Quán Nước Bên Bến Đò Năm Ấy

Chương25: Chuyến đò rước dâu mùa xuân

Cỡ chữ
Sương sớm trên triền đê sông Hồng tan dần dưới ánh bình minh ngày đầu xuân năm 1986. Nắng mới trải một lớp mật vàng óng ả lên bãi ngô xanh mướt, hong khô những giọt sương đêm còn đọng trên từng phiến lá chuối non nơi bãi bồi. Khắp làng trên xóm dưới của xã Yên Sa, tiếng gà gáy rộn rã gọi nhau hòa cùng tiếng loa truyền thanh đầu cầu giếng râm ran khúc ca đón mùa xuân mới. Luồng sinh khí chuyển mình rục rịch trước thềm Đại hội Đảng toàn quốc thổi về như xua tan đi cái ảm đạm, co ro của những mùa đông bao cấp nhọc nhằn năm cũ, trả lại cho làng quê sức sống phơi phới, dạt dào. Trong căn nhà tranh vách đất nhỏ bé nép dưới rặng tre già của Thu, khói hương trầm bảng lảng tỏa ngát khắp gian nhà hẹp. Chiếc bàn thờ gỗ mộc của cha mẹ cô hôm nay được lau dọn phong quang, ấm cúng lạ thường. Trên chiếc đĩa đồng sáng bóng, Thu thành kính dâng lên mâm cúng đầu năm với những sản vật do chính đôi bàn tay cô chắt chiu làm nên: một phong kẹo lạc óng vàng thơm nức mùi vừng gừng, cặp bánh đa gấc nướng phồng đỏ au điểm vừng đen nhánh, cùng nải chuối tiêu trứng cuốc và quả bưởi đào thơm ngát hái từ vườn nhà. Cạnh đó, tờ biên lai thu tiền của hợp tác xã ghi rõ dòng chữ mực tím đã khô: “Đã thanh toán đủ toàn bộ nợ thóc và tiền công cụ – Hợp tác xã Nông nghiệp Yên Sa xác nhận” được đặt trang trọng dưới chân bát hương. Thu đứng lặng trước di ảnh cha mẹ, hai bàn tay nhỏ bé chắp trước ngực, đôi mắt đen láy ngân ngấn nước. Năm năm ròng rã, từ ngày cha mẹ nối gót nhau qua đời vì bạo bệnh giữa cơn bão giá rét năm 1981, cô gái mười tám tuổi năm ấy đã phải gồng mình gánh trên vai món nợ thuốc men, nợ công điểm nặng như đá tảng. Biết bao đêm đông buốt giá lủi thủi bên bếp củi ẩm, biết bao bận bị người ta dòm ngó, xét nét, quy chụp cái danh “buôn thúng bán mẹt”, cô chỉ biết cắn răng nuốt nước mắt vào trong. Giờ đây, món nợ ân nghĩa đã trả xong xuôi, danh dự của gia đình được sáng tỏ giữa sân đình, và hôm nay, cô chính thức bước sang một trang đời mới. “Thầy, u linh thiêng nơi chín suối chứng giám cho con...” – Giọng Thu thì thầm, nghẹn ngào trong làn khói hương mỏng – “Hôm nay họ Đặng sang rước con về làm dâu trưởng. Anh Hùng thương con thật lòng, gia đình bên ấy ai cũng bao dung, phúc hậu. Thầy u yên lòng nhắm mắt, phù hộ cho chúng con trọn đời hòa thuận, bền lòng son sắt…” “Chị Thu ơi! Chị Thu xong chưa?” Tiếng gọi lanh lảnh ngoài ngõ cắt ngang dòng suy tưởng của Thu. Đặng Thị Thắm trong chiếc áo cánh hoa chanh tươi rói, mái tóc tết đuôi sam lúc lắc hai bên vai, đang hớn hở chạy xộc vào sân. Theo sau Thắm là chị Mận, thím Đào cùng mấy chị em phụ nữ xóm bãi – những người đã sát cánh bên Thu từ những ngày đầu nhen nhóm xưởng bánh kẹo thủ công. Ai nấy đều xúng xính trong những bộ quần áo tươm tất nhất, trên môi rạng rỡ nụ cười mừng vui cho người con gái hiền thảo của xóm nghèo. “Ối dào ôi, cô dâu nhà ta vẫn còn đứng bần thần thế này!” – Thắm bước tới, nhanh nhẹn đón lấy chiếc khăn voan mỏng trên bàn, miệng cười tươi như hoa nở – “Anh Hùng nhà em với thầy Quỳ đang sắp lễ ngoài ngõ rồi đấy. Mau lên chị ơi, hôm nay chị là người đẹp nhất bến sông này đấy!” Chị Mận nhẹ nhàng giục Thu ngồi xuống chiếc ghế đẩu tre, ân cần giúp cô vuốt phẳng nếp tà áo dài lụa màu hồng đào. Tấm lụa tơ tằm mềm mại này là kỷ vật duy nhất mẹ Thu để lại dưới đáy hòm gỗ từ ngày bà xuất giá, được Thu nâng niu cất giữ suốt bao năm đói rách, nay mới mang ra cắt may cho ngày trọng đại. Màu lụa hồng tôn lên làn da trắng bánh mật khỏe khoắn, nét mặt thanh tú dịu hiền của người con gái sông Hồng dãi dầu mưa nắng. Trên vành tai nhỏ nhắn của Thu, đôi hoa tai bạc chạm hình hoa sen – tín vật truyền đời của mẹ Hùng để lại cho dâu trưởng – khẽ đung đưa, lấp lánh ánh sáng trắng ngà ấm áp. Sau gáy, mái tóc đen dài óng mượt thoang thoảng hương bồ kết và vỏ bưởi khô được cố định ngay ngắn bằng chiếc lược gỗ mun tinh xảo mà Hùng đã thức trắng bao đêm đục chạm hình bông lúa và cành hoa bưởi tặng cô. Bà cụ Vấn chống gậy trúc bước vào nhà, chiếc lưng còng cánh cung khẽ rung lên theo từng bước chân. Cụ mặc chiếc áo bông chần vải đen viền nhung đỏ còn mới nguyên, hàm răng đen nhánh hạt huyền nở nụ cười đôn hậu, miệng nhai trầu đỏ thắm. Cụ nhìn Thu từ đầu đến chân, đôi mắt từng trải ngân ngấn những giọt lệ mừng vui: “Khéo lắm, đẹp lắm con ạ. Con gái làng ta nết na thùy mị, chịu thương chịu khó, trời Phật chẳng nỡ phụ lòng đâu. Bát nước chè xanh con nhóm bên bến đò năm nào nay đã đơm hoa kết trái rồi đấy.” Thu bước lại gần, hai tay đỡ lấy bàn tay nhăn nheo của cụ Vấn: “Bà ơi… Không có bà che chở, nâng đỡ những ngày giông bão, cháu chẳng thể có được ngày hôm nay.” “Ơn nghĩa gì với cái thân già này hở con,” – Cụ Vấn vỗ vỗ lên mu bàn tay Thu, giọng trầm ấm, bao dung – “Lòng con sáng như trăng rằm, ăn ở có nhân có đức thì ắt gặp người tri kỷ. Thằng Hùng chân cẳng có tật vì bom đạn chiến trường nhưng cái tâm, cái tài của nó thì vững chãi như núi đá. Hai đứa thương nhau, dìu dắt nhau qua đoạn đò tăm tối nhất rồi, từ nay về sau cứ thế mà nắm chặt tay nhau, nghe con!” Đúng lúc ấy, ngoài ngõ vang lên một tràng pháo tép nổ giòn tan, lách tách lẹt đẹt rộn rã khắp ngõ rải rơm vàng. Khói pháo hồng bay mù mịt mang theo mùi thuốc pháo ngai ngái, nồng đượm đặc trưng của những ngày Tết cổ truyền. Tiếng cười nói, tiếng chúc tụng xôn xao của bà con chòm xóm kéo dài từ triền đê vào tận sân nhà. Đoàn rước dâu của họ Đặng đã tới. Dẫn đầu là ông Đặng Văn Quỳ trong bộ âu phục kaki bốn túi phẳng phiu, mái tóc hoa râm chải gọn gàng, khuôn mặt rạng rỡ niềm tự hào. Đi bên cạnh ông là bác Thược “thợ rèn” ngực nở nang, miệng cười ha hả giục giã mấy đứa trẻ con đốt thêm dây pháo tép. Theo sau là những gương mặt thân quen của xóm mộc và xóm bãi, đặc biệt là sự hiện diện của những người lính phục viên – đồng đội của Hùng. Anh Triệu “đen” dáng người vạm vỡ, nước da ngăm đen rắn rỏi, tay bưng khay trầu cau phủ vải nhiễu đỏ thắm, đôi mắt sáng ngời ánh lên niềm xúc động vô bờ khi nhìn thấy người ân nhân đã cứu mạng mình trong cơn thập tử nhất sinh năm trước. Và kia, chú rể Đặng Văn Hùng bước đi ở giữa đoàn người. Hùng mặc bộ quân phục Tô Châu màu xanh lá mạ phẳng phiu – bộ quân phục anh gìn giữ cẩn thận từ ngày giải ngũ, trên ngực áo cài một nhành hoa lay ơn đỏ thắm. Bước chân anh dẫu có phần tập tễnh vì vết thương nơi khớp gối trái, nhưng dáng người cao lớn, bờ vai rộng vững chãi toát lên vẻ can trường, đĩnh đạc của một người lính đã đi qua khói lửa đạn bom. Khuôn mặt góc cạnh sạm màu sương gió bừng sáng rạng ngời, ánh mắt thâm trầm dồn trọn vẹn về phía cô gái đang bẽn lẽn đứng tựa bên khung cửa liếp. Bốn mắt chạm nhau, Thu thấy tim mình đập thình thịch như nhịp sóng vỗ mạn thuyền mùa lũ. Mọi nhọc nhằn, cay đắng của năm năm cơ cực dường như tan biến không còn một dấu vết, chỉ còn lại sự ấm áp ngập tràn trong ánh nhìn của người đàn ông đã thức trắng đêm đóng cho cô chiếc ghế con đầu tiên, đã liều mình chống chọi với cơn bão dữ cứu lấy mái lều rạ, và đã vì cô mà thắp lại ngọn lửa thiêng của xưởng mộc tổ truyền. Sau các nghi thức cúng gia tiên và lời trao gửi dâu con trang trọng, đầy xúc động giữa cụ Vấn – đại diện nhà gái – và ông Quỳ, đoàn rước dâu bắt đầu xuất phát ra bến đò. Hùng bước lại gần Thu, khẽ nghiêng người, đưa bàn tay thô ráp đầy những vết chai sần vì cưa đục chìa ra trước mặt cô. Thu mỉm cười e ấp, nhẹ nhàng đặt bàn tay nhỏ nhắn của mình vào lòng bàn tay ấm nóng, vững chãi ấy. Những ngón tay anh lập tức siết chặt lấy tay cô, truyền sang một luồng hơi ấm kỳ diệu, xua tan đi cái se lạnh còn sót lại của sớm xuân. Cả đoàn người hân hoan rảo bước trên con đường làng Yên Sa lát gạch nghiêng đỏ au. Hai bên đường, những rặng tre xanh rì rào trong gió sớm như cất lên khúc hát mừng vui. Dân làng đứng chật hai bên ngõ, người già mỉm cười gật đầu tán thưởng, cánh thanh niên reo hò trêu ghẹo, lũ trẻ con xúm xít chạy theo nhặt những mẩu xác pháo hồng vương trên cỏ biếc. Khi đoàn rước dâu bước l*n đ*nh dốc đê, một quang cảnh khoáng đạt, rực rỡ hiện ra trước mắt khiến Thu không khỏi bàng hoàng xúc động. Bến đò Vạn Cát hôm nay không còn vẻ hiu hắt, quạnh quẽ của những buổi chiều đông năm cũ. Một cổng chào kết bằng lá dừa và hoa tươi được bà con xóm chài dựng lên ngay lối xuống bến, trên căng dải băng rôn đỏ thắm nắn nót dòng chữ: “Chúc mừng hạnh phúc Hùng – Thu”. Ngay sát mép nước, con đò sắt của cụ Vấn được trang hoàng lộng lẫy như một đóa hoa khổng lồ nổi bồng bềnh trên sóng nước sông Hồng. Mui đò phủ lụa đỏ, quanh mạn thuyền cài kín những nhành hoa lay ơn rực rỡ và những cành đào bích xứ Bắc chớm nở hoa tươi rói, phập phồng đu đưa theo từng nhịp sóng vỗ bờ cát bồi. Cụ Vấn đã đứng sẵn trên mũi đò tự bao giờ. Cụ khoát tay, cất giọng sang sảng át cả tiếng sóng: “Nào, chú rể dắt cô dâu xuống đò! Cẩn thận bước chân kẻo trơn phù sa đấy!” Hùng cẩn thận đỡ Thu bước qua tấm ván cầu bằng gỗ xoan bắc từ bờ cát xuống mạn đò. Mỗi bước chân của anh tuy khập khiễng vì vết thương ở khớp gối nhưng vô cùng cẩn trọng, chắc nịch, hai cánh tay rắn rỏi ôm trọn bờ vai Thu để giữ thăng bằng cho cô. Khi cả hai đã đứng vững trên khoang đò hoa, tiếng reo hò của dân làng bên bờ tả ngạn bỗng rộ lên như sấm dậy. “Bà con ơi! Chúc cho đôi trẻ trăm năm hòa hợp, đầu bạc răng long nhé!” – Tiếng bác Thược vang rền từ trên bờ. Cụ Vấn buông mái chèo gỗ nghiến, khẽ nhấn một đường chèo điệu nghệ. Con đò hoa rẽ sóng, từ từ rời bến, lướt êm đềm ra giữa dòng sông Hồng ngập tràn ánh nắng xuân rực rỡ. Gió xuân từ mặt sông lồng lộng thổi tới, làm tung bay dải áo dài lụa màu hồng đào của Thu và lay động những cánh hoa lay ơn đỏ thắm trên tay cô. Đứng bên mạn thuyền, Thu phóng tầm mắt nhìn ra dòng sông thân thương. Nước sông Hồng mùa xuân trong và đỏ đượm một màu phù sa trù phú, lấp lánh như dát vàng dưới ánh mặt trời rực rỡ. Chính khúc sông này, năm năm trước, cô đã từng ngồi co ro trong chiếc lán rơm rách nát, nhìn những cánh bèo trôi vô định mà xót xa cho thân phận mồ côi bèo dạt mây trôi của mình. Cũng chính tại bến sông này, trong một chiều đông buốt giá tột cùng, Hùng đã lầm lũi trở về với vết thương thể xác và nỗi tuyệt vọng đến cùng cực, toan buông xuôi tất cả. Bát chè xanh ấm nồng hương gừng năm ấy, tấm lòng trắc ẩn của cô gái nghèo và ý chí kiên cường của người lính phục viên đã gặp nhau, nhen nhóm lên ngọn lửa của tình người, để rồi cùng nhau vượt qua bao ghềnh thác, định kiến của thời cuộc. “Em đang nghĩ gì thế, Thu?” – Hùng cúi xuống, giọng anh trầm ấm thì thầm bên tai cô. Thu ngước nhìn gương mặt cương nghị của chồng, đôi mắt cô long lanh ngấn lệ nhưng khóe môi nở nụ cười rạng rỡ: “Em đang nhớ lại những ngày đầu tiên, anh ngồi ở bến sông này uống bát chè xanh của em. Lúc ấy, mặt anh lạnh như băng, chẳng thèm nói nửa lời. Em đâu dám ngờ có ngày hôm nay…” Hùng mỉm cười, một nụ cười hiếm hoi làm bừng sáng cả khuôn mặt phong trần. Anh đưa bàn tay chai sần nhẹ nhàng gạt một lọn tóc mây bay lòa xòa trước trán cô: “Bát chè xanh của em ngày ấy đã cứu lấy mạng sống của anh. Nếu không có hơi ấm của em, không có sự can trường của em nhắc nhở anh rằng cuộc đời này còn bao điều đáng để sống, để chiến đấu, thì anh đã gục ngã từ lâu rồi. Năm năm qua, nhìn em vất vả quạt than, thức khuya dậy sớm vì cái lán rạ này, lòng anh đau như cắt. Hôm nay rước được em về làm vợ, đứng giữa dòng sông quê hương thế này, anh mới dám tin mình thực sự được sống một cuộc đời trọn vẹn.”“Anh Hùng…” – Thu xúc động siết chặt lấy bàn tay anh, tựa nhẹ đầu vào lồng ngực ấm áp của người lính. Ở mũi thuyền, cụ Vấn vừa thong thả khua mái chèo nhịp nhàng theo con nước, vừa cất lên giọng hò đò nghẹn ngào, da diết: “Hò ơ… Sông sâu chở nặng phù sa, Bến xưa nay đã nở hoa ngọt lành. Gặp nhau từ bát chè xanh, Nên duyên chồng vợ, chúc cành trầu cay… ơ hò…” Tiếng hò mộc mạc của người mẹ già bến sông hòa cùng tiếng sóng vỗ thì thầm vào mạn thuyền, vang vọng giữa không gian sông nước bao la, thanh bình đến nao lòng. Đoàn thuyền nan chở gia đình họ Đặng và anh em đồng đội bơi theo sau, những nhành hoa đỏ, những dải lụa bay phấp phới tạo nên một bức tranh rước dâu trên sông Hồng đẹp như một huyền tích thời bình. Khi con đò hoa lượn một vòng quanh bến rồi từ từ cập lại bến đò Vạn Cát phía trước Trạm dừng chân, cả bến sông lại một lần nữa vỡ òa trong tiếng pháo nổ ran và tiếng vỗ tay rộn rã. Hùng bước xuống trước, bàn chân tập tễnh vững vàng cắm sâu vào bờ cát mịn. Anh quay lại, hai tay đỡ Thu bước qua mạn thuyền lên bờ. Vừa chạm chân lên nền cát phù sa, Thu đã được Thắm và các chị em phụ nữ xóm bãi ùa tới vây quanh, trao vào tay những nhành hoa đào tươi thắm. Ngay trước mắt Thu, Trạm dừng chân bến đò Vạn Cát sừng sững, khang trang dưới nắng sớm mùa xuân. Ngôi nhà ba gian bằng gỗ xoan ngâm kiên cố, lợp mái ngói đỏ tươi roi rói, các hàng cột vuông vức được ghép nối bằng những mộng én, mộng mang cá tinh xảo không dùng một chiếc đinh sắt nào – minh chứng cho tài hoa mộc truyền thống phục hưng của cha con họ Đặng. Dưới hiên trạm, những bộ bàn ghế gỗ mộc bóng loáng, nhẵn nhụi xếp ngay ngắn, sẵn sàng đón tiếp khách bộ hành. Tấm biển gỗ lớn khắc bốn chữ son thếp vàng: “Trạm Dừng Chân Vạn Cát – Cơ Sở Bánh Kẹo Yên Sa” nổi bật giữa không gian sông nước thanh bình. Bữa tiệc mừng cưới được tổ chức giản dị nhưng đầm ấm ngay trong khuôn viên trạm dừng chân và khoảng sân kho xóm mộc liền kề. Không có cỗ bàn xa hoa, mâm tiệc ngày xuân chỉ là những món ăn đượm tình làng nghĩa xóm: đĩa giò lụa thơm mùi lá chuối, bát canh măng miến nấu mộc nhĩ nấm hương, đĩa xôi gấc đỏ tươi biểu trưng cho may mắn, và không thể thiếu những đĩa kẹo lạc giòn tan, những chiếc bánh đa vừng nướng thơm nức mũi do chính bàn tay cô dâu làm ra. Chủ tịch xã Trần Khang cùng các vị cán bộ trong Đảng ủy xã cũng có mặt chung vui. Ông Khang nâng chén rượu nếp cái hoa vàng, tươi cười dõng dạc nói trước bà con hai họ: “Hôm nay, Đảng ủy và Ủy ban xã Yên Sa rất vui mừng được đến chúc phúc cho đồng chí Hùng và cô Thu! Đây không chỉ là ngày vui của hai gia đình, mà còn là niềm tự hào chung của cả xã ta. Mô hình Trạm dừng chân và Cơ sở bánh kẹo Yên Sa của hai cháu đã chính thức được tỉnh công nhận là điển hình kinh tế tiểu thủ công nghiệp tự lực cánh sinh, đón đầu tinh thần đổi mới trước thềm Đại hội Đảng toàn quốc sắp tới. Tôi tin rằng với bàn tay tài hoa của anh thương binh Đặng Văn Hùng và sự tháo vát, hiền thảo của cô Thu, quê hương Vạn Cát của chúng ta sẽ ngày càng đổi mới, ấm no!” Tiếng pháo tay lại rộ lên vang dội. Bác Thược nâng chén rượu tiến lại gần Hùng, vỗ bôm bốp vào bờ vai vững chãi của người lính trẻ: “Thằng cháu giỏi lắm! Bác chúc mừng mày! Mày tàn nhưng không phế, giữ trọn được khí chất người lính Cụ Hồ, lại rước được cô vợ đảm đang nhất vùng. Từ nay xưởng mộc của mày với lò rèn của bác cứ thế mà hợp sức, đóng bàn ghế, rèn nông cụ cung cấp cho cả huyện!” Anh Triệu “đen” cùng mấy anh em thương binh trong xưởng mộc cũng bước tới, đôi mắt đỏ hoe vì xúc động. Triệu ôm chặt lấy Hùng rồi quay sang cúi đầu chào Thu: “Em dâu à… Anh Triệu nợ vợ chồng em một mạng sống. Nếu ngày ấy em không dốc cạn hũ sành gom góp tiền cho Hùng lên phố mua thuốc cấp cứu, thì nắm xương tàn của anh đã vùi dưới lòng đất rồi. Hôm nay thấy hai đứa nên duyên vợ chồng, cơ ngơi đàng hoàng thế này, anh mừng đến rơi nước mắt. Từ nay, xưởng mộc này có anh em chúng tôi sát cánh, dù vất vả đến đâu chúng tôi cũng quyết cùng Hùng đưa đồ gỗ Yên Sa đi khắp mọi miền đất nước!” Thu xúc động nghẹn ngào, cô chắp tay đáp lễ: “Anh Triệu nói vậy làm em ngại quá. Các anh là đồng đội vào sinh ra tử của anh Hùng, cũng là người nhà của em. Cơ sở này có được ngày hôm nay là nhờ mồ hôi công sức của tất cả các anh, các bác và bà con làng xóm. Em chỉ mong từ nay xưởng mộc và xưởng bánh kẹo sẽ ngày càng phát triển, để ai nấy đều có công ăn việc làm ổn định, không còn ai phải chịu cảnh đói rét cơ cực như những năm tháng trước nữa.” Đứng bên cạnh Hùng, Thu đưa mắt nhìn sang người cha chồng kính yêu. Nhìn ánh mắt rưng rưng và cái gật đầu của thầy Quỳ, Thu hiểu rằng những nỗi sợ hãi, e dè về quá khứ cải tạo công thương nghiệp, những định kiến hẹp hòi từng đè nặng tâm can người cha già bao năm qua nay đã thực sự được trút bỏ. Thu nhận ra niềm tự hào và thanh thản ánh lên trên gương mặt khắc khổ của cha, khi ông thấy hào quang của nghề mộc tổ truyền đã được thắp sáng trở lại, thấy tương lai xán lạn của dòng họ Đặng vững bền trong sự gắn kết yêu thương của vợ chồng cô. Buổi chiều đầu xuân dần buông xuống. Tiệc cưới tàn dần, bà con xóm làng lục tục ra về trong niềm hân hoan, rạng rỡ. Ánh hoàng hôn mùa xuân nhuộm đỏ cả một vùng trời bến đò Vạn Cát. Trên sông Hồng, những chuyến tàu thủy chở khách ngược xuôi mạn Phú Thọ, Tuyên Quang về Hà Nội liên tục kéo còi rền vang chào nhau khi đi qua khúc sông quen thuộc. Dưới bến, những chiếc thuyền buôn chở đầy cam sành, mía tím, gạo nếp ghé vào neo đậu tấp nập. Lệnh cấm chợ ngăn sông đã hoàn toàn được dỡ bỏ, việc giao thương buôn bán giờ đây diễn ra công khai, tấp nập trong sự phấn khởi của người lao động. Tại Trạm dừng chân, khách bộ hành qua đò tấp nập vào ra. Mùi nước chè xanh om lá chanh bốc khói nghi ngút quyện với mùi thơm bùi của kẹo lạc, bánh đa nướng than hoa lan tỏa khắp một vùng. Thắm cùng các chị em xóm bãi thoăn thoắt đóng gói những phong kẹo lạc óng ả vào giấy kiếng mới, nụ cười luôn nở tươi trên môi. Cách đó một quãng rào râm bụt, bên xưởng mộc cựu binh, tiếng cưa xẻ soàn soạt, tiếng đục gỗ lách cách và mùi dăm bào gỗ xoan mới thơm nồng vẫn vang lên rộn rã, báo hiệu những đơn hàng bàn ghế trường học, tủ trạm y tế đang hối hả thành hình. Khi công việc đã hòm hòm, Hùng nắm tay Thu, chậm rãi dắt cô đi về phía gốc đa cổ thụ đầu bến – nơi năm năm trước cô đã dựng chiếc lán rơm đầu tiên để nhóm lên bếp lửa mưu sinh. Gốc đa ngàn năm vẫn đứng đó, những chùm rễ phụ buông rủ vững chãi như những cột trụ của đất trời. Dưới bóng đa râm mát, chiếc ghế gỗ xoan con đầu tiên mà Hùng đóng tặng Thu năm xưa vẫn được đặt ngay ngắn ở một góc trang trọng. Mặt ghế qua năm tháng mưa nắng đã bóng loáng, nhẵn thín, dấu vết của những ngày tháng gian nan nhưng ngập tràn nghĩa tình vẫn còn vẹn nguyên nơi đó. Hùng kéo Thu ngồi xuống bên mình trên chiếc rễ đa to lớn trồi lên khỏi mặt đất. Anh cởi chiếc áo khoác quân phục ấm áp, nhẹ nhàng choàng lên đôi vai mảnh mai của vợ để chắn đi ngọn gió sông lúc hoàng hôn. “Lạnh không em?” – Hùng hỏi, ánh mắt ngập tràn sự âu yếm. Thu lắc đầu, mỉm cười nép sát vào người anh: “Không anh, có anh bên cạnh, em thấy ấm áp lắm.” Thu tựa đầu vào bờ vai vững chãi của Hùng, lặng lẽ ngắm nhìn khung cảnh quê hương đang chuyển mình kỳ diệu. Dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa trước mặt hai người đang cuộn chảy êm đềm ra biển lớn, mang theo những lớp phù sa màu mỡ bồi đắp cho những mùa màng tươi tốt. Trên mặt sông, ánh hoàng hôn dát lên những con sóng một màu vàng cam lộng lẫy, lung linh như hàng ngàn vì sao rơi xuống trần gian. Năm năm – một chặng đường không quá dài của một đời người, nhưng đối với Thu và Hùng, đó là cả một hành trình vượt qua giông bão của số phận và thời cuộc. Từ một cô gái mồ côi nghèo đói mang gánh nợ trên vai và một người lính mang thương tật nơi khớp gối với mặc cảm tàn phế, họ đã tìm thấy nhau bên bến đò hoang lạnh. Tình yêu mộc mạc, chân phương kết tinh từ bát nước chè xanh, từ sự thấu cảm và đôi bàn tay lao động cần cù đã giúp họ chiến thắng sự nghiệt ngã của hoàn cảnh, xóa bỏ những định kiến bảo thủ, hẹp hòi. Giờ đây, bóng đêm của thời kỳ bao cấp nghèo khó đã lùi sâu vào dĩ vãng. Trước mắt họ là một vận hội mới, một luồng sinh khí đổi mới đang căng tràn nhựa sống trên khắp mọi miền đất nước. Tiếng cưa đục rộn rã của xưởng mộc, mùi mật mía ngọt ngào của lò kẹo, tiếng cười nói rộn rã của người dân qua đò… tất cả hòa quyện thành một bản hòa ca ấm no, bền vững của làng quê Việt Nam. Hùng đưa bàn tay thô ráp nắm chặt lấy bàn tay nhỏ nhắn của Thu. Anh khẽ nghiêng đầu, đặt một nụ hôn nhẹ nhàng, thiêng liêng lên mái tóc thơm hương hoa bưởi của vợ, nơi chiếc lược mun chạm hoa bưởi vẫn đang tỏa sáng lấp lánh dưới ráng chiều. “Thu này,” – Hùng thì thầm, giọng anh nghẹn lại trong niềm xúc động vô bờ – “Từ nay về sau, bến đò này, mái nhà này, và cả cuộc đời anh… sẽ mãi mãi là bến đỗ bình yên của em.” Thu ngước nhìn đôi mắt thâm trầm, kiên định của chồng, khóe mắt lăn dài một giọt nước mắt hạnh phúc. Cô mỉm cười, siết chặt lấy bàn tay anh: “Vâng, anh Hùng. Chúng mình sẽ cùng nhau giữ mãi ngọn lửa ấm nơi bến đò này, anh nhé…” Gió xuân lại thổi về mơn man trên mặt nước, mang theo hương vị ngạt ngào của phù sa sông Hồng và mật mía ngọt lành. Dưới gốc đa cổ thụ ngàn năm, hai bóng người hòa vào làm một giữa ráng chiều rực rỡ, khép lại trọn vẹn những năm tháng gian truân bằng khúc ca viên mãn của tình người, của niềm tin sắt son và hy vọng bừng sáng đón chào tương lai. , , vn, live , vn

Bạn cũng là tác giả hoặc dịch giả?

Đăng sáng tác hoặc bản dịch của riêng bạn lên Say Truyện — miễn phí, chỉ mất vài phút.

Đăng truyện ngay

Bình luận (0)

Đang tải bình luận...