Quán Nước Bên Bến Đò Năm Ấy
Chương23: Nợ nần trả hết, nghĩa tình vẹn nguyên
Cỡ chữ
Tiếng động cơ gầm gừ trầm đục xé toang không gian tĩnh lặng của triền đê bến Vạn Cát.
Chiếc xe com-măng-ca màu xanh lá cây đậm, bám đầy bụi đỏ đường trường, từ từ dừng lại ngay dưới bóng râm xòe rộng của cây đa cổ thụ. Chiếc cần ăng-ten thép dài ngoẵng cắm sau đuôi xe khẽ rung bần bật từng nhịp theo độ giằng của bánh cao su lớn. Đặng Thị Thắm vừa th* d*c vừa nép sau lưng anh trai, ngón tay run rẩy trỏ về phía người vừa bước xuống xe.
Nguyễn Thị Thu siết chặt cuộn lạt giang mềm mại trong lòng bàn tay. Lồng ngực cô đập thình thịch từng hồi bồn chồn khó tả. Những năm tháng sống trong cảnh nơm nớp sợ sệt trạm kiểm soát đê điều đã tạo thành một phản xạ vô thức, cứ mỗi lần thấy bóng dáng xe công vụ hay người lạ mặt ghé bến, ruột gan cô lại thắt lại. Nhưng Đặng Văn Hùng đã khẽ bước lên nửa bước, tấm lưng rộng vững chãi của anh như một bức tường thành che chắn trọn vẹn nửa người cô trước ngọn gió sông buốt giá.
“Đừng sợ, có anh ở đây.” – Giọng Hùng trầm ấm, bàn tay to bản thô ráp khẽ chạm vào vai cô trấn an.
Cánh cửa sắt chiếc xe nhà binh bật mở với một tiếng
cạch
khô khốc.
Một anh bộ đội trẻ tuổi đeo quân hàm đỏ, thắt lưng da gọn gàng nhảy xuống trước, nhanh nhẹn chạy vòng ra phía sau mở chốt cửa bên phụ. Từ trên bậc xe, một người đàn ông trạc tuổi ba mươi, vóc dáng cao gầy, nước da ngăm đen đặc trưng của lính chiến trường Tây Nam chậm rãi bước xuống. Anh mặc bộ quân phục Tô Châu bạc phếch màu nắng gió biên cương, chiếc mũ cối đã sờn mép cầm nơi tay. Dù lồng ngực còn hơi gầy guộc sau trận ốm thập tử nhất sinh, nhưng dáng đi của anh đã thẳng thớm, đôi mắt sáng quắc bừng lên ánh thép của người lính từng đi qua làn tên mũi đạn.
Vừa chạm chân xuống mặt đất phù sa pha cát của bến sông, người lính ấy liền quay người lại, hai tay nâng niu đỡ một bà cụ già lưng còng rạp xuống xe. Bà cụ trạc ngoài bảy mươi, tóc bạc phơ như mây trời quấn gọn trong chiếc khăn vuông đen, hàm răng đen nhánh hạt huyền khẽ run rẩy. Trên đôi tay gầy guộc chằng chịt những đường gân xanh, bà cụ ôm khư khư một chiếc giỏ đan bằng tre cật, bên trên phủ tấm khăn rằn Nam Bộ đã giặt đến ngả màu cỏ úa.
Đôi mắt người lính trẻ lướt qua rặng phi lao, qua xưởng mộc thơm lừng mùi phoi dổi, rồi dừng lại trân trân nơi người thanh niên mặc áo lính cộc tay đang chống chiếc gậy tre đứng bên hiên quán nước.
“Thằng Hùng… Hùng ‘khoái’!”
Một tiếng gọi nghẹn ngào bật ra từ lồng ngực người lính vừa xuống xe.
Chiếc gậy tre trên tay Hùng khẽ run lên. Đôi đồng tử anh co thắt dữ dội, cuốn sổ tay kẹp nách rơi xoạch xuống thềm đất từ lúc nào không hay.
“Triệu… Triệu ‘đen’! Đúng là mày rồi!”
Hùng nén cơn đau buốt ở khớp gối bên trái, chẳng buồn nhặt chiếc gậy, tập tễnh lao vội ra con dốc đất đỏ. Người lính tên Triệu cũng rảo bước thật nhanh, đôi dép cao su đúc sầm sập đạp trên nền cát bồi. Hai người đàn ông từng chia nhau mẩu lương khô mốc, từng nằm chung một chiếc võng dù dầm mưa rừng biên giới, lao vào ôm ghì lấy nhau.
Tiếng vỗ lưng chan chát hòa lẫn tiếng nấc nghẹn ngào của những người lính đi qua khói lửa bom đạn. Triệu ghì chặt lấy bờ vai vạm vỡ của Hùng, hai mắt đỏ hoe:
“Tao sống rồi Hùng ơi! Tao qua khỏi rồi! Bác sĩ quân y bảo cái ổ mủ áp xe trong phổi tao vỡ ra, máu tràn ngập màng phổi, nếu không có lọ thuốc đặc trị ngoại nhập của mày kịp thời gửi lên trong đêm hai mươi chín Tết, thì cỏ trên mả tao giờ đã xanh rì rồi mày ơi!”
“Mày sống là tốt rồi… Đồng đội cũ của tao ngã xuống gần hết, mày mà bỏ đi thì tao biết ăn nói sao với linh hồn anh em…” – Giọng Hùng run rẩy, những giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên gương mặt phong trần sương gió.
Thu đứng lặng bên hiên quán, nhìn hai người lính ôm nhau giữa bến sông lộng gió mà khóe mắt cay xè. Cảm giác nhẹ nhõm vô bờ bến trào dâng trong lòng cô. Vậy là chín trăm đồng tiền mới – toàn bộ mồ hôi, nước mắt và cả sự chắt chiu của bốn năm ròng rã bên bếp lửa mà cô dốc sạch trong hũ sành ngày ấy – đã không hề uổng phí. Nó đã cứu được một mạng người, giữ lại một người con cho người mẹ già đơn chiếc.
Đúng lúc ấy, bà cụ già lưng còng lẫm chẫm bước tới. Đôi mắt mờ đục vì khóc thương con suốt những ngày Triệu nằm viện bỗng dừng lại trên gương mặt Thu. Nhìn chiếc tạp dề vải thô còn vương mùi bột nếp, nhìn đôi bàn tay nhỏ nhắn thoăn thoắt nhưng đầy những vết chai sần của cô gái trẻ, bà cụ dường như hiểu ra tất cả.
Bất thần, bà cụ run rẩy buông chiếc giỏ tre xuống đất, hai đầu gối khuỵu xuống toan quỳ lạy trước mặt Thu và Hùng.
“Lạy trời lạy phật… Lạy hai cô chú ân nhân…” – Bà cụ nghẹn ngào, hai giọt nước mắt đục ngầu rỉ ra từ khóe mắt nhăn nheo – “Nhà tôi neo đơn chỉ có mỗi một mụn con trai này… Bố nó hy sinh ở đường Chín năm sáu tám, nó đi chiến trường Tây Nam về lại vướng bạo bệnh. Nếu không có hai cô chú dốc hết cả gia tài hạt gạo cắn đôi ra để mua thuốc cứu mạng, thì thân già này chỉ còn nước ôm mồ con mà chết rấp…”
“Bà ơi! Bác ơi, bác đừng làm thế, chúng cháu tổn thọ mất!”
Thu hoảng hốt kêu lên một tiếng, vội vàng bước xốc tới cùng Hùng quỳ sụp xuống đất, hai tay nâng đỡ lấy đôi vai gầy guộc của người mẹ già. Hùng một bên, Thu một bên, cẩn thận dìu bà cụ đứng thẳng dậy. Bàn tay Thu áp vào đôi bàn tay lạnh ngắt của bà cụ, xoa bóp nhè nhẹ:
“Bác ơi, anh Triệu là đồng đội vào sinh ra tử, cõng anh Hùng thoát chết khỏi chiến hào năm xưa. Mạng của anh Hùng cũng là do anh Triệu cho. Chút tiền ấy của cháu chỉ là của cải ngoài thân, cứu được anh ấy trở về khỏe mạnh bên bác mới là điều trân quý nhất. Bác làm thế này là khiến chúng cháu day dứt cả đời đấy ạ.”
Triệu ‘đen’ đứng bên cạnh, hai mắt rưng rưng nhìn người con gái đang ân cần phủi bụi đất bám trên gấu quần của mẹ mình. Anh quay sang nắm chặt lấy tay Hùng, giọng dõng dạc mà rưng rưng:
“Hôm ở bệnh viện quân khu, lúc tỉnh lại nghe chú liên lạc kể lại ngọn ngành, tao mới biết mày gom được chín trăm đồng ấy là từ hũ tiền tích cóp làm ăn của em Thu. Mẹ con tao không có vàng bạc gì đền đáp, hôm nay xin đơn vị cho chiếc xe đưa về tận đây, chỉ có buồng cau vườn nhà với tấm khăn rằn của đồng đội tặng tao ngày xuất ngũ ra Bắc. Xin dâng lên hai người để tạ cái ơn tái sinh!”
Triệu cúi xuống mở chiếc giỏ tre. Một buồng cau hoa xanh mướt, quả tròn đều tăm tắp như những hạt ngọc bích của đất vườn trung du, tỏa ra hương cau ngát dịu. Cùng với đó là tấm khăn rằn kẻ ô đen trắng mềm mại, được giặt giũ sạch sẽ tinh tươm.
Thu đón lấy tấm khăn rằn và buồng cau, hai tay nâng niu như đón lấy một báu vật thiêng liêng. Tấm khăn ấy chở nặng nghĩa tình người lính, buồng cau ấy đượm nồng vị ngọt của đất mẹ. Trong một thoáng chốc, mắt cô chạm vào ánh mắt của Hùng. Anh nhìn cô, trong đáy mắt thăm thẳm ấy không chỉ có sự biết ơn, mà còn là niềm tự hào sâu sắc về người con gái mà anh đã trao trọn trái tim và chiếc lược mun đính ước.
“Mẹ con bác đi đường xa vất vả, gió sông mùa này lạnh lắm.” – Thu mỉm cười, giọng dịu dàng như làn nước mát – “Cháu mời bác, anh Triệu cùng hai chú bộ đội vào trong chòi quán uống bát nước chè gừng cho ấm người đã ạ.”
*
Dưới mái chòi gỗ xoan ngâm kiên cố mà Hùng và bà con xóm bãi đã dựng lại, hơi ấm lập tức xua tan cái giá lạnh hun hút của dòng sông Hồng mùa cạn.
Bác Thược thợ rèn từ bên xưởng nghe tin có xe bộ đội về, cũng vội vã chạy sang, ngực áo còn vương đầy tàn than hoa đỏ rực. Ông Đặng Văn Quỳ đang lúi húi đục mộng cửa bên hiên nhà, thấy động tĩnh lớn cũng buông chiếc đục vũm, chống chiếc gậy tre chậm rãi bước ra. Khi nhìn thấy Triệu ‘đen’ khỏe mạnh đứng đó, nghe câu chuyện về nghĩa cử của Thu và Hùng, đôi mắt người thợ mộc già điểm bạc khẽ chớp chớp, hai khóe mắt rưng rưng một niềm xúc động khôn nguôi.
Thu thoăn thoắt nhóm lại bếp than hồng. Chẳng mấy chốc, ấm nước chè xanh om bồ đã sôi sùng sục, bốc khói nghi ngút quyện cùng vài lát gừng già đập dập cay nồng. Thắm nhanh nhảu bưng ra những đĩa kẹo lạc vừa mới cắt bằng giàn dao mới, từng thanh kẹo óng ả màu hổ phách, nhân lạc bùi béo xen lẫn hạt vừng vàng rộm tỏa hương thơm ngát.
“Kẹo này do chính tay chị Thu nấu, anh Hùng làm máy cán đấy bác ạ!” – Thắm cười giòn tan, đon đả mời bà cụ – “Bác ăn thử một thanh xem có giòn tan trong miệng không!”
Bà cụ Triệu cắn một miếng nhỏ, mắt sáng lên:
“Trời ơi, kẹo giòn mà xốp quá, lại thơm thoang thoảng mùi gừng với mật mía hoa cau, không hề dính răng tí nào. Thảo nào mà con Thắm nó bảo khách buôn từ mãi Nam Định, Hưng Yên cũng phải lặn lội sang tận bến đò này để mua.”
Bữa cơm trưa hôm ấy diễn ra ngay tại chiếc bàn dài bằng gỗ dổi mộc mạc của quán nước. Chẳng có mâm cao cỗ đầy, chỉ có nồi cơm gạo tám thơm lừng do Thắm vừa chạy về nhà thổi, một âu cá mòi sông Hồng kho tương mục xương thơm nức mũi do thím Cúc xóm bến vừa mang sang biếu, đĩa rau muống bến sông luộc chấm tương gừng và bát nước canh luộc dầm sấu chua thanh mát.
Thế nhưng, giữa tiếng gió sông rít qua rặng tre và tiếng nước vỗ bì bọp dưới mạn thuyền, bữa cơm đạm bạc ấy lại chan chứa tình người. Người lính lái xe com-măng-ca và anh trợ lý chính trị huyện đội vừa ăn vừa tấm tắc khen ngợi tinh thần tự lực cánh sinh của xưởng mộc và tổ hợp tác bánh kẹo.
“Báo cáo với bác Quỳ và đồng chí Hùng,” – Anh trợ lý chính trị đặt đôi đũa xuống, trịnh trọng nói – “Bên Huyện đội và Phòng Công nghiệp huyện chúng tôi đã nhận được báo cáo từ xã Yên Sa. Đảng ủy và Ủy ban huyện đánh giá rất cao mô hình xưởng mộc cựu chiến binh của đồng chí Hùng, cũng như cơ sở bánh kẹo thủ công của cô Thu. Sắp tới, khi huyện triển khai mở rộng các điểm sản xuất tiểu thủ công nghiệp theo tinh thần cởi trói kinh tế của Trung ương, cơ sở của hai đồng chí sẽ được cấp giấy chứng nhận cơ sở điểm, được ưu tiên cấp phát vật tư gỗ và chỉ tiêu mật đường hợp pháp.”
Ông Quỳ nghe vậy thì nghẹn ngào, hai bàn tay run run nâng chén nước chè xanh:
“Cảm ơn Đảng, cảm ơn chính quyền… Xưởng mộc tổ truyền nhà tôi mấy chục năm nay chỉ dám làm chui làm lén trong đêm, nay được quang minh chính đại mở cửa đón nhận anh em thương binh về làm ăn, thế là vong linh tổ tiên họ Đặng dưới suối vàng cũng được ngậm cười rồi…”
Triệu ‘đen’ nhìn Hùng, rồi lại nhìn sang Thu, ánh mắt tràn ngập niềm vui mừng khôn xiết:
“Thế là vẹn cả đôi đường rồi Hùng ơi! Tao nghe cái Thắm kể, hai đứa mày đã đính ước bằng chiếc lược mun rồi phải không? Hôm nào cưới, dù có phải đi bộ xuyên đêm từ mạn ngược về đây, tao với mẹ cũng nhất định phải có mặt để phụ mày bê mâm trầu sính lễ!”
Thu e thẹn cúi đầu, hai gò má ửng đỏ như cánh hoa đào chớm nở trong sương sớm. Dưới gầm bàn, bàn tay Hùng khẽ tìm đến bàn tay cô, những ngón tay đan chặt vào nhau ấm áp lạ kỳ.
Buổi chiều buông xuống, bóng chiếc xe com-măng-ca lăn bánh khuất dần sau triền đê xanh ngắt để đưa mẹ con Triệu về lại miền trung du. Trước khi đi, Triệu nhất quyết dúi vào tay Thu một bọc vải nhỏ đựng số tiền trợ cấp xuất ngũ mà đơn vị vừa giải quyết cho anh để trả bớt món nợ thuốc men, nhưng cả Thu và Hùng đều kiên quyết chối từ.
“Anh Triệu mang tiền về sửa lại mái nhà tranh cho mẹ, mua cho bác tấm áo ấm mùa đông.” – Thu quả quyết, ánh mắt trong veo kiên định – “Món nợ ấy của chúng em đã được trả bằng chính sự sống của anh rồi. Anh đừng bao giờ nhắc đến chuyện tiền bạc nữa, làm thế là coi chúng em như người ngoài đấy.”
Chiếc xe khuất hẳn, chỉ còn lại làn khói mỏng tan dần trong ráng chiều đỏ rực. Bến đò Vạn Cát lại trở về với nhịp sống êm đềm, tiếng đục đẽo vang rộn xua tan cái quạnh quẽ ngàn đời của bãi bồi ven sông.
*
Khi nắng chiều bắt đầu nhạt màu trên những ngọn phi lao, Thu quay vào chòi quán. Cô cẩn thận mở chiếc hòm gỗ nhỏ đặt dưới gầm phản – chiếc hòm gỗ do cha cô để lại từ ngày xưa, bên trong đựng mấy bộ quần áo vá vai và cuốn sổ tay ghi chép công thức làm bánh đa gấc gia truyền.
Thu lấy ra một chiếc túi vải hoa đã cũ mòn bốn góc. Bên trong là những đồng tiền giấy được vuốt phẳng phiu, xếp ngay ngắn theo từng mệnh giá. Đó là tiền lãi từ những sọt kẹo lạc cải tiến bán cho khách buôn mấy ngày qua, tiền công nướng bánh đa giao cho trường học và trạm y tế xã.
Thu ngồi bên bậu cửa, tỉ mỉ đếm từng tờ một.
Đúng mười lăm đồng tiền mới.
Mười lăm đồng – một con số không quá lớn đối với những tay buôn chuyến đường dài, nhưng đối với Thu, nó lại là cả một hòn đá tảng đè nặng lên số phận cô suốt bốn năm trời đằng đẵng. Mười lăm đồng quy thóc – món nợ công tồn đọng của cha mẹ cô để lại từ những ngày thuốc thang chạy chữa bạo bệnh và tiền mai táng ngày hai cụ nhắm mắt xuôi tay. Suốt những năm tháng qua, món nợ ấy đã trở thành cái cớ để những kẻ hẹp hòi, máy móc như Lê Tiến Bền đem ra bêu riếu, dằn hắt cô trong từng cuộc họp bình xét công điểm, gán cho cô cái mác “con nợ của hợp tác xã”, đẩy cô xuống tận đáy cùng của sự tủi nhục.
Hùng bước vào, thấy Thu ngồi thẫn thờ nhìn xấp tiền, anh liền hiểu ngay. Anh chống gậy bước lại gần, khẽ nói:
“Đi thôi em. Anh đưa em lên trụ sở xã.”
Thu ngước mắt nhìn anh, trong đôi mắt đen láy bỗng dâng lên một ngọn lửa kiên cường:
“Vâng. Hôm nay, em muốn danh chính ngôn thuận trả hết món nợ này.”Hai người sóng bước bên nhau bước lên con đường lát gạch nghiêng dẫn về trung tâm làng Yên Sa. Gió mùa đông bắc thổi qua rặng tre xào xạc, nhưng Thu không còn cảm thấy lạnh buốt như những chiều đông năm xưa nữa. Bên cạnh cô là Hùng, từng bước chân tập tễnh của anh nện xuống mặt đường gạch vững chãi như bàn thạch. Dân làng đi làm đồng về, gánh những bó rạ thơm mùi bùn đất, ai nấy đều cất tiếng chào hỏi đon đả, ánh mắt nhìn họ giờ đây chỉ còn sự nể trọng và yêu mến.
Trụ sở Ban quản trị Hợp tác xã Yên Sa nằm cạnh sân kho rộng thênh thang.
Bên trong gian phòng kế toán, ông Cần – kế toán trưởng tóc đã hoa râm – đang đeo cặp kính lão gọng đồi mồi cặm cụi ghi chép bên chiếc đèn dầu le lói. Trên bàn là cuốn sổ bìa cứng màu vàng ố, mép giấy quăn queo ghi danh sách công nợ và công điểm của toàn thể xã viên qua các thời kỳ.
Thấy tiếng bước chân, ông Cần ngẩng đầu lên, khẽ đẩy cặp kính:
“Kìa, anh Hùng với cô Thu đấy à? Hai đứa vào đây ngồi. Quán xá dạo này buôn bán khấm khá lắm phải không? Chiều nay nghe phong phanh trên huyện có xe quân đội về tận bến đò tìm hai đứa, cả xã ai cũng mừng.”
Thu bước lại trước bàn làm việc, hai tay trân trọng đặt xấp tiền mười lăm đồng lên mặt bàn gỗ đã mòn vẹt:
“Thưa bác Cần, thưa Ban quản trị… Hôm nay cháu gom góp đủ tiền, xin phép được thanh toán dứt điểm khoản nợ mười lăm đồng quy thóc ngày trước bố mẹ cháu vay của hợp tác xã để chữa bệnh và lo tang ma. Nhờ bác kiểm đếm lại giúp cháu, rồi cho cháu xin được xóa tên khỏi sổ nợ công ạ.”
Ông Cần sững sờ. Đôi bàn tay gầy gò của người kế toán già run run chạm vào xấp tiền giấy còn thơm mùi nắng mới. Ông ngước nhìn cô gái mồ côi trước mặt. Mới mấy tháng trước thôi, trong cuộc họp căng thẳng ở sân đình, người ta còn đem món nợ này ra để dồn cô vào bước đường cùng. Vậy mà hôm nay, bằng chính đôi bàn tay lao động lương thiện, thức khuya dậy sớm bên lò than rực lửa, cô đã đường hoàng đứng đây, ngẩng cao đầu trả nợ.
“Cô Thu à…” – Giọng ông Cần chùng xuống, đầy vẻ xúc động – “Thực ra sau cuộc họp sân đình vừa rồi, Ban quản trị xã đã họp lại. Bác Khang Chủ tịch xã có ý muốn trích quỹ phúc lợi của xã để miễn giảm khoản nợ này cho cô, xem như phần hỗ trợ cho gia đình có hoàn cảnh khó khăn neo đơn…”
“Cháu xin đội ơn bác Khang và Ban quản trị ạ.” – Thu khẽ lắc đầu, giọng nói nhẹ nhàng nhưng dứt khoát như đinh đóng cột – “Nhưng cháu không thể nhận sự miễn giảm ấy được. Bố mẹ cháu lúc lâm chung đã dặn dò, dù nghèo đói đến đâu cũng phải sống cho thanh sạch, nợ một hạt thóc cũng phải trả đủ một hạt thóc. Cháu còn trẻ, còn có đôi bàn tay để làm lụng. Hợp tác xã còn nhiều gia đình liệt sĩ, nhiều cụ già không nơi nương tựa cần đến sự giúp đỡ hơn cháu. Xin bác cứ thu đủ cho cháu để cháu được tròn đạo làm con.”
Hùng đứng bên cạnh, ánh mắt nhìn Thu tràn ngập niềm tự hào sâu sắc. Anh không hề can thiệp, bởi anh hiểu hơn ai hết lòng tự trọng và phẩm giá ngời sáng của người con gái mình yêu.
Ông Cần thở dài một tiếng cảm phục, gật đầu:
“Được… được lắm cô Thu ạ! Sống có khí phách, có nghĩa khí như thế, thảo nào mà tổ tiên phù hộ, thảo nào mà anh Hùng nó mê mệt!”
Người kế toán già cẩn thận đếm lại từng tờ tiền, xếp gọn gàng vào chiếc ngăn kéo gỗ. Sau đó, ông giở cuốn sổ nợ bìa vàng dày cộp ra. Lật đến trang ghi tên họ Nguyễn ở xóm Bến, dòng chữ
“Nguyễn Thị Thu – nợ tiền thuốc men tang ma cha mẹ: 15 đồng quy thóc”
hiện ra rõ mồn một qua năm tháng.
Ông Cần nhúng chiếc bút chấm mực vào lọ mực Cửu Long màu đỏ thắm, nắn nót gạch một đường thẳng tắp, dứt khoát ngang qua dòng tên ấy. Bên cạnh, ông ghi rõ:
“Ngày… tháng… năm 1985. Đã thanh toán đầy đủ cả gốc lẫn lãi bằng tiền mặt. Xóa nợ.”
Kèm theo một tiếng
cộp
vang giòn của con dấu đỏ trác, ông Cần xé một tờ biên lai thu tiền hai liên đưa cho Thu:
“Xong rồi nhé cô Thu! Kể từ giờ phút này, cô không còn nợ hợp tác xã một xu, một cắc nào nữa. Cô là một xã viên mẫu mực, một người con gái hiếu nghĩa vẹn toàn nhất của cái làng Yên Sa này!”
Cầm tờ biên lai còn ướt màu mực đỏ trong tay, đôi bàn tay Thu khẽ run rẩy. Một giọt nước mắt trong veo bất chợt rơi xuống, làm nhòe đi một vệt mực nhỏ. Bốn năm trời… Bốn năm tủi nhục, đắng cay, mang tiếng nghèo hèn nợ nần, cuối cùng thì gánh nặng ngàn cân ấy đã hoàn toàn được trút bỏ khỏi đôi vai gầy guộc của cô.
Hùng khẽ bước lại, đưa bàn tay ấm áp lau đi giọt nước mắt trên má cô, giọng anh trầm vang:
“Về nhà thôi em. Bố mẹ em đang đợi em đấy.”
*
Hoàng hôn buông xuống làng Yên Sa một màu tím thẫm dịu dàng. Khói lam chiều từ những chái bếp rạ bay lên lơ lửng, quyện vào không gian mùi thơm nồng nàn của cơm mới và rơm rạ mùa gặt.
Thu đẩy cánh cổng tre kêu
ken két
, bước vào căn nhà tranh ba gian nhỏ bé nằm nép mình bên vườn chuối. Gian nhà đơn sơ, mái rạ đã ngả màu xám bạc, nhưng mảnh sân gạch trước cửa lúc nào cũng được cô quét tước sạch bong không một cọng rác.
Thu đặt chiếc thúng con lên chõng tre, cẩn thận lấy ra một mâm nhôm nhỏ đã được lau chùi sáng bóng.
Trên mâm, cô kính cẩn bày lên một chiếc bánh đa vừng vàng rộm, nướng phồng đều tăm tắp bằng chiếc lò cải tiến của Hùng, lấp lánh những hạt vừng đen bóng bẩy. Cạnh đó là một đĩa kẹo lạc hổ phách óng ánh mật mía hoa cau, những thanh kẹo vuông vức sắc cạnh được cắt bằng cỗ máy trục nghiến. Và ở chính giữa mâm, Thu trang trọng đặt tờ biên lai xóa nợ đỏ chót của hợp tác xã, cùng buồng cau non xanh mướt của mẹ con Triệu ‘đen’ vừa trao tặng ban trưa.
Thu thắp ba nén nhang trầm thơm ngát. Làn khói hương màu lam mỏng manh cuộn tròn, bay lượn rồi lan tỏa khắp gian nhà tranh tĩnh lặng, phủ lên hai khung ảnh thờ bằng gỗ mộc một màu ấm áp lạ thường.
Thu quỳ sụp xuống chiếc chiếu cói trải trước ban thờ, hai tay chắp trước ngực, nghẹn ngào cất tiếng:
“Thầy ơi… U ơi… Hôm nay con gái của thầy u đã làm được rồi…”
Nước mắt cô vỡ òa, từng giọt từng giọt lã chã rơi xuống nền đất nện:
“Mười lăm đồng nợ công của hợp tác xã, con đã trả hết sạch bằng đồng tiền mồ hôi nước mắt lương thiện của con rồi thầy u ạ. Con không xin xỏ ai, con không bớt xén của ai một đồng nào. Bánh kẹo của mẹ truyền lại cho con, giờ đã bay xa khắp đôi bờ sông Hồng, người ta khen ngon, người ta quý mến con lắm…”
Thu ngước nhìn lên di ảnh của cha mẹ. Trong làn khói hương trầm mờ ảo, dường như cô thấy ánh mắt hiền từ của người cha và nụ cười đôn hậu của người mẹ đang mỉm cười nhìn mình, gật đầu mãn nguyện.
“Và thầy u ơi… Con đã tìm được người để nương tựa cả cuộc đời này rồi. Anh Hùng thương binh xóm Mộc… Anh ấy thương con, che chở cho con, vì con mà thức trắng đêm chế tạo lò nướng, làm máy cán kẹo, bảo vệ con trước miệng lưỡi thế gian… Thầy u dưới suối vàng hãy chứng giám cho chúng con, phù hộ cho chúng con nên duyên chồng vợ…”
Ngoài hiên nhà, bóng hoàng hôn đã nhường chỗ cho màn đêm tĩnh mịch.
Ông Đặng Văn Quỳ cùng Hùng đã đứng lặng bên gốc ổi ngoài bờ rào từ lúc nào.
Người thợ mộc già đứng dựa vào chiếc gậy tre, lặng lẽ lắng nghe từng lời tâm sự ruột gan, từng tiếng nấc nghẹn ngào của cô gái mồ côi trước bàn thờ cha mẹ. Đôi mắt từng trải qua bao thăng trầm dâu bể của ông Quỳ ngấn lệ. Suốt bao nhiêu năm qua, vì nỗi sợ hãi quá khứ cải tạo công thương nghiệp, vì sợ miệng lưỡi thế gian dèm pha chuyện “buôn bán tư thương”, ông đã từng có lúc cấm đoán con trai, từng nhìn cô gái này bằng ánh mắt e ngại, dò xét.
Thế nhưng giờ đây, tận mắt chứng kiến phẩm hạnh ngời sáng như ngọc bích, tấm lòng hiếu nghĩa vẹn tròn và đức hy sinh cao cả của Thu, chút định kiến cuối cùng trong lòng người cha già đã hoàn toàn tan biến như bọt nước phù sa.
Đây không phải là một cô gái tầm thường. Đây là một người phụ nữ có đức hạnh vẹn toàn, có tâm hồn thanh sạch như dòng nước đầu nguồn sông Hồng. Một người con gái sẵn sàng dốc cạn hũ tiền bốn năm dành dụm để cứu sống đồng đội của con trai mình, một người con gái thà chịu đói rét chứ nhất quyết không chịu quỵt nợ một hạt thóc của tập thể.
Đó chính là vàng mười! Là phúc đức mười đời mà tổ tiên họ Đặng ban tặng cho gia đình ông!
Ông Quỳ quay sang nhìn con trai. Hùng đang đứng đó, đôi mắt dõi theo bóng hình Thu bên trong gian nhà tranh, ánh mắt tràn ngập tình yêu thương và sự kính trọng vô bờ bến.
Người cha già vỗ thật mạnh vào bờ vai vững chãi của Hùng, giọng dứt khoát, hào sảng mà xúc động:
“Con trai! Người con gái như thế này, nếu họ Đặng ta không rước về làm dâu trưởng, thì là có tội với trời đất, có lỗi với tổ tiên! Mau theo ta về nhà ngay!”
Hùng giật mình quay lại nhìn cha:
“Thầy… Thầy bảo sao cơ ạ?”
Ông Quỳ cười khà một tiếng, chòm râu bạc khẽ rung rung:
“Bảo sao là bảo sao! Về nhà ngay lập tức! Giục con Thắm mở rương lấy cơi trầu khảm xà cừ gia bảo của cụ nội ra! Sang xóm Rèn gọi ngay bác Thược với các bậc cao niên trong họ Đặng! Ngay tối hôm nay, ta phải đích thân mang lễ vật sang thưa chuyện cả đời với nó, không thể để người con gái thảo hiền này phải chịu thiệt thòi thêm một ngày nào nữa!”
Nói rồi, ông lão sải những bước chân nhanh thoăn thoắt về phía ngõ gạch, dáng vẻ phấn chấn, rạng rỡ khác hẳn vẻ ủ dột, khép kín thường ngày. Hùng đứng sững lại trong giây lát, rồi một nụ cười rạng rỡ bừng sáng trên gương mặt phong trần sương gió. Anh nhìn vào trong nhà, thấy Thu vừa đứng dậy vái lạy lần cuối trước bàn thờ, liền mỉm cười quay gót rảo bước thật nhanh theo bóng lưng của cha.
*
Trong gian nhà tranh, Thu vừa lau khô những giọt nước mắt trên má. Cô cẩn thận khép bớt cánh cửa liếp để tránh gió lùa, rồi ngồi xuống bên chiếc chõng tre, nâng niu tấm khăn rằn Nam Bộ và buồng cau xanh mướt. Mùi khói hương trầm vẫn quyện ấm cả không gian, mang lại một cảm giác bình yên, thanh thản chưa từng có trong suốt hai mươi ba năm cuộc đời cô.
Cô cảm thấy tâm hồn mình nhẹ bẫng, như một cánh chim vừa được tháo bỏ chiếc cùm nặng trĩu để tự do bay lượn giữa bầu trời lộng gió.
Bất chợt, từ phía đầu con ngõ lát gạch nghiêng dẫn vào nhà, tiếng chó sủa râm ran khắp xóm bãi.
Rồi những tiếng bước chân huỳnh huỵch rộn rã vang lên, hòa cùng tiếng cười nói rộn ràng, rộn rã của đàn ông, đàn bà và tiếng trẻ con ríu rít đuổi nhau.
“Bác Quỳ đi chậm thôi kẻo vấp gạch kìa!” – Tiếng bác Thược thợ rèn sang sảng vang lên giữa đêm vắng – “Hôm nay tôi xin làm chân phù giá, bê cái khay trầu này thì nặng bằng mấy búa rèn tôi cũng chịu!”
“Ối giời ơi, anh Hùng ăn mặc chỉnh tề thế kia trông bảnh như chú rể mậu dịch viên trên phố huyện ấy nhỉ!” – Tiếng chị Mót xóm bến cười vang.
“Chị Thu ơi! Mở cửa ra mau chị Thu ơi!” – Tiếng con Thắm lảnh lót như chim sơn ca đầu mùa xuân rộn rã ngoài cổng giậu.
Thu giật thốt mình, vội vàng đứng bật dậy. Cô bước nhanh ra phía hiên nhà, bàn tay run run kéo rộng cánh cửa liếp.
Dưới ánh sáng bập bùng của những ngọn đuốc nứa và đèn bão soi rọi con đường gạch đỏ au, một đoàn người đông đúc của xóm Mộc và xóm Bến đang rầm rộ tiến vào ngõ. Đi đầu là ông Đặng Văn Quỳ trong bộ áo dài the đen trang trọng, hai tay nâng niu khay trầu cau phủ tấm khăn điều đỏ thắm thêu hình đôi chim bồ câu rực rỡ, theo sau là bác Thược, Hùng trong bộ quân phục phẳng phiu cài chiếc lược mun bên túi áo, cùng đông đảo bà con chòm xóm đang hân hoan rạng rỡ tiến về phía mái nhà tranh của cô.
, , vn, live
,
vn
Bình luận (0)
Đang tải bình luận...