Quán Nước Bên Bến Đò Năm Ấy

Chương5: Chiếc gậy tre và cuốn sổ xanh

Cỡ chữ
Gió bấc cuối đông thốc từ lòng sông Hồng lên từng cơn rát buốt, cuốn theo lớp bụi cát phù sa khô khốc táp ràn rạt vào mặt. Đặng Văn Hùng đứng tựa lưng vào thân cây gạo xù xì nơi triền đê, bàn tay thô ráp ghì chặt lên đầu gióng của chiếc gậy tre đực. Khớp gối chân trái – nơi găm lại mảnh đạn súng cối từ chiến trường biên giới Tây Nam – lại bắt đầu phát tác những cơn đau nhức thấu tận tủy xương mỗi khi tiết trời trở lạnh. Nhưng dường như cái giá buốt cắt da cắt thịt của buổi sớm mùa đông làng quê chẳng thấm tháp vào đâu so với nỗi xao động đang âm thầm dâng lên trong lồng ngực anh. Từ vị trí trên dốc đê nhìn xuống, toàn bộ bến đò Vạn Cát mờ ảo trong màn sương sớm thu trọn vào tầm mắt Hùng. Độ nửa giờ trước, khi mặt sông còn chìm trong bảng lảng khói sương, anh vẫn còn lặng lẽ đứng ngắm bóng dáng mảnh mai của Thu thoăn thoắt bên chiếc chõng tre ọp ẹp. Nhìn cô tất bật nhóm lại bếp than trấu, cẩn thận châm từng ấm nước, rồi thoăn thoắt rót từng bát nước chè xanh bốc khói nghi ngút chia cho đám khách bộ hành lỡ bước, nơi đáy mắt thâm trầm của người lính phục viên bỗng ánh lên một tia sáng ấm áp hiếm hoi. Mùi mật mía ngào quyện với hương gừng già cay nồng và vừng rang thơm nức bay theo ngọn gió bấc, thoảng qua sống mũi anh, xua đi phần nào cái không khí ảm đạm, tanh tao của bùn bãi mùa nước cạn. Giữa một dải đất bãi trơ trọi, cái chòi rơm nhỏ bé của Thu giống như một đốm than hồng ấm áp nhen nhóm giữa mùa đông đói kém, lặng lẽ chở che cho những phận người lam lũ qua đò. Thế nhưng, khoảnh khắc yên ả ngắn ngủi ấy bỗng chốc bị xé toạc bởi tiếng chuông xe đạp Phượng Hoàng lách cách khô khốc dội xuống từ trên mặt đê. Hùng giật mình siết chặt lấy chiếc gậy tre, đốt ngón tay hằn lên trắng bệch khi nhìn thấy Lê Tiến Bền cùng hai gã trật tự viên của ban kiểm soát liên ngành xã hùng hổ dừng xe trên triền dốc. Chiếc áo dạ cũ cài kín cổ của Bền bay phần phật trong gió sớm, cuốn sổ kiểm tra bìa xanh thẫm cặp chặt bên nách như một thứ uy quyền tuyệt đối. Dưới bến sông, Thu vẫn đang cặm cụi thu dọn mấy manh lá chuối khô. Tiếng chuông xe đanh gắt khiến cô giật bắn mình, khuôn mặt vừa mới ửng hồng vì hơi lửa ấm thoắt cái đã chuyển sang tái nhợt không còn một giọt máu. “Ai cho phép tụ tập buôn bán ở đây? Con Thu kia! Đứng yên đấy, bước ra khỏi lán mau! Bắt quả tang buôn bán tư thương, đầu cơ tích trữ đường mật trái phép nhé!” Tiếng quát the thé của Bền vọng lại chối tai giữa bãi sông vắng, lạnh lùng và tàn nhẫn như mũi kim châm vào bầu không khí đang buốt giá. Nhìn thấy hai gã trật tự viên lăm lăm tay gậy nhảy phắt xuống bờ dốc, Hùng không chần chừ thêm một giây nào nữa. Anh dằn nén cơn đau buốt buốt nhói ở khớp gối, chống mạnh đầu gậy tre xuống nền đất đê lổn nhổn sỏi đá, bước từng bước tập tễnh nhưng gấp gáp đi xuống bến. Tiếng gậy va vào đá cồm cộp, nặng nề mà dứt khoát. Khi Hùng vừa chống gậy đi xuống tới mép cửa lán rơm xiêu vẹo, cảnh tượng bên trong đã trở nên hỗn loạn tột cùng. Lê Tiến Bền đã xộc thẳng vào bên trong chõng tre, đôi mắt lươn ti hí đảo lia lịa như rang lạc khắp bốn góc lán nứa rách nát. Hai gã trật tự viên đứng chắn ngay lối đi, bộ mặt đằng đằng sát khí như thể vừa bắt quả tang một vụ buôn lậu quốc cấm. “Cán bộ… cán bộ Bền ơi, oan cho em quá…” Giọng Thu run rẩy, nghẹn ngào trong gió bấc. Hai bàn tay nhỏ nhắn của cô giấu vội bọc tiền lẻ sờn mép vào sâu trong túi áo nâu vá chằng vá đụp, đôi vai gầy guộc co rúm lại vì sợ hãi. “Em… em chỉ có ấm nước chè xanh với mấy mẩu kẹo lạc làm từ mật mía thừa… gọi là phục vụ bà con qua đò đỡ lòng giữa mùa đông giá rét thôi mà cán bộ…” “Phục vụ? Cô bảo ai phục vụ?” Bền cười khẩy một tiếng rợn người, khóe môi thâm sì nhếch lên đầy vẻ khinh miệt. Hắn vung tay đập mạnh cuốn sổ bìa xanh xuống mặt chiếc phản tre nghe một tiếng “chát” đanh gọn, khiến chiếc mẹt không và mấy chiếc bát sành nảy tưng lên suýt vỡ. “Đừng có giở cái giọng ngây thơ ra đây qua mắt ban kiểm soát!” Bền cao giọng, ngón tay gầy guộc chĩa thẳng vào mặt Thu. “Toàn xã Yên Sa này đang gồng mình thực hiện nghĩa vụ lương thực, chắt chiu từng hạt thóc nộp kho Nhà nước. Hợp tác xã chưa phân phối đường mật vụ này, thế cô lấy đâu ra hàng cân mật mía, hàng đấu lạc nhân để nấu kẹo đem ra đây thu tiền bừa bãi? Đây không phải là hành vi tàng trữ hàng hóa nông sản trái phép, móc ngoặc với con buôn chợ đen thì là cái gì? Cô có biết tội phá hoại trật tự lưu thông phân phối của Nhà nước nó nặng đến mức nào không?” “Em không có móc ngoặc… không có buôn lậu gì đâu ạ!” Thu tái mét mặt mày, nước mắt lưng tròng uất ức. “Đấy là mật mía vụn mẹ em để lại từ vụ trước, còn lạc là em đi mót ngoài bãi cát bồi… Từng hạt mồ hôi nước mắt của em chắt chiu, em không làm gì phi pháp cả!” “Mót à? Cô nói hay lắm! Đi mót mà làm ra cả thúng kẹo đem bán công khai giữa thanh thiên bạch nhật thế này à?” Bền gầm lên, dường như sự thanh minh nhẫn nhục của Thu chỉ càng chọc tức cái thói hách dịch của kẻ quen thói lộng quyền. Đôi mắt lươn của hắn quét qua góc bếp đất nung còn âm ỉ đỏ lửa, rồi dừng lại ở ống nứa đựng đóm hút thuốc lào của khách bộ hành cắm bên cột tre. Chẳng nói chẳng rằng, Bền vung chân đá mạnh một phát thật mạnh. “Rầm!” Ống nứa vỡ toác làm đôi. Hàng chục que đóm bằng nứa cật văng tung tóe khắp nền đất ẩm ướt, vùi lấp trong tro tàn lạnh lẽo. Chưa hả cơn thịnh nộ, Bền thò bàn tay khẳng khiu tóm lấy quai chiếc giỏ ấm tích bọc rơm ủ ấm – thứ gia tài duy nhất giữ lại chút hơi ấm cho căn lán nghèo. Hắn giật phăng nó ra khỏi góc phản, chiếc ấm tích bằng gốm da chuồn bên trong chao đảo, nắp ấm rơi tuột xuống đất vỡ toang làm hai mảnh, dòng nước chè xanh sóng sánh vàng đục tràn lênh láng ra nền cát. “Ối ấm của tôi!” Thu thất thanh kêu lên một tiếng xé lòng. Nhìn mảnh gốm vỡ và dòng nước ấm trôi tuột vào đất cát phù sa, cô đau đớn như chính ruột gan mình bị xé rách. Đó là chiếc ấm tích của người mẹ quá cố để lại, là vật duy nhất gắn liền với những ngày mẹ còn thức khuya dậy sớm hãm từng ấm nước nuôi cô khôn lớn. Thu sụp quỳ xuống nền đất lạnh, hai tay run rẩy ôm lấy chiếc giỏ tre trơ trụi còn sót lại vài mảnh lá chuối khô, nước mắt lã chã rơi xuống nền đất bùn. “Tôi nói cho cô biết, Nguyễn Thị Thu!” Bền đứng chống nạnh, giơ cao cuốn sổ bìa xanh, mặt vênh lên đắc thắng nhìn cô gái bất lực dưới chân mình. “Hôm nay tôi lập biên bản tịch thu toàn bộ đồ nghề nấu nướng, niêm phong cái lán rác rưởi này lại. Chưa hết đâu, tôi sẽ báo cáo thẳng lên Thường vụ Đảng ủy và Ban Quản trị hợp tác xã! Cái tội buôn bán tư thương, tích trữ đường mật này đủ để cắt toàn bộ chỉ tiêu lương thực của cô vụ đông xuân tới, xóa tên khỏi danh sách bình xét công điểm! Để xem lúc ấy cô lấy cái gì nhét vào mồm, lấy cái gì mà trả món nợ ba mươi đồng của hợp tác xã!” Từng lời, từng chữ của Bền giáng xuống như những nhát búa nện thẳng vào tâm can Thu. Cắt sổ gạo? Xóa công điểm? Với một đứa con gái mồ côi thân cô thế cô giữa làng quê thời bao cấp ngặt nghèo, điều đó chẳng khác nào một bản án tuyệt đường sống. Thu nấc nghẹn, đôi vai gầy run lên bần bật trong manh áo phong phanh rách vai, hai bàn tay bấu chặt vào gấu áo, bất lực cúi đầu đón nhận sự vùi dập. “Bền! Cậu dừng tay lại ngay!” Một thanh âm trầm thấp, đanh thép như tiếng lệnh đồng vang lên từ ngay cửa lán, cắt ngang tràng quát tháo thị uy của Bền. Âm thanh ấy không gào thét, nhưng có một sức nặng vô hình khiến hai gã thanh niên đang lăm lăm gậy tre bất giác rụt cổ, dạt sang một bên. Bền cũng giật mình thảng thốt, chiếc bút máy trên tay suýt rơi xuống mặt phản. Từ ngưỡng cửa lán rơm, Đặng Văn Hùng chống gậy bước thẳng vào trong. Chiếc gậy tre đực trong tay anh nện xuống mặt đất từng tiếng dứt khoát: “Cộp! Cộp! Cộp!” Dù một bên chân tập tễnh, bước đi không bằng phẳng, nhưng dáng người cao lớn với bờ vai rộng vững chãi trong chiếc áo trấn thủ bạc màu của người lính khiến anh toát ra một uy lực áp đảo. Khuôn mặt góc cạnh sạm đen gió sương của Hùng lạnh tanh, đôi mày rậm nhíu chặt, ánh mắt thâm trầm bắn thẳng vào Lê Tiến Bền những tia nhìn sắc bén như mũi lê đầu súng. Hùng bước tới, sừng sững đứng chắn ngang ngay trước mặt Thu. Bờ vai rộng như bức tường thành vững chãi ngăn lại toàn bộ những cơn gió bấc lạnh buốt thốc vào từ mép sông, và ngăn cả sự hung hãn hách dịch của đám kiểm soát. Thu ngước nhìn lên, đôi mắt nhạt nhòa ngấn lệ bắt gặp tấm lưng áo bạc màu quen thuộc ấy, cõi lòng đang hoảng loạn, tuyệt vọng bỗng dâng lên một cảm giác chở che ấm áp đến nghẹn ngào. “Anh Hùng…” Bền nhíu mày, nét mặt thoáng chút bối rối nhưng lập tức lấy lại vẻ trịch thượng vốn có. Hắn hất hàm, gõ gõ ngòi bút vào cuốn sổ bìa xanh: “Thì ra là anh Hùng xóm Mộc. Anh vừa mới phục viên về làng, việc của hợp tác xã và ban kiểm soát liên ngành tốt nhất anh đừng có xía vào. Chúng tôi đang thi hành công vụ, xử lý phần tử buôn bán tự do, làm lũng đoạn thị trường theo đúng chỉ thị từ trên!” “Chỉ thị từ trên?”Hùng gằn giọng, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười lạnh buốt. Anh tiến lên một bước, đầu gậy tre cắm chặt xuống nền đất cát ngay sát mũi giày ba-ta của Bền. Khoảng cách gần đến mức Bền có thể ngửi thấy rõ mùi thuốc súng và khói lửa chiến trường còn ám trên thớ vải áo lính của Hùng, bất giác phải lùi lại nửa bước. “Cậu Bền, cậu cầm cuốn sổ xanh đi kiểm tra trật tự, cậu có hiểu thế nào là buôn bán tư thương, thế nào là đầu cơ tích trữ không?” Hùng nhìn thẳng vào đôi mắt lươn ti hí của gã đội phó, giọng nói vang rền, rành rọt từng chữ: “Đầu cơ tích trữ là gom hàng găm giá, lũng đoạn lương thực của Nhà nước để trục lợi phi pháp. Còn cô Thu ở đây gom vài lạng mật mía thừa, mấy bốc lạc sẻ mót ngoài bãi sông, nấu ấm nước chè xanh phục vụ đồng bào qua đò khỏi chết rét giữa mùa đông bến bãi, cậu lại quy vào tội buôn lậu phá hoại tập thể?” Bền nghẹn họng, mặt đỏ bừng lên vì bị một người lính tàn tật bẻ lại từng câu từng chữ ngay trước mặt thuộc cấp. Hắn lắp bắp, cố vớt vát thể diện: “Anh… anh đừng có ngụy biện! Không có giấy phép của Ủy ban, không thông qua mậu dịch quốc doanh thì một củ khoai, một bát nước đem đổi lấy tiền mặt cũng là buôn bán trái phép! Ban kiểm soát có quyền tịch thu tang vật và lập biên bản xử lý!” “Xử lý?” Hùng bật cười khan một tiếng, nhưng ánh mắt lại lạnh như băng tuyết. Anh chầm chậm đưa bàn tay thô ráp, chai sần đầy vết sẹo chiến tranh vào trong túi ngực chiếc áo lính bạc màu. Từ trong đó, anh rút ra một cuốn sổ nhỏ bọc bìa nhựa màu đỏ thắm có in hình quốc huy mạ vàng đã sờn mép. Đó là tấm Thẻ thương binh hạng ba của Quân đội nhân dân Việt Nam. Hùng giơ thẳng tấm thẻ đỏ thắm trước mặt Lê Tiến Bền, giọng nói trầm hùng cất lên, vang vọng khắp một khúc sông Hồng: “Tôi ở chiến trường Tây Nam ba năm, đổ máu cùng đồng đội giành giật từng tấc đất biên cương để bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân, chứ không phải để trở về làng nhìn các người dùng mấy cái quy chế máy móc, giáo điều đi ức h**p một đứa con gái mồ côi không có tấc sắt trong tay!” Hùng quét mắt nhìn hai gã trật tự viên đang lúng túng giấu gậy tre ra sau lưng, rồi quay lại dán chặt ánh nhìn vào mặt Bền: “Cậu nói cô Thu buôn bán trái phép, vậy tôi hỏi cậu: Sáng sớm mùa đông trời rét căm căm, giá buốt thấu xương thế này, có xã viên hay cán bộ nào của các người mang được ấm nước nóng ra bến Vạn Cát này cho bà con lao động qua đò đỡ cóng tay cóng chân không? Cậu có biết người đi buôn gánh, người chở đò ngang qua đây đói lả, một bát nước chè xanh và miếng kẹo lạc của cô ấy đã cứu cho bao nhiêu người khỏi đột quỵ giữa bãi sông không? Các người không lo được cho dân ấm bụng, lại còn vác gậy xuống đây đạp đổ nồi niêu, đập vỡ ấm tích của người nghèo. Đạo lý nào cho phép các người làm cái việc thất đức ấy?” Từng câu, từng chữ của Hùng như những mũi tên bắn trúng vào tim đen của Bền. Khuôn mặt gầy quắt của gã đội phó chuyển từ đỏ tía sang tái xám. Hắn nhìn tấm thẻ thương binh đỏ rực trên tay Hùng, lại nhìn đôi mắt rực lửa của người lính vừa bước ra từ cõi chết, trong lòng không khỏi dâng lên một nỗi khiếp đảm. Ở cái đất Yên Sa này, người ta có thể nể sợ cán bộ kiểm soát lăm lăm cuốn sổ phạt, nhưng không một ai dám coi thường uy danh của một người lính mang thương tật từ chiến trường trở về. Đụng vào thương binh là đụng vào chính sách lớn của Nhà nước, đụng vào sự phẫn nộ của cả xóm Mộc vốn khét tiếng đoàn kết, bênh vực nhau. Đúng lúc bầu không khí trong lán căng thẳng như dây đàn sắp đứt, từ phía mép nước bỗng vang lên tiếng hô hoán sang sảng: “Bớ làng xóm ơi! Cán bộ Bền lại về bến sông hạch sách, cướp giật ấm nước của con bé Thu mồ côi này!” Bà cụ Vấn từ trên khoang con đò ngang vừa cập bến đã vội vã chống cây dầm bơi bước thoăn thoắt lên bờ dốc. Dáng bà còng rạp như cánh cung, nhưng bước chân đạp trên bùn cát lại vững chãi lạ thường. Theo sau bà là bốn năm người thợ đò lực lưỡng, người khoác áo tơi lá, người mặc manh áo chần bông cũ sờn bạc màu hay chiếc áo trấn thủ chắp vá phong phanh, ống quần xắn cao quá gối, tay lăm lăm những mái chèo gỗ ướt sũng phù sa, cùng đám khách bộ hành gánh gồng đi chợ Huyện vừa sang đò. Chẳng mấy chốc, căn lán rơm nhỏ đã bị vây kín bởi hàng chục con người lao động lam lũ. Những ánh mắt phẫn uất, những khuôn mặt sạm đen vì sương gió trừng trừng nhìn vào Lê Tiến Bền và hai gã trật tự viên. Bà cụ Vấn bước xộc vào trong lán, chiếc dầm bơi bằng gỗ nghiến trong tay bà dằn mạnh xuống nền đất đánh “thịch” một tiếng khô khốc. Miệng nhai trầu bỏm bẻm đỏ tươi, bà chỉ thẳng ngón tay nhăn nheo vào mặt Bền, cất giọng sang sảng: “Cậu Bền! Cậu mở to mắt ra mà nhìn xem cái bến đò Vạn Cát này từ xưa đến nay có bao giờ cấm người ta bán bát nước chè, củ khoai luộc không? Năm xưa thời chống Mỹ, máy bay giặc bắn phá trên đầu, thân già này chèo đò chở bộ đội, chở gạo nuôi quân qua sông, bát nước chè xanh của mẹ con bé Thu hãm cho cán bộ uống ấm lòng không biết bao nhiêu bận! Ngày ấy bố cậu ốm thập tử nhất sinh giữa đêm mưa gió, cũng chính con đò này của tôi với ấm nước chè của nhà con Thu cứu ông ấy qua cơn rét mướt sang viện Huyện đấy! Giờ cậu có tí chức quyền trong tay, cậu vác sổ xuống đây dọa nạt, đập phá ấm tích của đứa trẻ côi cút à?” Tiếng xì xào phẫn nộ của đám đông lập tức bùng lên như chảo dầu sôi: “Đúng đấy! Người ta bán bát nước có mấy xu, phục vụ bà con lao động qua sông mà cũng đòi bắt bớ!” “Cán bộ làm ăn máy móc quá! Rét mướt thế này không có quán nước của cái Thu thì người qua đò chết cóng hết à?” “Thử tịch thu xem, chúng tôi kéo cả lên xã gặp đồng chí Bí thư nói chuyện cho ra nhẽ!” Những người thợ đò vạm vỡ siết chặt cán mái chèo, bước ép sát vào cửa lán. Hai gã trật tự viên đi cùng Bền bắt đầu hoảng hốt thật sự, chân nọ đá chân kia, lấm lét nhìn nhau rồi lùi dần ra phía sau lưng đội phó. Trước làn sóng giận dữ của dân làng bến đò, cộng thêm sự can thiệp đanh thép của thương binh Đặng Văn Hùng, nhuệ khí hống hách ban nãy của Lê Tiến Bền hoàn toàn tan biến. Bền nuốt nước bọt ực một cái, trán rịn ra một lớp mồ hôi hột giữa trời đông buốt giá. Hắn biết rõ nếu lúc này còn cố chấp làm căng, giằng co đồ đạc hay đụng tay đụng chân với người lính tàn phế này, đám thợ đò cục cằn kia sẵn sàng ném cả người lẫn xe đạp của hắn xuống dòng sông Hồng đỏ ngầu phù sa. Khi ấy, chức đội phó chưa chắc đã giữ nổi chứ đừng nói đến chuyện leo lên ban quản trị xã. Cố nén sự nhục nhã và cay cú đang dâng lên nghẹn ứ nơi cổ họng, Bền run run nhặt chiếc nắp bút máy cài lại vào ngực áo. Hắn thò tay giật vội cuốn sổ bìa xanh trên mặt phản tre, bàn tay gầy quắt lật qua lật lại mấy trang giấy trắng tinh như để làm bộ làm tịch. “Được… được rồi!” Bền hạ giọng, cố làm ra vẻ kẻ bề trên đang khoan dung độ lượng, nhưng thanh âm đã run rẩy thấy rõ: “Hôm nay… nể mặt anh Hùng là thương binh mới phục viên, và nể lời bà cụ Vấn là người có công chở đò kháng chiến, ban kiểm soát chúng tôi tạm thời không lập biên bản tịch thu tang vật.” Hắn liếc xéo Thu – lúc này vẫn đang run rẩy nép sau lưng Hùng – rồi rút chiếc bút máy ra, quẹt ngoáy mấy chữ thật mạnh vào trang giấy xanh: “Nhưng tôi ghi nhận trường hợp này vào sổ đen! Cô Thu nhớ đấy, đây là lần cảnh cáo thứ nhất! Từ ngày mai, nếu còn tái diễn cảnh tụ tập buôn bán, không xuất trình được hóa đơn nguồn gốc số đường mật và hoa màu này, đừng có trách tôi không báo trước!” Nói xong, Bền lúng túng kẹp cuốn sổ vào nách, quay ngoắt người bước ra khỏi lán. Hai gã trật tự viên như trút được gánh nặng nghìn cân, vội vã lủi thủi bám sát gót hắn ta, len lỏi qua đám thợ đò đang trừng trừng mắt nhìn mà đi thẳng lên bờ dốc. Đám đông dần tản ra sau những lời phân trần, cảm ơn của bà cụ Vấn. Mọi người xúm lại đỡ Thu đứng dậy, nhặt nhạnh lại những que đóm nứa vương vãi, xuýt xoa tiếc rẻ chiếc ấm tích gia truyền đã vỡ tan nắp gốm. Hùng vẫn đứng bất động ở cửa lán, đôi bàn tay gân guốc vẫn ghì chặt đầu gậy tre, dõi theo từng bước chân của gã đội phó kiểm soát. Lên tới mặt đê cao lộng gió, Lê Tiến Bền dừng lại bên chiếc xe đạp Phượng Hoàng màu xanh lục. Hắn ta hậm hực chống một chân xuống mặt đường đất, cặp nách cuốn sổ kiểm tra đã nhăn nhúm một góc vì bị bóp chặt. Trước khi gạt chân chống, quày quả đạp xe đi, Bền ngoái cổ lại, đôi mắt lươn ti hí liếc xéo Hùng rồi gằn từng tiếng cay độc vọng xuống bến sông: “Anh đừng cậy mình có thương tật mà chống lưng cho mầm mống con buôn, rồi xem cái quán này tồn tại được mấy ngày!” , , vn, live , vn

Bạn cũng là tác giả hoặc dịch giả?

Đăng sáng tác hoặc bản dịch của riêng bạn lên Say Truyện — miễn phí, chỉ mất vài phút.

Đăng truyện ngay

Bình luận (0)

Đang tải bình luận...