắt, có cướp bóc của ai đâu mà bảo buôn lậu? Nếu thấy kẻ yếu bị ức h**p mà mình rụt cổ làm ngơ, thì mấy năm con cầm súng ở chiến trường hóa ra là vô nghĩa hay sao?” “Mày…” Ông Quỳ nghẹn lời, bàn tay run run siết chặt mép chõng tre. Nhìn vào đôi mắt rực lửa, cương trực của con trai – đôi mắt y hệt người cha liệt sĩ năm xưa của ông – cơn giận trong lòng ông bỗng chốc tan biến, chỉ còn lại nỗi xót xa vô bờ bến. Ông hiểu con mình, và ông cũng biết rõ lòng dạ thơm thảo của con bé Thu. Nhưng cái thời buổi này, lòng tốt đôi khi lại là chiếc thòng lọng siết cổ người nghèo. Ông Quỳ buông một tiếng thở dài thườn thượt, lẳng lặng gắp miếng sắn bở bỏ vào bát Hùng: “Ăn đi con. Chuyện đời… đâu phải cứ đúng là yên thân được đâu.” Bữa cơm trôi qua trong nặng nề. Ăn xong, Thắm dọn dẹp mâm bát rồi giục Hùng đi nghỉ sớm. Căn buồng nhỏ của Hùng nằm nép sát gian xưởng mộc cũ. Gió đêm lùa qua những khe nứa hở làm tấm ri-đô may bằng bao tải dứa bay phần phật. Hùng nằm nghiêng trên chiếc phản gỗ, trằn trọc không sao chợp mắt nổi. Khớp gối lại lên cơn đau âm ỉ, từng cơn giật nhói buốt lạnh buốt giá từ xương bánh chè lan lên tận sống lưng. Nhưng tâm trí anh lại trôi về bến đò Vạn Cát. Anh nhớ đến chiếc quán rách của Thu. Mảnh đất bồi ven sông trơ trọi đá cuội lởm chởm, ẩm ướt và trơn trượt. Chiều nay, khi Thu ngồi quạt than nấu kẹo, cô chỉ có một khúc gỗ mục lót manh bao tải rách để ngồi ghé mông. Mỗi lần đứng lên ngồi xuống múc nước hay đảo mật, đôi bàn chân trần tái mét của cô lại run rẩy, gấu quần đẫm bùn lạnh ngắt. Khách qua đò ghé quán cũng chỉ biết đứng co ro dưới mái rạ dột nát, hoặc ngồi chồm hổm trên mấy hòn đá hộc sắc cạnh. Cứ thế này, qua vài đợt gió mùa đông bắc nữa, làm sao người con gái ấy chịu thấu cái rét buốt thấu xương của dòng sông Hồng? Tiếng gà gáy canh ba từ xóm Bãi vẳng lại, xa xăm và cô tịch. Hùng ngồi bật dậy. Ý nghĩ vừa lóe lên trong đầu khiến lồng ngực anh đập rộn ràng. Anh quờ tay lấy chiếc nạng tre, khẽ khàng đẩy then cài cửa, bước ra sân. Sương đêm phủ trắng xóa khu vườn. Hơi lạnh phả vào mặt khiến Hùng tỉnh hẳn. Anh không đi về phía giếng nước mà lẳng lặng men theo lối mòn nhỏ dẫn xuống góc chuồng trâu cũ ở cuối vườn – nơi xưởng mộc của dòng họ Đặng từng một thời vang danh khắp vùng bến đò Vạn Cát nay đang nằm phủ bụi thời gian. Từ ngày hợp nhất vào tổ mộc hợp tác xã rồi lại giải tán vì thiếu nguyên liệu, xưởng mộc của ông Quỳ gần như bỏ hoang. Mạng nhện giăng mắc trên những thanh xà gồ mục, mùi rơm ẩm và mùi phân trâu ngai ngái bao trùm khắp không gian. Nhưng dưới cái vẻ hoang tàn ấy, dòng máu của những người thợ mộc tài hoa xứ Bắc vẫn âm ỉ chảy trong từng góc xưởng. Hùng chống gậy bước vào gian chứa gỗ cũ cạnh chuồng trâu. Nơi này, sâu dưới lớp rơm rạ mục và tro trấu mà ông nội anh cẩn thận vùi lấp từ hơn chục năm trước, là những súc gỗ xoan ngâm bí mật. Người thợ mộc xưa có câu: “Gỗ xoan ngâm bùn ao, ngàn năm không mọt rữa”. Những cây xoan đào già thân thẳng tắp, sau khi hạ xuống được vần xuống đáy ao bùn sâu, ngâm ròng rã suốt ba năm trời để rút hết chất đường ngọt trong thớ gỗ, khiến mối mọt ngửi thấy cũng phải lắc đầu. Khi vớt lên, gỗ được phơi trong bóng râm hàng năm trời cho ngót hết nước, thớ gỗ đanh lại như sừng, dẻo dai vô cùng mà trọng lượng lại nhẹ tơi, tỏa ra một mùi thơm the the, ngai ngái rất đặc trưng của bùn đất và vỏ cây ủ mục. Hùng gạt lớp rơm rạ sang một bên, cúi người lần mò trong bóng tối. Bàn tay thô ráp chai sần của anh chạm vào một tấm bìa gỗ xoan dày chừng hai đốt ngón tay, dài khoảng ba gang, thớ gỗ mịn màng và mát rượi. Anh gõ nhẹ ngón tay trỏ lên mặt gỗ: “Cang… cang…” Âm thanh phát ra đanh giòn, vang nhẹ như tiếng kim loại chạm vào đá. Đúng là loại xoan ngâm thượng hạng mà ông nội anh để dành từ thuở trước. Hùng ôm súc gỗ vào lòng, khó nhọc chống gậy bước sang gian xưởng chính. Anh với tay lấy chiếc đèn hoa kỳ treo trên cột, dùng que diêm quẹt lửa. Ngọn lửa bùng lên, soi rõ một góc xưởng bừa bộn với những chiếc cưa xẻ, đục bạt, đục vũm nằm im lìm trên giá gỗ. Anh cẩn thận che phên nứa xung quanh khung cửa sổ hướng về phía gian nhà trên, sợ ánh đèn dầu lọt qua sẽ đánh thức cha và em gái. Đặt tấm gỗ lên chiếc ngựa xẻ vững chãi, Hùng hít một hơi thật sâu. Không gian tĩnh mịch của đêm đông như đông đặc lại, chỉ còn tiếng thở trầm của chính anh và tiếng sương rơi tí tách trên tàu lá chuối ngoài vườn. Anh thò tay lấy chiếc bào con – loại bào gỗ lim lưỡi thép nhíp xe con thoi mà cha anh đã tự tay rèn tặng ngày anh tròn mười tám tuổi. Lưỡi bào sắc lẹm, được mài cẩn thận bằng đá bùn mịn, lấp loáng dưới ánh đèn dầu. Quên đi cái lạnh cắt da cắt thịt, quên cả vết thương ở đầu gối đang nhức nhối đòi nghỉ ngơi, Hùng ghì chặt một đầu gối xuống chiếc đệm rơm lót dưới chân ngựa gỗ. Anh đặt sống bào lên mặt gỗ xoan, hai bàn tay gân guốc áp chặt vào hai tai bào, dồn lực từ lồng ngực và cánh vai vạm vỡ, đẩy một đường dứt khoát. “Xoèn… xoẹt…” Âm thanh ngọt lịm, êm ru vang lên xé toang sự tĩnh mịch của màn đêm. Từng dải dăm bào mỏng dính như cánh chuồn chuồn, xoăn tít đều đặn tuôn ra khỏi lỗ thoát của thân bào, rơi lả tả xuống nền đất. Mùi gỗ xoan khô ngai ngái quyện với mùi dầu hỏa thắp đèn bốc lên, ấm sực cả gian xưởng lạnh lẽo. Hùng cúi sát mắt xuống thớ gỗ, ngón tay cái miết nhẹ dọc theo đường bào. Mặt gỗ hiện ra phẳng lì, lộ rõ những đường vân màu nâu hồng uốn lượn mềm mại như dòng nước sông Hồng mùa cạn. Anh định đóng cho Thu một chiếc ghế đẩu con. Chiếc ghế phải thật vững chãi để đặt trên nền đất cát bồi lồi lõm của bến sông, nhưng cũng phải đủ nhẹ để một cô gái mảnh mai như Thu có thể dễ dàng xách ra xách vào mỗi buổi chợ đò. Và quan trọng nhất: tuyệt đối không được dùng một chiếc đinh sắt nào. Thời buổi bao cấp ngặt nghèo, đinh sắt phân phối theo tem phiếu hiếm như vàng mắt cá, nhưng với những người thợ mộc chân chính đất Yên Sa, đinh sắt chỉ là thứ đồ chắp vá của kẻ vụng nghề. Đinh đóng vào gỗ sau vài mùa mưa ẩm sông Hồng sẽ rỉ sét, ăn mòn thớ thịt của gỗ rồi tự mục rỗng mà lung lay. Nghề mộc cổ truyền của họ Đặng lấy mộng làm gốc, lấy then chốt gỗ làm hồn. Hùng với lấy que đóm vót nhọn, chấm vào bát mực tàu mài dở, cẩn thận vạch từng đường mực chuẩn xác trên các thanh gỗ làm chân và giằng ghế. Anh lấy chiếc đục bạt bản nhỏ và chiếc vồ bằng gỗ nghiến nặng trịch. “Cốc… cốc… cộc…” Tiếng đục chạm vào thớ gỗ chắc nịch vang lên đều đặn, nhịp nhàng như một khúc nhạc trầm. Hùng nghiêng lưỡi đục, khéo léo bạt từng lát mỏng, khoét sâu vào thân bốn chiếc chân ghế hình dáng hơi choãi chữ bát (bát tự) để tạo thế chân kiềng vững chãi trước gió sông. Anh tỉ mẩn đục từng chiếc mộng mang cá – kỹ thuật ghép mộng bí truyền đòi hỏi độ chính xác tuyệt đối. Đầu mộng hơi thót lại ở phần cổ rồi phình to ra ở phía đuôi, giống hệt chiếc mang cá chép. Khi đóng vào lỗ mộng trên mặt ghế, mộng sẽ ngậm chặt lấy thớ gỗ, càng chịu lực đè nén thì mộng lại càng khít khao, dù có quăng quật, ngâm nước hay phơi nắng hanh cũng muôn đời không thể rời ra được. Mồ hôi bắt đầu rịn ra trên trán Hùng, thấm ướt cả sống lưng áo Tô Châu cũ. Cơn đau nhức nơi khớp gối lại nhói lên dữ dội mỗi khi anh phải tì lực để đục then. Hùng khẽ cắn chặt môi, mồ hôi chảy dài xuống cằm, mặn chát. Anh dừng tay trong giây lát, đưa tay xoa nhẹ lên vết sẹo lồi lõm ở gối trái, tự nhủ lòng: “Mày đã sống sót trở về từ làn mưa bom bão đạn, đồng đội nằm lại chiến trường không biết bao nhiêu người… Chút đau đớn này nhằm nhò gì!” Anh lại nhớ đến ánh mắt hoảng loạn của Thu khi nắp ấm vỡ tan. Nhớ đến đôi bàn tay nhỏ bé run rẩy vì cóng lạnh. Ngọn lửa bướng bỉnh trong lồng ngực lại bùng lên, tiếp thêm sức mạnh cho từng thớ cơ bắp. Đôi bàn tay cầm đục của anh lại thoăn thoắt, chuẩn xác từng đường dao, từng nhát bạt. Ngoài sân, một cái bóng cao gầy, lưng hơi còng lặng lẽ đứng nép sau bụi chuối tiêu rậm rạp.Ông Quỳ khoác chiếc chăn chiên rách trên vai, đứng bất động giữa màn sương đêm lạnh buốt. Nghe tiếng lách cách quen thuộc từ xưởng mộc vọng ra từ lúc nửa đêm, ông đã thức giấc. Ban đầu, ông toan bước xuống mắng cho thằng con một trận vì cái tội dở chứng, đêm hôm không ngủ lại đi làm chuyện bao đồng, rủi thằng Bền hay ban kiểm soát đi tuần đêm bắt gặp thì lại mang tiếng xóm mộc lén lút làm hàng tư nhân. Nhưng khi bước tới gần khe liếp, nhìn qua khe nứa hở, bước chân ông Quỳ bỗng khựng lại. Dưới ánh đèn dầu leo lét, bóng Hùng đổ dài trên vách đất, to lớn và vững chãi. Đôi vai con trai ông cuồn cuộn theo từng nhát bào, ánh mắt thâm trầm tập trung cao độ vào từng đường mực, và đôi bàn tay gân guốc đang điều khiển chiếc đục mang cá điêu luyện đến kinh ngạc. Đó là dáng dấp của một người thợ mộc thực thụ – thứ dáng dấp mà ông Quỳ ngỡ như đã vĩnh viễn biến mất trong gia đình này kể từ ngày xưởng mộc bị dẹp bỏ và Hùng bước chân vào chiến trường. Đã bao nhiêu năm rồi ông mới lại được ngửi mùi dăm bào gỗ xoan thơm nồng ấm áp đến thế? Đã bao nhiêu năm rồi cái xưởng mộc này mới lại rung lên nhịp gõ đều đặn của chiếc vồ gỗ nghiến? Nhìn Hùng khập khiễng lê chân đổi thế đứng, nhìn những giọt mồ hôi rơi lộp độp trên mặt gỗ giữa đêm đông buốt giá, hai mắt ông Quỳ bỗng cay xè. Đứa con trai lành lặn của ông trở về với đôi chân tật nguyền, ngày ngày cắn răng chịu đựng những cơn đau thể xác và nỗi mặc cảm tàn phế. Vậy mà đêm nay, chính vì cô gái côi cút ngoài bến đò kia, ngọn lửa nghề và ý chí sống của con trai ông đã thực sự bừng tỉnh. Ông Quỳ đưa tay lên quệt ngang khóe mắt kèm nhèm, nuốt tiếng thở dài nghẹn ngào vào sâu trong lồng ngực. Ông không bước vào, cũng không cất tiếng gọi. Ông lặng lẽ quay gót, lần từng bước nhẹ tênh trở về gian nhà trên, nhẹ nhàng khép cánh cửa buồng lại để giữ trọn sự tĩnh lặng cho con trai làm việc. Trong xưởng mộc, chiếc ghế đẩu con dần dần thành hình. Hùng dùng chiếc vồ gỗ gõ nhẹ từng nhát vào bốn thanh mộng. “Cộc… cộc… cạch!” Bốn chiếc chân ghế ngậm chặt vào mặt phản gỗ xoan khít khao không để lại một kẽ hở dù chỉ bằng sợi tóc. Bốn thanh giằng ngang bên dưới khóa chặt lấy khung chân, tạo thành một khối vững như bàn thạch. Anh đặt chiếc ghế xuống nền đất nện gồ ghề của xưởng, dùng cả hai tay ấn mạnh lên mặt ghế rồi lắc thử. Chiếc ghế đứng trơ trơ, không hề có một chút rung rinh hay ọp ẹp. Mặt ghế dày dặn, bản rộng vừa vặn cho một người ngồi thoải mái. Hùng đưa bàn tay thô ráp của mình sờ nắn khắp các góc cạnh. Gỗ xoan ngâm tuy đanh nhưng các cạnh xẻ vẫn còn những gờ sắc có thể làm xước da hoặc vướng rách quần áo. Nghĩ đến cảnh Thu mặc manh áo nâu vá chằng vá đụp, Hùng với lấy mảnh giấy ráp cát thủy tinh cũ mèm giắt trên vách nứa. Anh tỉ mẩn, cặm cụi mài từng góc vuông của mặt ghế cho cong tròn mềm mại. Anh đánh ráp dọc theo bốn chân ghế, lướt qua từng thớ gỗ cho đến khi bề mặt phẳng mịn như lụa, sờ vào mát rượi mà không còn gợn lại một chiếc dằm nhỏ nào. Mùi gỗ mới được đánh ráp tỏa ra một hương thơm dịu nhẹ, thanh khiết lạ lùng, xua tan hoàn toàn cái lạnh ẩm mốc của góc xưởng hoang phế. Hùng ngắm nhìn thành quả của mình dưới ánh đèn dầu. Chiếc ghế mộc mạc, khoác lên mình màu vàng ngà tự nhiên của gỗ xoan ngâm, giản dị mà kiên cường như chính con người của vùng đất bãi sông này. Bất chợt, ánh mắt anh dừng lại ở mặt dưới của gầm ghế. Lời dọa dẫm hằn học của Lê Tiến Bền chiều nay lại văng vẳng bên tai: “Cô Thu nhớ đấy, đây là lần cảnh cáo thứ nhất! Từ ngày mai, nếu còn tái diễn cảnh tụ tập buôn bán… đừng có trách tôi không báo trước!” Khuôn mặt tái nhợt, đôi mắt ngập tràn sợ hãi của Thu lại hiện lên rõ mồn một. Con bé ấy chắc chắn đêm nay cũng chẳng thể nào chợp mắt nổi. Nỗi lo bị tịch thu nồi niêu, bị đuổi khỏi bến đò, bị cắt tiêu chuẩn thóc gạo có thể sẽ b*p ch*t chút hy vọng mưu sinh vừa nhen nhóm của cô gái trẻ. Hùng trầm ngâm một lát. Anh với tay lấy mẩu bút chì xanh đỏ gãy đôi nằm trong hộp đồ nghề của cha, lật mặt sau của một mẩu giấy ráp vụn còn sót lại – mặt giấy xi măng màu vàng nâu đã cũ. Đặt mẩu giấy lên mặt ghế, dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn hoa kỳ sắp cạn dầu, bàn tay thô ráp vốn quen cầm súng và cầm đục của anh nắn nót viết từng chữ thật ngay ngắn, rõ ràng: “Đừng sợ, cứ an tâm nấu nước.” Tám chữ ngắn ngủi, mộc mạc không thừa một nét, nhưng chứa đựng toàn bộ sự kiên định, chở che và lời hứa danh dự của một người lính đã từng đi qua cõi chết. Hùng cẩn thận cuộn tròn mảnh giấy ráp lại thành một ống nhỏ bằng ngón tay út, rồi khéo léo gài chặt nó vào khe hở kín đáo của chiếc mộng mang cá dưới gầm ghế. Xong xuôi, anh thổi tắt ngọn đèn dầu. Gian xưởng chìm vào bóng tối. Lúc này, tiếng gà xóm Bãi đã cất lên le te báo sáng đợt thứ hai. Phương đông bắt đầu ửng lên một vệt sáng màu lam nhạt qua kẽ lá chuối. Hùng vác chiếc ghế gỗ lên vai, một tay chống chiếc gậy tre, lặng lẽ mở cổng ngõ bước ra ngoài. Sương mù sáng sớm trên sông Hồng dày đặc như chõ xôi vừa mở nắp, giăng kín khắp lối đi. Hơi nước buốt giá táp thẳng vào mặt, đọng thành những giọt nước li ti trên mi mắt và vạt áo Hùng. Đường đê trơn tuột sau một đêm ngậm sương muối, nhưng bước chân tập tễnh của anh lại vững vàng đến lạ kỳ. Chiếc ghế gỗ xoan trên vai dường như không hề có trọng lượng; nó truyền vào da thịt anh một hơi ấm âm ỉ của thớ gỗ vừa được đánh thức sau giấc ngủ dài dưới bùn sâu. Bến đò Vạn Cát lúc tảng sáng vắng ngắt như tờ. Dòng sông Hồng cuộn chảy lững lờ trong màn sương mờ ảo, chỉ nghe thấy tiếng sóng vỗ ì oạp vào mạn những con thuyền nan đang neo đậu bên bờ dốc. Dưới gốc đa cổ thụ, chiếc lán rơm của Thu vẫn đóng kín bằng chiếc phên nứa rách. Mái rạ ướt đẫm sương đêm, rủ xuống những giọt nước tí tách rơi trên đống tro bếp lạnh ngắt từ chiều hôm trước. Tất cả toát lên vẻ cô quạnh, ảm đạm đến thắt lòng. Hùng bước chậm lại, cố nén tiếng th* d*c và bước chân khập khiễng để không gây ra tiếng động. Anh tiến lại gần cửa lán, nhẹ nhàng đặt chiếc ghế đẩu con xuống ngay trước thềm phên nứa, nơi khô ráo và sạch sẽ nhất. Chiếc ghế bốn chân vững chãi bám chặt vào nền đất cát bồi, mặt gỗ vàng ngà nổi bật giữa cảnh sắc mờ xám của buổi sớm mai. Đứng lặng ngắm nhìn chiếc ghế vài giây, khóe môi thô ráp của Hùng khẽ nở một nụ cười kín đáo. Anh kéo lại cổ áo Tô Châu, quay ngoắt người, chống gậy tập tễnh bước thoăn thoắt ngược lên con dốc đê, hòa mình vào màn sương mù dày đặc trước khi xóm làng kịp thức giấc. * * * Bên trong lán rơm, Nguyễn Thị Thu giật mình tỉnh giấc. Thực ra, suốt cả đêm qua cô cũng chỉ chợp mắt được chập chờn. Cứ mỗi lần nhắm mắt lại, cô lại thấy gương mặt gầy quắt, đôi mắt lươn ti hí của Lê Tiến Bền trừng trừng nhìn mình, lại nghe tiếng nắp ấm vỡ toang và tiếng quát tháo đe dọa. Món nợ ba mươi đồng bạc với hợp tác xã và tiền thuốc men của mẹ ngày qua đời như tảng đá ngàn cân đè nặng lên ngực cô gái hai mươi ba tuổi. Đã có lúc trong đêm, cô ôm chặt chiếc nắp vỡ khóc thầm, nghĩ hay là thôi, bỏ quán nước này đi làm thuê làm mướn, ai mướn gì làm nấy để sống qua ngày. Nhưng rồi nhớ đến ánh mắt cương nghị của anh Hùng, nhớ đến lời căn dặn đầy nghĩa khí của bà cụ Vấn, ngọn lửa kiên cường trong lòng Thu lại âm ỉ cháy lên. “Không được lùi bước. Mẹ dạy phải sống đàng hoàng bằng sức mình, hạt gạo giọt mật làm ra bằng mồ hôi thì có gì mà phải xấu hổ!” Thu quệt nước mắt, vùng dậy. Cô quấn lại chiếc khăn vuông màu đen lên đầu, vuốt lại vạt áo nâu rồi đưa tay tháo thanh đóm cài cánh phên nứa. Gió lạnh ùa vào lán làm Thu khẽ rùng mình, xuýt xoa đưa hai bàn tay lên miệng hà hơi. Nhưng vừa bước chân ra khỏi ngưỡng cửa, ánh mắt cô bỗng khựng lại. Dưới ánh sáng lờ mờ của buổi sớm mai đang xua dần màn sương trên sông, một chiếc ghế đẩu bằng gỗ mộc sừng sững nằm ngay trước mặt cô. Thu ngơ ngác chớp mắt, ngỡ mình còn đang nằm mơ giữa cơn mộng mị. Cô bước tới một bước, quỳ gối xuống nền cát, rụt rè đưa những ngón tay gầy guộc chạm vào mặt ghế. Mặt gỗ phẳng lì, mát rượi và nhẵn thín như một tấm lụa. Mùi gỗ xoan khô ngai ngái quyện với mùi bùn ao phơi nỏ – thứ mùi hương quen thuộc của những người thợ mộc tài hoa làng Yên Sa – thoang thoảng bốc lên, xộc thẳng vào cánh mũi cô. Từng góc cạnh của chiếc ghế đều được bo tròn cẩn thận, những đường ghép mộng mang cá khít khao đến mức không tìm thấy một kẽ hở, bốn chân choãi chữ bát vững như bàn thạch trên nền đất lởm chởm đá cuội. Thu run rẩy ôm chiếc ghế gỗ mộc vào lòng. Hơi ấm từ thớ gỗ dường như truyền thẳng qua lớp áo nâu mỏng manh, sưởi ấm lồng ngực đang run rẩy vì giá lạnh của cô gái côi cút. Ở cái làng này, ngoài người thợ mộc thương binh ấy ra, còn ai có thể làm nên một vật phẩm tinh xảo, nặng trọn ân tình và âm thầm trao gửi trong sương sớm như thế này? Nước mắt Thu bỗng ứa ra, lã chã rơi xuống mặt gỗ xoan bóng mịn. Giọt nước mắt của sự tủi thân dồn nén suốt bao ngày qua, nay gặp được một tấm lòng chở che bỗng vỡ òa thành niềm xúc động nghẹn ngào. Bất giác, khi hai bàn tay cô miết nhẹ xuống gầm ghế để nâng nó lên, đầu ngón tay Thu chạm phải một vật cộm lên nơi góc mộng mang cá. Thu ngạc nhiên cúi xuống nhìn. Một mẩu giấy ráp màu vàng nâu được cuộn tròn khéo léo, giắt chặt vào khe mộng. Cô cẩn thận rút mẩu giấy ra, ngón tay run run gỡ từng nếp gấp. Mảnh giấy ráp cát thủy tinh xù xì mở ra, để lộ dòng chữ viết bằng bút chì màu nắn nót, từng nét chữ đậm đà, thẳng thớm và dứt khoát như chính con người của anh: “Đừng sợ, cứ an tâm nấu nước.” Thu áp chặt mảnh giấy vào ngực, cắn chặt môi để tiếng khóc không bật ra thành tiếng. Cô ngước mắt nhìn lên bờ đê cao lộng gió, nơi màn sương sông Hồng đang từ từ tan biến dưới những tia nắng hanh vàng đầu tiên của ngày mới. Dưới bóng cây đa cổ thụ, khói bếp từ chiếc kiềng sắt lại bắt đầu nhen nhóm, ngọn lửa đỏ bập bùng soi rõ nụ cười rạng rỡ đẫm nước mắt trên gương mặt người con gái bến đò. , , vn, live , vn

Bạn cũng là tác giả hoặc dịch giả?

Đăng sáng tác hoặc bản dịch của riêng bạn lên Say Truyện — miễn phí, chỉ mất vài phút.

Đăng truyện ngay

Bình luận (0)

Đang tải bình luận...