Quán Nước Bên Bến Đò Năm Ấy
Chương24: Khay trầu dạm ngõ
Cỡ chữ
Lồng ngực Đặng Văn Hùng đập thình thình từng nhịp dồn dập dưới lần vải ka ki của bộ quân phục màu cỏ úa. Chiếc áo này anh đã cẩn thận giặt sạch bằng nước mưa, dùng chiếc bàn là gang chứa đầy than củi quạt hồng ủi phẳng phiu từng nếp gấp từ chiều. Dù vết thương nơi khớp gối trái vẫn nhói lên nhè nhẹ sau mỗi bước đi trên con ngõ lát gạch nghiêng mấp mô, nhưng chưa bao giờ Hùng thấy bước chân tập tễnh của mình lại vững chãi và rạo rực đến thế.
Gió đông bắc thổi từ triền đê sông Hồng tràn qua rặng tre xào xạc, mang theo cái buốt giá cắt da cắt thịt đặc trưng của đồng bằng Bắc Bộ những ngày cuối năm. Thế nhưng luồng khí lạnh ấy dường như chẳng thể nào chạm tới ngọn lửa đang bừng cháy trong lồng ngực anh.
Anh nhìn bóng lưng của thầy mình. Ông Đặng Văn Quỳ đêm nay vận bộ áo dài the đen trang trọng vốn chỉ dành riêng cho những dịp tế lễ linh thiêng nơi đình làng, chòm râu bạc khẽ rung rinh theo từng nhịp bước. Đôi bàn tay gân guốc cả đời cầm đục cầm cưa của ông lão nâng niu chiếc khay đồng cổ phủ tấm khăn điều đỏ thắm thêu hình đôi chim bồ câu rực rỡ. Dưới lớp lụa điều ấy là cơi trầu khảm ốc xà cừ sáng lấp lánh men thời gian – vật báu gia truyền mà cụ nội để lại, suốt ba mươi năm qua chưa từng một lần rời khỏi chiếc tủ chè gỗ gụ.
Phía sau hai cha con, bác Thược thợ rèn giơ cao chiếc đèn bão tỏa ánh sáng vàng rực, khuôn mặt vuông vức đỏ au rạng rỡ, bước đi phăm phăm như trẩy hội. Con Thắm xúng xính trong chiếc áo hoa mới, miệng cười tươi như hoa nở mùa xuân, tay dắt theo mấy đứa trẻ con xóm bãi đang nhảy chân sáo. Tiếng bước chân rộn rã, tiếng cười nói giòn tan của các bậc cao niên trong họ Đặng và bà con xóm Mộc, xóm Bến đã xua tan hoàn toàn cái tĩnh mịch, buốt giá của đêm đông bên triền đê.
Trước mắt Hùng, cánh cổng giậu dâm bụt của căn nhà tranh đã mở toang tự bao giờ. Dưới mái hiên lợp rạ xơ xác, Nguyễn Thị Thu đứng sững ở đó, bàn tay nhỏ nhắn run rẩy bấu chặt vào mép cánh cửa liếp. Ánh sáng bập bùng từ những ngọn đuốc nứa soi rõ gương mặt thanh tú đượm màu nắng gió phù sa của cô gái. Đôi mắt đen láy mở to đầy vẻ bàng hoàng, kinh ngạc, rồi ngấn nước tự bao giờ. Thu mặc manh áo bà ba nâu sồng giản dị, chiếc khăn rằn Nam Bộ và buồng cau mà mẹ con Triệu “đen” mang biếu ban chiều vẫn còn đặt ngay ngắn trên chiếc chõng tre bên trong nhà.
Trên mái tóc đen dày óng ả cài gọn sau gáy, chiếc lược gỗ mun chạm hình bông lúa và cành hoa bưởi tinh xảo – kỷ vật đính ước mà Hùng đã trao cho cô bên bờ sông cạn năm nào – khẽ ánh lên sắc đen nhánh trầm mặc dưới quầng sáng bập bùng.
Chạm phải ánh mắt của Thu, bao nhiêu nét phong trần, sắt đá của người lính từng đi qua làn mưa bom bão đạn nơi chiến trường Tây Nam bỗng chốc mềm lại. Hùng khẽ mỉm cười, một nụ cười hiền hậu, ấm áp như ánh lửa than hoa chiều đông, kín đáo gật đầu với người con gái mình thương như muốn nói: “Anh đã về đây, mang theo cả tấm lòng của cả dòng họ đến đón em.”
“Kìa Thu! Con bé này chết trân ra đấy làm gì thế hả con?” – Tiếng bà cụ Vấn sang sảng vang lên từ phía ngõ tắt bên bãi ngô.
Hóa ra lúc nãy vừa nghe tiếng ông Quỳ giục giã trong xóm Mộc, con Thắm đã lanh chanh chạy tắt qua bến đò cõng bằng được cụ Vấn sang. Cụ già lưng còng như cánh cung, tay chống gậy trúc, miệng bỏm bẻm nhai trầu đỏ thắm, bước chân thoăn thoắt tiến vào sân. Cụ nhìn khắp một lượt đoàn người nhà trai với khay trầu khăn đỏ, đôi mắt tinh anh rạng rỡ niềm hoan hỉ khôn xiết. Cụ bước đến nắm lấy bàn tay lạnh ngắt của Thu, khẽ vỗ về:
“Vào nhà thôi con! Họ Đặng người ta mang lễ vật sang thưa chuyện đàng hoàng, danh chính ngôn thuận rồi. Mau quét lại manh chiếu hoa, thắp thêm ngọn đèn dầu đón bác Quỳ với các cụ vào nhà!”
Thu như choàng tỉnh khỏi cơn mơ. Cô nghẹn ngào vâng một tiếng thật khẽ, bờ mi rưng rưng chớp chớp giấu đi giọt nước mắt hạnh phúc.
Gian nhà tranh vách đất thường ngày vốn quạnh quẽ, hiu hắt, nay bỗng chốc trở nên chật chội nhưng ấm sực tình người. Mùi khói hương trầm mà Thu vừa thắp báo công với cha mẹ vẫn còn lảng bảng quyện trong không gian, gặp hơi ấm của hàng chục con người bước vào liền bốc lên thơm ngát. Bác Thược đặt chiếc đèn bão lên mặt bàn tre, vặn to bấc đèn, khiến cả căn phòng bừng sáng lung linh.
Bà cụ Vấn được trân trọng mời ngồi vào chiếc ghế mây ở vị trí đại diện nhà gái. Cụ ngồi đó, lưng còng trầm tích bao thăng trầm của bến nước, hàm răng đen nhánh hạt huyền khẽ mỉm cười bao dung. Thu khép nép đứng sau lưng cụ, đôi bàn tay đan vào nhau bối rối, ánh mắt rưng rưng nhìn làn khói trầm uốn lượn trên bàn thờ gia tiên.
Ông Đặng Văn Quỳ trang trọng bước tới trước chiếc bàn tre mộc mạc đặt gian giữa. Ông hít một hơi thật sâu, đôi bàn tay hơi run run đặt chiếc khay đồng xuống. Nhìn lên di ảnh của đôi vợ chồng người thợ bạc nghèo năm xưa – cha mẹ của Thu – ông Quỳ kính cẩn cúi đầu vái ba vái, rồi mới quay lại nhìn Thu và cụ Vấn.
Không khí trong gian nhà bỗng chốc lắng lại. Mọi tiếng xì xào, cười đùa ngoài sân đều tự động tắt hẳn, chỉ còn lại tiếng gió sông Hồng thổi vi vút qua rặng tre ngoài ngõ và tiếng củi nổ lách tách trong căn bếp nhỏ.
Ông Quỳ cất giọng trầm ấm, dõng dạc, từng lời từng chữ như rút ruột rút gan:
“Kính thưa cụ Vấn, thưa hương linh của hai bác nơi chín suối, thưa toàn thể bà con cô bác xóm Bến, xóm Mộc! Tôi là Đặng Văn Quỳ, hôm nay thay mặt cho dòng họ Đặng ở làng Yên Sa, cùng con trai cả của tôi là Đặng Văn Hùng, xin phép được bước chân vào ngưỡng cửa gia đình.”
Ông dừng lại một nhịp, đưa mắt nhìn Thu đang đứng khép nép bên cạnh cụ Vấn, ánh mắt người cha già ngập tràn sự trân trọng và bao dung:
“Bấy lâu nay, đất nước trải qua bao tao đoạn, cảnh ngộ khó khăn, làng quê chịu nhiều định kiến ngặt nghèo của thời bao cấp. Bản thân tôi tuổi già hồ đồ, từng có lúc vì sợ hãi những biến cố quá khứ, sợ miệng lưỡi thế gian mà e ngại chuyện làm ăn bươn chải của các cháu. Nhưng vàng thật thì không sợ lửa, ngọc lành thì chẳng sợ vết nhơ phù sa! Suốt mấy năm ròng rã, cháu Thu đây một thân một mình nơi bến vắng, chịu thương chịu khó, gánh nợ thay cha mẹ mà không một lời than vãn. Cháu nấu từng ấm nước chè xanh, nướng từng chiếc bánh đa sưởi ấm cho khách lỡ bước qua đò. Lúc hoạn nạn bão giá đổi tiền, cháu cưu mang xóm bãi; lúc đồng đội thằng Hùng nguy kịch thập tử nhất sinh, cháu dốc cạn hũ tiền dành dụm bốn năm mồ hôi nước mắt để cứu mạng người. Một người con gái thảo hiền, giàu đức hy sinh và trọng tình trọng nghĩa như thế, họ Đặng chúng tôi nếu không mở rộng cửa rước về làm dâu trưởng, thì quả là có tội với trời đất, có lỗi với tổ tiên!”
Nghe những lời gan ruột của ông Quỳ, Thu không kìm được nữa, nước mắt lăn dài trên đôi gò má ửng hồng. Bao nhiêu cay đắng, tủi nhục, bao nhiêu đêm đông thức trắng vò võ bên lò than nướng bánh, bao nhiêu lời gièm pha “con bé mồ côi buôn bán tư thương” đè nặng lên vai cô suốt mấy năm qua, giờ đây dường như tan biến sạch trơn dưới sự thừa nhận đường hoàng, đĩnh đạc của bậc trưởng thượng họ Đặng.
Bà cụ Vấn ngồi trên chiếc ghế mây, lưng còng khẽ run lên theo từng nhịp xúc động. Cụ đưa chéo khăn vuông lau khóe mắt già nua, giọng nghẹn ngào nhưng sang sảng:
“Bác Quỳ nói những lời ấy, tôi ở dưới bến đò Vạn Cát này nghe mà mát từng khúc ruột! Bố mẹ cái Thu thuở sinh thời ăn ở hiền lành, mất sớm để lại cho nó đôi bàn tay trắng với gánh nợ nghĩa tình. Mấy năm qua, con bé một thân một mình, tôi coi nó như ruột thịt trong nhà. Thằng Hùng là đứa lính phục viên tàn nhưng không phế, tính tình trầm mặc mà dạ sáng như gương. Hai đứa nó cùng chung một khúc sông, cùng san sẻ bát nước chè gừng lúc đói rét, cùng nhau vượt qua bao nhiêu cạm bẫy hẹp hòi của thói đời. Hôm nay bác Quỳ đích thân mang khay trầu sang thưa chuyện, thay mặt cho bố mẹ cháu Thu dưới suối vàng, thay mặt cho chòm xóm bến đò, tôi xin kính cẩn đón nhận tấm lòng của họ Đặng!”
Cụ Vấn vừa dứt lời, cả gian nhà và khoảng sân ngoài hiên ồ lên những tràng pháo tay ròn rã. Bác Thược thợ rèn cười ha hả, đập tay bôm bốp vào đùi:
“Đấy! Phải thế chứ! Duyên trời định bên bến Vạn Cát này, chạy đằng trời sao khỏi hở bác Quỳ!”
Ông Quỳ mỉm cười rạng rỡ, quay sang giục Hùng:
“Hùng! Mau bước lên đây con!”
Hùng bước lên một bước. Anh đứng sóng đôi bên cạnh Thu trước bàn thờ gia tiên. Dưới làn khói trầm bảng lảng, Hùng nhìn thẳng vào mắt Thu, ánh mắt kiên định, chân thành của người lính đã từng đi qua lằn ranh sinh tử. Anh hít một hơi thật sâu, giọng nói trầm vang, mộc mạc mà chứa chan thề nguyền:
“Thu… Chiến tranh lấy đi của anh một phần thân thể, khiến chân anh tập tễnh, khiến anh từng có lúc ngỡ cuộc đời mình coi như bỏ đi. Nhưng chính bát nước chè xanh và ngọn lửa lò ấm áp của em nơi bến đò năm ấy đã kéo anh trở lại với cuộc đời. Anh không phải người khéo ăn khéo nói, cũng chẳng có giàu sang phú quý để hứa hẹn nhung lụa với em. Nhưng trước vong linh của hai bác, trước mặt thầy và bà con chòm xóm, anh xin thề: trọn đời này, đôi vai này sẽ là vách gỗ vững chãi nhất che mưa chắn gió cho em; đôi bàn tay thợ mộc này sẽ cùng em đục đẽo, gầy dựng nên một mái ấm yên bình; dẫu đường đời phía trước còn gập ghềnh bão táp, bước chân anh dẫu tật nguyền cũng sẽ mãi mãi đi bên cạnh em, không bao giờ buông tay!”
Từng lời nói của Hùng như rót mật vào lòng Thu, khiến trái tim cô rung lên những nhịp đập thổn thức. Cô ngước nhìn người đàn ông cao lớn, sương gió bên cạnh mình, khẽ cắn môi, gật đầu thật mạnh trong làn nước mắt:
“Anh Hùng… Em… em chỉ ước một đời cùng anh san sẻ buồn vui, cùng anh nhóm lửa bên bến đò, thế là trọn vẹn lắm rồi!”
Lúc bấy giờ, ông Đặng Văn Quỳ trang trọng mở tấm khăn điều phủ trên khay đồng. Chiếc cơi trầu khảm ốc hiện ra với những lá trầu không xanh mướt xếp tròn đều tăm tắp, ôm lấy những miếng cau tươi bổ khéo hình cánh phượng, điểm thêm chút vôi nồng đỏ thắm. Nhưng đặc biệt hơn cả, ở chính giữa cơi trầu là một chiếc hộp gỗ gụ nhỏ xíu, chạm hình hoa sen tinh xảo.
Ông Quỳ cẩn thận mở nắp hộp. Dưới ánh đèn bão lung linh, một đôi hoa tai bằng bạc trắng muốt, chạm khắc hình hoa sen cổ truyền tinh vi lấp lánh ánh kim.
“Cháu Thu à,” – Giọng ông Quỳ chùng xuống, rưng rưng nỗi niềm hoài niệm – “Đôi hoa tai bạc này là kỷ vật của bà nội thằng Hùng để lại cho mẹ nó ngày về làm dâu họ Đặng. Mẹ nó mất sớm khi thằng Hùng mới vào bộ đội, trước lúc lâm chung chỉ trăng trối lại là giữ gìn cho đứa dâu trưởng xứng đáng sau này. Mấy chục năm qua, dù gia cảnh có lúc khốn đốn, xưởng mộc bị giải tỏa, gạo không đủ ăn, tôi vẫn cất kỹ dưới đáy rương không dám đụng tới. Nay họ Đặng chính thức trao lại đôi hoa tai này cho cháu. Kể từ giây phút này, cháu chính là dâu trưởng của gia đình chúng tôi!”
Ông Quỳ run run nâng chiếc hộp gỗ trao tận tay Thu. Đôi bàn tay vốn quen nhào bột, bẻ củi, quạt than nướng bánh của cô gái mồ côi run rẩy đón lấy báu vật gia truyền. Đôi hoa tai bạc mát rượi, nhưng sức nặng của ân tình, của sự tin cậy và danh dự mà cả một dòng họ trao gửi lại khiến lòng cô ấm nóng khôn cùng.
Thu nghẹn ngào quỳ sụp xuống vái lạy ông Quỳ:
“Con… con đội ơn thầy! Đội ơn tổ tiên họ Đặng đã bao dung, mở rộng vòng tay đón nhận đứa con gái mồ côi này!”
Hùng vội cúi xuống đỡ Thu đứng dậy. Đặng Thị Thắm từ ngoài sân chen vào, vừa lau nước mắt vừa cười toe toét:“Ối dồi ôi, chị Thu ơi, thế là từ nay em được gọi chị là chị dâu đường đường chính chính rồi nhé! Mai em phải ra bến đò khoe toáng lên cho cả thiên hạ biết mới được!”
Tiếng cười nói lại rộ lên rộn rã khắp gian nhà. Bác Thược, chị Mót cùng bà con xóm Bến ùa vào chúc mừng. Chiếc ấm tích nước chè xanh om nóng lại được Thu thoăn thoắt rót ra những chiếc bát quả đậu bằng sành da lươn. Đĩa kẹo lạc giòn tan thơm lừng mùi mật mía hoa cau và vừng rang được chuyền tay nhau rôm rả. Trong gian nhà tranh đơn sơ bên bến sông, tình người, tình làng nghĩa xóm và niềm hạnh phúc lứa đôi hòa quyện vào nhau, xua tan hoàn toàn cái rét mướt căm căm của đêm đông giáp Tết.
*
Những ngày sau lễ dạm ngõ, làng Yên Sa như bừng tỉnh sau một giấc ngủ đông dài dằng dặc. Không khí chuyển mình rục rịch của mùa xuân năm 1986 lan tỏa từ phố huyện về tận từng ngõ xóm. Sau những nghị quyết đổi mới từng phần về lưu thông phân phối và khuyến khích kinh tế gia đình, bầu không khí ngột ngạt của thời ngăn sông cấm chợ bắt đầu giãn ra, nhường chỗ cho sức sống dân sinh cuồn cuộn trỗi dậy như dòng phù sa mùa nước cạn.
Tại bến đò Vạn Cát, không khí lao động rộn ràng chưa từng thấy.
Chấp hành chủ trương của UBND huyện và xã Yên Sa về việc xây dựng mô hình điểm “Trạm dịch vụ trung chuyển dân sinh và Cơ sở tiểu thủ công nghiệp”, Đặng Văn Hùng cùng nhóm thợ mộc cựu binh đã bắt tay ngay vào công việc tái thiết lại khu vực bến sông.
Dưới sự chỉ huy tháo vát của con Thắm, đám thanh niên xóm Bến và dân chài kéo nhau ra bến đò đông như hội. Người gánh cát, người gánh vôi, người chuyển gạch. Bác Thược thợ rèn mang cả đe búa ra tận nơi để tán bu-lông, rèn bản lề sắt cho các cánh cửa.
Hùng đứng giữa bãi đất rộng nơi từng là chiếc chòi tre xiêu vẹo năm nào, tay cầm thước tầm và dây mực, thoăn thoắt vạch những đường chuẩn xác trên những thân gỗ xoan ngâm đỏ au. Dù khớp gối vẫn tập tễnh, nhưng mỗi nhát đục, nhát bào của anh đều dứt khoát, điêu luyện lạ thường. Những người đồng đội thương binh như Toàn “rỗ”, anh Sinh, anh Vĩnh mỗi người một việc, tiếng cưa xẻ gỗ xào xạc hòa cùng tiếng đục mộng chan chát vang động cả khúc sông. Những thanh xà, rui mè, cột cái được nhóm thợ mộc đục mộng én, mộng mang cá khít khao tăm tắp mà không cần dùng đến một chiếc đinh sắt nào.
Chỉ trong vòng năm ngày, một ngôi nhà gỗ ba gian khang trang, lợp mái ngói đỏ tươi thay cho mái rạ rách nát đã mọc lên sừng sững bên gốc đa cổ thụ. Những hàng cột gỗ xoan bóng loáng mùi dầu trẩu, nền nhà được lát gạch Bát Tràng phẳng lỳ, khô ráo. Dọc theo hiên nhà nhìn ra dòng sông Hồng, Hùng cho kê những dãy ghế băng dài bằng gỗ dổi thơm nức mùi nhựa mới để hành khách nhỡ độ đường có chỗ ngả lưng, che mưa chắn nắng.
Bên gian tả của trạm dừng chân, Hùng dành riêng một không gian rộng rãi, thoáng đãng để đặt xưởng bánh kẹo thủ công cho Thu. Chiếc lò nướng đối lưu cải tiến chạy bằng quạt gió đạp chân được chuyển về đặt ở vị trí trang trọng nhất, ống khói dẫn thẳng lên cao qua mái ngói, không để lại một vệt muội than nào vương trong quán. Cạnh đó là cỗ máy cán kẹo trục gỗ nghiến và giàn dao định hình do chính tay anh sáng chế, bóng loáng mỡ lợn và ngạt ngào mùi mật mía.
Thu cùng hơn mười chị em phụ nữ nghèo neo đơn trong xóm Bến làm việc không ngơi tay. Mùi mật mía hoa cau ngào gừng tươi bốc lên ngào ngạt, quyện với mùi vừng rang thơm nức mũi bay xa tít tắp ra tận giữa dòng sông. Tiếng dao cắt kẹo lách cách đều đặn, tiếng quạt gió ro ro vui tai, tiếng cười nói ríu rít của các chị em xua tan đi mọi ảm đạm của những năm tháng đói nghèo cơ cực.
Sáng hai mươi tám Tết, một sự kiện trọng đại diễn ra khiến cả làng Yên Sa náo nức.
Đích thân ông Trưởng phòng Công nghiệp huyện cùng đồng chí Chủ tịch xã Trần Khang đi trên chiếc com-măng-ca về tận bến đò Vạn Cát. Trước sự chứng kiến của đông đảo bà con nhân dân, đồng chí Chủ tịch xã đã long trọng trao tấm biển gỗ mít vàng óng do chính Hùng chạm lọng dòng chữ thếp son rực rỡ:
“TRẠM DỪNG CHÂN BẾN ĐÒ VẠN CÁT – CƠ SỞ BÁNH KẸO TRUYỀN THỐNG YÊN SA”
Kèm theo đó là quyết định công nhận cơ sở điểm tiểu thủ công nghiệp tự lực cánh sinh, cấp hạn ngạch năm tấn mật mía và ba tấn lạc nhân cho cơ sở ngay trong quý một năm 1986. Tiếng reo hò, tiếng vỗ tay của dân làng vang động cả một khúc sông Hồng, hòa cùng tiếng nước chảy cuồn cuộn phù sa chở nặng niềm vui phơi phới.
*
Đêm hai mươi chín Tết.
Sau một ngày tất bật đóng gói hàng trăm hộp kẹo lạc, hàng ngàn chiếc bánh đa vừng nướng giòn rụm giao cho các chuyến đò ngược xuôi phục vụ Tết cho nhân dân hai bờ sông, bến Vạn Cát cuối cùng cũng chìm vào tĩnh lặng.
Trăng cuối năm muộn màng nhô lên từ phía bên kia bãi bồi, dát một dải bạc lấp lánh lên mặt nước sông Hồng đỏ quạch phù sa. Gió bấc đã ngừng thổi, nhường chỗ cho ngọn gió đông nam ẩm ướt, mang theo hơi thở nồng nàn của đất ải phù sa và sức sống mơn mởn của chồi non lộc biếc đang cựa mình thức giấc.
Hùng khẽ khàng cài then cánh cửa xưởng mộc, rồi bước ra bờ dốc đá. Từ xa, anh đã thấy bóng dáng mảnh mai của Thu đang đứng tựa vào gốc đa cổ thụ, đôi mắt hướng về phía dòng sông mênh mông lộng gió.
Bước chân Hùng bước nhẹ trên lớp cát mịn, nhưng Thu vẫn nhận ra tiếng bước chân tập tễnh quen thuộc ấy. Cô quay lại, mỉm cười dịu dàng:
“Anh Hùng… Xưởng dọn dẹp xong cả rồi hả anh?”
“Xong cả rồi em ạ.” – Hùng bước đến đứng cạnh cô, bờ vai rộng vững chãi như một bức tường thành che chắn làn gió đêm mơn man – “Mấy anh em thương binh đã về nhà chuẩn bị đón Giao thừa. Thầy với con Thắm cũng đã gói xong nồi bánh chưng, đang ngồi canh lửa ngoài sân.”
Thu đưa tay vén lọn tóc mai lòa xòa trước trán. Dưới ánh trăng bàng bạc, gương mặt cô rạng ngời một nét đẹp mộc mạc, thuần khiết. Đôi hoa tai bạc chạm hoa sen mà thầy Quỳ trao đêm dạm ngõ khẽ đung đưa bên vành tai nhỏ nhắn, phát ra những tia sáng lấp lánh dịu dàng.
Hùng ngắm nhìn người vợ sắp cưới của mình, lòng dâng lên một niềm thương cảm và hạnh phúc khôn xiết. Ánh mắt anh dừng lại nơi mái tóc đen nhánh cài gọn sau gáy cô. Chiếc lược gỗ mun đính ước mà anh trao cho cô bên bờ sông cạn ngày trước vẫn ở đó, từng đường khắc hoa bưởi và bông lúa bóng lên màu thời gian qua những ngày tháng cùng cô trải qua bao cơn giông gió.
Anh nhẹ nhàng đưa bàn tay thô ráp, chai sần vì cưa đục khẽ chạm vào mái tóc của Thu. Những ngón tay ấm nóng của người lính vuốt nhẹ sống lưng chiếc lược mun, chỉnh lại từng sợi tóc mai vương bên trán người con gái mình thương. Mùi hoa bưởi thanh khiết quyện với hương bồ kết nướng quen thuộc phảng phất trong làn gió sông, khiến tâm can Hùng rung lên những nhịp đập êm đềm, tha thiết.
“Chiếc lược mun này… từ ngày anh trao, em chưa từng tháo ra một lần nào.” – Hùng trầm giọng, đôi mắt nhìn sâu vào mắt cô, đong đầy ân tình của những tháng ngày hoạn nạn có nhau.
Thu khẽ mỉm cười, đôi gò má ửng hồng dưới ánh trăng khuya:
“Đó là tấm lòng của anh, là lời ước hẹn của anh với em giữa những ngày giông bão nhất. Giờ đây lại có thêm đôi hoa tai bạc của thầy trao… em thấy đời mình như được chở che bởi cả một mái ấm vững chãi.”
Thu khẽ nắm lấy bàn tay thô ráp của Hùng. Những ngón tay cô thon nhỏ nhưng các đầu ngón tay vẫn còn vương những vết sẹo mờ – dấu tích của những ngày tháng quạt than nướng bánh bỏng rát nơi lều rạ năm xưa.
“Mấy năm qua… em đã vất vả quá nhiều rồi, Thu à.” – Giọng Hùng run run.
Thu khẽ lắc đầu, bàn tay nhỏ nhắn siết chặt lấy những ngón tay chai sần của anh:
“Có anh cùng gánh vác, em chưa từng thấy vất vả bao giờ. Những ngày cùng anh nướng bánh trong đêm mưa, những lúc anh thức trắng thâu đêm chế tạo chiếc lò cải tiến… em chỉ thấy ấm lòng thôi. Nhờ có anh, có thầy, có bà con xóm Bến mà quán nước rách nát năm xưa nay đã thành cơ sở khang trang thế này. Đứng ở đây nhìn ra sông, em cứ ngỡ mình vẫn đang nằm mơ…”
Hùng không nói. Anh vòng cánh tay rắn rỏi ôm lấy bờ vai nhỏ nhắn, kéo cô sát vào lòng mình. Thu ngoan ngoãn ngả đầu tựa vào lồng ngực vững chãi của anh. Qua làn áo ka ki ấm nóng, cô nghe rõ từng nhịp đập rộn ràng, mạnh mẽ của trái tim Hùng – nhịp đập của người đàn ông đã vì cô mà vượt qua mặc cảm tàn phế, đã vì cô mà thắp lại ngọn lửa thiêng của xưởng mộc tổ truyền.
Đứng bên gốc đa cổ thụ ngàn năm, hai người lặng lẽ lắng nghe tiếng sóng vỗ thì thầm vào mạn thuyền dưới bến nước, tiếng gió sông rầm rì mang theo nhịp thở đổi thay của đất trời. Đêm mùa đông cuối cùng của những năm tháng gian khó đang dần trôi qua, nhường chỗ cho một mùa xuân mới – mùa xuân của sức sống đổi thay, của tự do làm ăn và của hạnh phúc lứa đôi nở hoa trọn vẹn.
*
Sáng ba mươi Tết, tiếng còi tàu thủy rền vang trên sông Hồng hòa cùng tiếng chuông chùa Yên Sa ngân nga, báo hiệu con đò hoa rước dâu của cụ Vấn đã kết xong dải lụa đỏ rực rỡ bên bến nước phù sa.
, , vn, live
,
vn
Bình luận (0)
Đang tải bình luận...