Quán Nước Bên Bến Đò Năm Ấy

Chương22: Mùi gỗ mới quyện hương mật

Cỡ chữ
Theo bản năng của một người lính từng đi qua những năm tháng bom cày đạn xới ở chiến trường Tây Nam, bàn tay thô ráp đầy vết chai sần của Đặng Văn Hùng lập tức siết chặt lấy chiếc gậy tre đỡ bước. Khớp gối trái – nơi mảnh đạn cối năm xưa găm lại di chứng buốt nhức mỗi độ gió đông tràn về – bỗng giật thắt từng cơn căng thẳng. Anh vô thức tiến lên nửa bước, dùng bờ vai rộng và thân hình vạm vỡ dãi dầu sương gió của mình che chắn trọn vẹn bóng dáng mảnh mai của Thu ở phía sau lưng. Dưới dốc bến, bóng người đàn ông lảo đảo bước tới, kéo theo một vệt dài nặng nề trên mặt cát phù sa. Lê Tiến Bền dừng lại ngay mép thềm đất bồi trước cửa quán, cách Hùng chừng ba bước chân. Gió sông Hồng thốc ngược từ lòng bãi lên lồng lộng, làm vạt áo dạ màu cứt ngựa rách toạc của gã bay phần phật, để lộ lồng ngực gầy guộc nhô từng dải xương sườn sau lớp áo lót cháo lòng cáu bẩn bám đầy bụi lân tinh thể. Đôi mắt lươn ngày thường luôn hấp háy những toan tính hẹp hòi, rình rập săm soi từng quang gánh qua đò, giờ đây trũng sâu hoắm, đỏ quạch những tia máu vỡ. Đôi mắt ấy không còn vẻ hống hách thét ra lửa mắng ra khói của một vị Đội phó kiểm soát liên ngành, mà đặc quánh một thứ u uất, hằn học đục ngầu của kẻ vừa rơi từ đỉnh cao quyền lực xuống tận đáy cùng nhục nhã. Cả bến sông như chìm vào một khoảng lặng nghẹt thở. Tiếng sóng vỗ ì oạp vào mạn thuyền xa xa dường như cũng lùi lại, nhường chỗ cho tiếng th* d*c nặng nhọc và run rẩy của Bền. Hùng cảm nhận được hơi thở dồn dập của Thu ngay sau gáy mình. Anh đứng thẳng người, dù khớp chân nhức nhối như có hàng trăm mũi kim châm, giọng nói trầm đục cất lên đanh gọn như một nhát cưa ăn vào thớ gỗ lim: “Anh Bền. Trạm kiểm soát trên đê đã dỡ bỏ từ sáng sớm nay, công lệnh của huyện và quyết định điều chuyển của Đảng ủy xã cũng đã dán công khai ở bảng tin đầu làng. Quán này được chính quyền công nhận là mô hình dịch vụ trung chuyển dân sinh thí điểm, có giấy tờ mộc đỏ đàng hoàng. Giờ anh đến đây có việc gì?” Bền không đáp. Đôi môi thâm sì, nứt nẻ rướm máu vì sương muối của gã giật giật từng chặp. Hai bàn tay khẳng khiu như cành củi khô giấu sâu trong túi áo dạ bỗng siết chặt lại. Hùng nheo mắt, toàn thân căng cứng như một dây nỏ đã kéo căng. Anh dán chặt ánh nhìn vào túi áo gã, đề phòng một hành vi liều lĩnh cùng quẫn của kẻ mất hết đường lùi – một hòn đá, một mảnh sành, hay một mũi dao nhọn định giở trò đê hèn. Bất chợt, Bền rút tay ra. Nhưng trong bàn tay run bần bật ấy không có hung khí. Thứ gã siết nát chỉ là tờ quyết định kỷ luật bãi nhiệm lem luốc mùi phân hóa học. Gã nhìn chằm chằm vào chiếc biển gỗ lồng khung kính tinh tươm treo ngay ngắn trên vách quán, rồi nhìn xuống đôi chân tập tễnh của Hùng, cuối cùng dán chặt vào gương mặt Thu đang lấp ló sau bờ vai anh. Một cơn co giật giận dữ và cay đắng bùng lên trên khóe miệng Bền. Lồng ngực gã phập phồng dữ dội: “Hả hê lắm phải không?” – Tiếng Bền rít qua kẽ răng, khàn đặc và the thé như tiếng rựa rỉ cọ trên đá tảng – “Các người nhìn tôi thế này… trong bụng đang mở cờ mừng rỡ lắm đúng không? Một con bé mồ côi ăn nhờ ở đợ, một thằng thương binh tàn phế cụt chân… mà dám lật đổ Lê Tiến Bền này! Cả cái làng Yên Sa này hùa nhau đạp tôi xuống bùn, đẩy tôi về quét dọn cái kho phân lân hoang phế cho giòi bọ rúc rỉa… Các người giỏi lắm!” Từng lời cay độc nhổ ra mang theo sự uất hận của một kẻ giáo điều, cuồng tín vào thứ quyền lực ban phát thời ngăn sông cấm chợ. Gã căm hận vì trật tự bao cấp máy móc mà gã tôn thờ suốt mười mấy năm bỗng chốc sụp đổ chỉ sau một chỉ thị; gã nhục nhã vì chiếc barie tre từng giúp gã định đoạt miếng cơm manh áo của người khác nay bị dân làng nhổ tung không thương tiếc. Nhưng trên hết, gã phát điên vì sự thất bại ê chề của bản thân trước hai con người mà gã từng coi là rơm rác, có thể tùy tiện giẫm đạp bất cứ lúc nào. Hùng siết chặt chiếc gậy tre, lồng ngực anh cuộn trào cơn phẫn nộ trước thái độ không biết hối cải của kẻ lộng quyền. Anh định bước lên, dùng lý lẽ đanh thép của một người lính để đuổi gã ra khỏi bến đò, thì một bàn tay mềm mại khẽ đặt lên bắp tay anh. Cái chạm nhẹ nhàng, ấm áp và kiên định của Thu khiến ngọn lửa giận trong lòng Hùng bỗng chốc dịu xuống. Thu từ từ bước ra khỏi bóng lưng anh. Cô đứng đối diện với Lê Tiến Bền, chỉ cách gã chừng hai sải tay. Trên gương mặt thanh tú đượm nắng gió của cô gái mồ côi, hoàn toàn không có nét kiêu hãnh của kẻ vừa thắng thế, càng không có sự khinh miệt hay căm hờn. Trong đôi mắt đen láy thăm thẳm ấy chỉ có sự tĩnh lặng đến lạ lùng – một sự tĩnh lặng của người đã từng đi qua tận cùng đói nghèo, tủi nhục và mất mát, nên hiểu rất rõ cái giá của lòng thù hận. Thu không lớn tiếng phản bác. Cô quay người bước lại chiếc chõng tre bên bếp lửa. Chiếc ấm tích sành ủ trong giành mây lót rơm nếp vẫn đang bốc lên những làn hơi ấm nồng. Bằng đôi bàn tay khéo léo, thoăn thoắt, Thu tráng chiếc bát sứ hoa lam viền mẻ một góc nhỏ – chiếc bát quen thuộc suốt bốn năm qua đã cùng cô chia sẻ bao đắng cay ngọt bùi – rồi rót ra một bát nước chè tươi sóng sánh màu mật ong non. Một nhánh gừng già đào từ vườn nhà đập dập thả vào đáy bát lập tức tỏa ra làn hương cay nồng ngào ngạt, quyện với hơi khói lãng đãng xua tan cái ẩm lạnh tê buốt của sông Hồng mùa cạn. Thu bưng bát nước bằng cả hai tay, từ tốn bước lại trước mặt người đàn ông đang run rẩy vì u uất. “Gió bến sông trưa nay độc lắm, anh Bền ạ.” – Giọng Thu cất lên, trong trẻo, mộc mạc và bình thản như dòng nước phù sa muôn đời xuôi chảy – “Anh đi bộ cả chặng đường đê từ kho ngoài bãi về đây, chân tay áo quần lấm lem sương muối thế kia, chắc là đói rét và thấm mệt rồi. Anh ngồi xuống đây, uống bát nước chè tươi có nhánh gừng vườn nhà em cho ấm bụng đã.” Lê Tiến Bền sững sờ chôn chân tại chỗ. Đồng tử gã co rút lại, trân trối nhìn vào chiếc bát sành đang nghi ngút khói trên tay Thu, rồi lại nhìn thẳng vào đôi mắt trong veo không gợn chút tà niệm của cô gái. Gã lùi lại nửa bước như bị một dòng điện giật. Bàn tay khẳng khiu của gã giật giật, lồng ngực thắt lại trong một nỗi bẽ bàng khủng khiếp. Gã đã chuẩn bị sẵn tâm thế để đón nhận những lời xỉa xói, những cái chỉ tay hả hê, thậm chí là những trận đòn thù trả đũa từ Hùng và dân làng bến đò. Gã đến đây trong sự cùng quẫn muốn trút sạch nọc độc uất hận để tự hủy hoại bản thân và làm hoen ố ngày vui của họ. Thế nhưng, thứ đón nhận gã không phải là gậy gộc hay nguyền rủa, mà lại là một bát nước chè gừng ấm nóng, được trao đi bằng hai bàn tay lao động lương thiện và một tấm lòng hoàn toàn thanh sạch. “Cô… cô giở trò mỉa mai tôi đấy à?” – Giọng Bền run bắn lên, vừa như muốn gầm gừ phòng vệ, vừa như đang nghẹn ứ nơi cuống họng – “Tôi từng tịch thu bao nhiêu cân gạo của cô… Tôi từng dọa đập nát cái chòi rơm này… Tôi từng xua đuổi, rắp tâm bẻ gãy gánh kẹo của cô, dồn chú Hùng vào chân tường… Cô không hận tôi đến tận xương tủy hay sao mà còn mời nước?” “Em hận anh để làm gì?” – Thu khẽ lắc đầu, khóe mắt ánh lên nỗi xót xa chân thật – “Ngày trước anh làm khổ em, khổ bà con nghèo khó qua đò, là vì anh khư khư ôm lấy cái nếp nghĩ giáo điều, cứng nhắc của thời cũ. Anh nghĩ mình làm đúng chỉ tiêu, nhưng thực chất anh đang tự dựng một cái barie ngăn cách lòng người. Giờ cái barie trên đê người ta đã nhổ bỏ để dân mở đường đi lại, cớ sao anh lại cứ tự nhốt mình trong cái hàng rào thù hận ấy làm gì nữa?” Cô lại đưa bát nước tới gần hơn một chút, làn khói gừng thơm ấm áp phả nhẹ vào gương mặt xám ngoét của gã: “Bát nước này em rót cho anh không phải để xóa đi những nỗi cơ cực ngày trước, mà để anh nhớ rằng bến đò này là nơi người ta tìm sự ấm áp khi lỡ bước sa cơ. Chuyện cũ bến sông, gió thổi mây bay qua đê là hết. Anh uống đi cho tan đi cái lạnh của tro trấu và mùi phân bón.” Nhìn cảnh tượng ấy, Hùng đứng lặng, buông thõng bàn tay nắm gậy. Anh nhìn bóng dáng người con gái mình thương đứng thẳng thắn, dịu dàng mà sừng sững như một bức tường thành đạo đức trước kẻ từng hại mình, trong lòng dâng lên một niềm cảm phục sâu sắc khôn cùng. Người lính như anh từng quen với việc lấy súng đạn trả đũa súng đạn, lấy sự cương quyết đối đầu với bạo tàn; nhưng hôm nay, anh mới thấm thía rằng có những chiến thắng vĩ đại hơn thế – chiến thắng của sự bao dung, của tấm lòng vàng mười có thể bẻ gãy mọi sự hằn học nhỏ nhen trên cõi đời này. Lê Tiến Bền đứng chết trân. Cơn giận dữ điên cuồng lúc nãy bỗng chốc tan biến như bọt nước xà phòng, nhường chỗ cho một nỗi nhục nhã ê chề và sự sụp đổ hoàn toàn nơi đáy tâm can. Gã thấy mình bé mọn, đê tiện và thảm hại biết bao trước nhân cách cao thượng của cô gái mồ côi mà gã từng khinh khi là hạng "buôn thúng bán mẹt". Bàn tay gầy guộc, cáu bẩn của Bền từ từ giơ ra, run lẩy bẩy đón lấy bát nước chè xanh. Hơi nóng từ thành bát sành truyền qua những đầu ngón tay tê dại xộc thẳng vào tim gã. Bền đưa bát lên miệng, nhấp một ngụm lớn. Vị chát đượm ban đầu thấm vào đầu lưỡi, rồi vị ngọt hậu sâu lắng cùng hơi gừng cay nồng lan tỏa khắp lồng ngực, thiêu đốt đi cái lạnh lẽo u ám tích tụ bấy lâu nay. Tách. Một giọt nước mắt đục ngầu, mặn chát rơi thẳng vào lòng bát nước chè. Rồi giọt thứ hai, giọt thứ ba thi nhau lăn dài trên đôi gò má hốc hác, lem luốc của người cựu Đội phó kiểm soát. Bờ vai gầy gò của gã run bần bật trong một cơn nấc nghẹn ngào, cay đắng nhưng rũ bỏ. Uống cạn giọt nước cuối cùng, Bền hai tay run rẩy trao lại chiếc bát cho Thu. Gã lùi lại một bước, rồi bất ngờ gập người xuống, cúi đầu thật sâu trước mặt Thu và Hùng – một cái cúi đầu khuất phục hoàn toàn trước lẽ phải và tình người: “Tôi sai rồi… Tôi thực sự sai rồi…” – Tiếng Bền nghẹn ngào trong nước mắt, vỡ vụn ra từng mảng – “Cả một đời tôi tưởng mình trung thành với kỷ cương, hóa ra chỉ là một kẻ mù quáng, lấy quyền hành làm bình phong cho thói hẹp hòi, đố kỵ… Bát nước của cô hôm nay… tát thẳng vào mặt tôi, nhưng cũng cứu vớt chút lương tri tàn tạ cuối cùng trong tôi… Cảm ơn cô… Cảm ơn chú Hùng…” Nói dứt lời, Bền không dám ngẩng mặt lên nhìn hai người thêm một lần nào nữa. Gã quệt mạnh tay áo dạ rách lên khóe mắt ướt đẫm, xoay người lầm lũi bước ngược lên con dốc đê Vạn Cát. Bóng dáng gã gầy guộc, xiêu vẹo in trên nền trời trưa hanh vàng, nhưng từng bước chân kéo lê trên cát giờ đây dường như đã trút bỏ được gánh nặng u uất nghìn cân, lặng lẽ tìm về một nẻo đường chuộc lỗi trong thanh thản. Thu đứng lặng nhìn theo cho đến khi chiếc bóng áo dạ khuất hẳn sau rặng bạch đàn trên đỉnh đê. Hùng bước lại gần, bàn tay to lớn, ấm áp đặt lên bờ vai thon thả của cô, khẽ siết nhẹ. “Em làm đúng lắm, Thu ạ.” – Hùng trầm giọng, ánh mắt đong đầy niềm tự hào – “Cái barie tre trên đê nhổ đi chỉ cần một buổi sáng, nhưng cái barie trong lòng người, nếu không có tấm lòng của em thì muôn đời không phá nổi.” Thu khẽ tựa đầu vào cánh tay rắn rỏi của Hùng, mỉm cười nhẹ nhõm: “Chuyện cũ qua rồi thì để nó trôi xuôi theo dòng sông Hồng anh ạ. Bây giờ chúng mình chỉ nhìn về phía trước thôi.” * Lời nói của Thu như một hiệu lệnh mở ra một trang đời mới, rạng rỡ và tràn trề nhựa sống cho mảnh đất nghèo ven bến Vạn Cát. Ngay sau ngày trạm kiểm soát bị dỡ bỏ, luồng gió mới từ những chủ trương cởi trói kinh tế của Đảng và Nhà nước thổi bùng lên ngọn lửa lao động đã âm ỉ bấy lâu trong từng nếp nhà xóm bến. Tại căn nhà gỗ ba gian của gia đình họ Đặng nằm nép mình sau rặng tre ngà xóm mộc, tiếng cưa, tiếng đục rộn rã vang lên từ lúc gà gáy le te cho tới khi hoàng hôn đỏ quạch buông xuống mặt sông. Dưới khoảng sân rộng lót gạch Bát Tràng rợp bóng mát cây mít mật, ông Đặng Văn Quỳ đứng thẳng lưng, tay cầm chiếc thước tầm bằng tre đã lên nước nâu bóng như sừng. Đôi mắt già nua từng một thời nặng trĩu âu lo, sợ hãi bóng ma quy chụp tư sản nay bừng sáng lên niềm tự hào khôn xiết. Dưới ao làng, những bè gỗ xoan ngâm, gỗ dổi tích trữ suốt mấy năm qua đã được vớt lên, bì bõm rửa sạch bùn non, phơi ráo nước, tỏa ra một mùi gỗ the nồng ngai ngái quen thuộc của làng nghề cổ truyền. “Hùng này!” – Ông Quỳ vuốt chòm râu bạc, giọng trầm vang đầy xúc động khi trao chiếc cưa tay lưỡi thép Thụy Điển sắc lẹm cho con trai cả – “Nghề mộc họ Đặng ta từ thời cụ cố đã nức tiếng khắp vùng châu thổ này nhờ ngón nghề đục mộng mang cá, mộng én kín khít như bưng. Bàn ghế, rường cột làm ra không cần dùng đến một chiếc đinh sắt mà trăm năm qua ba đời mưa nắng vẫn vững như bàn thạch. Con đã hiến dâng một phần máu thịt nơi chiến trường, nay hòa bình rồi, con hãy đem ngón nghề của tổ tiên dựng lại cơ nghiệp cho dòng họ, làm đẹp cho làng cho xóm nghe con!” “Thưa thầy, con ghi tạc lời thầy dạy.” – Hùng kính cẩn đón lấy chiếc cưa, ánh mắt kiên nghị ngời sáng. Hiểu rõ bản thân đi lại tập tễnh vì vết thương chiến tranh, lại thấu suốt nỗi cơ cực của những người lính phục viên trở về làng mang thương tật trên mình, quanh năm chỉ biết quanh quẩn với mấy sào ruộng khoán cằn cỗi bữa đói bữa no, Hùng bàn với cha không giữ nghề làm ăn khép kín trong gia đình. Ngay sáng hôm sau, anh chống gậy sang xóm Đông, tìm đến túp lều rách nát của Toàn “rỗ” – người lính công binh cùng trung đoàn năm xưa, bị bom phạt mất hai ngón tay trỏ, khuôn mặt chằng chịt vết sẹo pháo nhưng bàn tay cầm đục vẫn khéo léo lạ thường. Tiếp đó, Hùng sang xóm Chùa đón anh Sinh – thương binh hỏng một bên xương chậu, và anh Vĩnh – cựu binh bị teo cơ cánh tay trái sau những trận sốt rét rừng ác tính ở biên giới. Bốn người đàn ông mặc những chiếc áo lính bạc phếch chắp vá gặp lại nhau giữa đống phoi bào cuộn tròn thơm ngát. Hùng không coi họ là người làm thuê. Anh trải chiếu hoa ra giữa xưởng, bày ấm chè tươi và bao thuốc lào Tiên Lãng, chân tình trải lòng: “Chúng mình từ cõi chết trở về, tàn nhưng dứt khoát không để phế. Xưởng mộc này là bát cơm chung của anh em ta. Ai yếu chân như tôi thì ngồi cưa xẻ, ai yếu tay thì đục mộng, gọt bào. Tôi cùng thầy tôi sẽ đem toàn bộ bí quyết mộng gỗ gia truyền ra chỉ dạy tận tay cho anh em. Tiền công nhật từ các đơn hàng bàn ghế trường học, tủ tài liệu trạm xá của huyện và xã giao về sẽ chia sòng phẳng theo giọt mồ hôi của từng người. Có rau cùng ăn rau, có cháo cùng húp cháo!” Nghe những lời gan ruột ấy, Toàn “rỗ” đưa mu bàn tay cụt quệt ngang dòng nước mắt đang lăn qua vết sẹo dài trên má, nghẹn ngào siết chặt lấy vai Hùng: “Hùng ơi… Được ngửi lại mùi mạt cưa, được cầm lại cái cưa cái đục cùng anh em đàng hoàng giữa ban ngày thế này… có nhọc nhằn mấy tao cũng sướng!”Thế là, Xưởng mộc cựu chiến binh họ Đặng chính thức hồi sinh. Dưới sự chỉ dẫn tỉ mỉ của ông Quỳ và bàn tay tài hoa của Hùng, những khúc gỗ xù xì, thô ráp nhanh chóng biến thành những bộ bàn ghế học sinh vuông vắn, nhẵn thín, những chiếc phản gỗ dổi lên vân mây óng ả. Tiếng cưa xoèn xoẹt, tiếng búa nện chan chát vào cán đục chan chát hòa cùng tiếng cười nói rổn rảng xua tan đi vẻ hoang tàn, ảm đạm từng đè nặng lên làng quê suốt những năm tháng dài tù đọng. Trong lúc xưởng mộc của Hùng rộn rã tiếng thoi đưa của nghề mộc, thì ngay bên bến đò Vạn Cát, quán nước của Thu cũng có những bước chuyển mình kỳ diệu. Sau khi được Huyện ủy công nhận là cơ sở thí điểm và được Phòng Công nghiệp huyện ưu tiên cấp hạn ngạch mua mật mía làng Gáo, đường phèn và bột gạo nếp cái hoa vàng từ kho dự trữ, Thu không ôm giữ mối làm ăn để làm giàu cho riêng mình. Cô nhìn quanh xóm bến, nơi có những người phụ nữ nghèo khổ, góa bụa, đơn thân đang ngày ngày lặn lội mò cua bắt ốc, bữa cháo bữa rau nuôi con thơ dại. Thu tìm đến nhà chị Mót – người phụ nữ góa chồng có hai con nhỏ nheo nhóc; cô sang ngõ sau rước thím Cúc lưng còng không nơi nương tựa; rủ thêm chị Duyên bị tật ở chân và hai cô gái nhỡ thì chịu nhiều định kiến trong làng. Dưới mái chòi gỗ vững chãi mà Hùng và bà con đã dựng cho, Thu chân thành mở lời: “Các chị, các thím về đây làm chung với em. Đất nước sắp đổi mới rồi, huyện cho phép chúng mình làm bánh kẹo thủ công đem bán tự do khắp các bến sông. Một mình em gánh vác không xuể những chuyến hàng thương lái đặt trước. Em sẽ truyền lại kinh nghiệm từ mẹ em để lại: cách chọn hạt lạc sẻ mẩy đều, cách canh lửa trấu sao cho mật chín tới mà không khét, cách quạt than nướng bánh đa cho giòn xốp. Hàng bán ra bao nhiêu tiền công chia đều bấy nhiêu, chị em mình có nhau, đùm bọc lấy nhau mà vượt qua cái nghèo.” Năm người phụ nữ nhìn cô gái mồ côi với ánh mắt rưng rưng cảm động. Không cần giấy tờ phô trương, Tổ hợp tác bánh kẹo mộc thủ công Yên Sa ra đời từ chính tình làng nghĩa xóm và lòng trắc ẩn bao la như thế. Mỗi ngày, căn chòi gỗ bên bến đò rực hồng ánh lửa từ tờ mờ sáng. Mùi mật mía hoa cau dẻo quánh sôi sùng sục trong chảo gang lớn, quyện chặt với hương gừng tươi cay nồng và mùi vừng rang thơm nức mũi, lan tỏa khắp khúc sông Hồng. Tiếng giã gừng cùm cụp, tiếng quạt than hoa lách tách và tiếng cười nói rộn ràng của những phận đời cơ nhỡ nay đã tìm thấy miếng cơm manh áo ấm no khiến bến Vạn Cát bừng lên một sức sống mới lạ thường. Thế nhưng, khi các thuyền buôn từ mạn dưới bắt đầu nghe tiếng lành tìm về đặt mua hàng trăm phong kẹo lạc và hàng sọt bánh đa gấc, một trở ngại lớn bỗng nảy sinh đè nặng lên đôi vai của Thu. Một buổi trưa nọ, Hùng tập tễnh chống gậy bước ra bến sông thăm Thu. Vừa bước tới ngưỡng cửa quán, cảnh tượng đập vào mắt khiến tim anh thắt lại vì xót xa. Giữa gian chòi ngập tràn hơi mật nóng rẫy, Thu cùng chị Mót đang còng lưng, dồn toàn bộ sức nặng cơ thể lên chiếc chai thủy tinh lăn đi lăn lại trên khối kẹo lạc vừa đổ ra chiếc nong tre gồ ghề. Khối mật mía trộn lạc rang và mạch nha đặc quánh, dẻo quắt lại cực nhanh khi gặp những cơn gió đông lạnh buốt lùa qua phên nứa. Để kẹo không bị đông cứng thành một tảng dày cộp, Thu phải cắn chặt môi, hai cánh tay mảnh khảnh gồng lên đến run rẩy, ấn mạnh chiếc chai xuống mặt kẹo nóng rực. Mồ hôi túa ra như tắm, chảy ròng ròng trên gương mặt ửng đỏ vì hơi lửa, làm ướt đẫm cả vạt áo nâu bạc màu. Những ngón tay thon nhỏ từng trao anh chiếc bát chè gừng năm xưa nay phồng rộp lên từng mảng da non đỏ ửng vì bị nhiệt của mật mía và vỏ chai thủy tinh hun nóng. “Nhanh tay lên chị Mót ơi… Gió sông thổi mạnh quá, mật nguội nhanh là lát nữa dao đưa vào sẽ nứt vụn hết…” – Tiếng Thu th* d*c, đứt quãng vì kiệt sức. Bên cạnh, thím Cúc và chị Duyên đang toát mồ hôi hột dùng những con dao bài cùn cố sức rạch từng đường lên mảng kẹo đang cứng dần. Lực cắt thủ công bằng tay không đều khiến thanh kẹo thì to bản, thanh thì méo mó, vụn lạc và vừng vỡ nát vương vãi khắp mặt nong, hao hụt biết bao nhiêu công sức và nguyên liệu quý giá. Hùng đứng chôn chân bên khung cửa gỗ. Anh nhìn đôi bàn tay phỏng rộp của Thu, nhìn những giọt mồ hôi rơi xuống tấm tạp dề vải thô cáu màu khói trấu. Nỗi đau xót của một người đàn ông thương vợ sắp cưới trào dâng mãnh liệt trong lồng ngực. Người lính thợ mộc từng sáng chế ra chiếc lò nướng bánh đa đối lưu đạp chân bỗng siết chặt tay nắm gậy, tự nhủ với lòng mình: Phải giải phóng sức lao động cho Thu! Nhất định không thể để người con gái của mình phải vắt kiệt da thịt trong nhọc nhằn như thế này mãi được! Đêm hôm đó, khi tiếng đục đẽo ngoài xưởng đã tắt, trăng đông mờ ảo soi bóng rặng tre xuống sân gạch, Hùng không đi ngủ. Anh thắp sáng ngọn đèn dầu hỏa hoa kỳ, ngồi bên chiếc bàn thợ mộc ngổn ngang những mảnh giấy bao xi măng nhặt từ kho hợp tác xã. Cầm mẩu bút chì cùn trên tay, Hùng bắt đầu phác thảo những nét vẽ cơ khí đầu tiên. Trí óc người lính thợ mộc hoạt động hết công suất. Anh nhớ lại nguyên lý chuyển động của những cỗ máy nghiền ngô ở trung đoàn công binh, nhớ lại cấu tạo trục lăn kéo phên nứa mà anh từng thấy ở xưởng gỗ cơ giới trên tỉnh. Tại sao phải dùng một chiếc chai thủy tinh ngắn ngủn với lực ép thủ công chắp vá, trong khi có thể chế tạo một hệ thống trục lăn bằng gỗ nguyên khối có tay quay trợ lực? Và tại sao phải dùng nong tre gồ ghề để rồi cắt kẹo bằng dao bài nham nhở, khi hoàn toàn có thể đóng một chiếc bàn ép nguội phẳng lì có gờ cữ chuẩn xác kết hợp với giàn dao cắt đòn bẩy? Nghĩ là làm, sáng sớm hôm sau, Hùng xuống gầm phản gian giữa, lôi ra một khúc gỗ nghiến cổ thụ – báu vật gia truyền mà ông Quỳ đã cất giữ suốt hai mươi năm qua để dành đóng cột cái gian thờ. Gỗ nghiến đanh và nặng như thép nguội, vân mịn tưng, ngâm nước không mục, chôn đất không mủn, bề mặt nhẵn lì không bao giờ bám dính chất dẻo. Ông Quỳ bước ra sân, thấy con trai lôi khúc gỗ quý ra định cưa xẻ, ban đầu thoáng giật mình tiếc của. Nhưng khi nghe Hùng trình bày cặn kẽ bản vẽ cơ cấu cán kẹo định hình để giải phóng đôi bàn tay đang phỏng rộp của con dâu tương lai, đôi mắt người nghệ nhân già bỗng rưng rưng cảm động. Ông không những không cản mà còn đích thân xắn tay áo, cầm chàng cùng con trai miệt mài đục đẽo. Suốt ba ngày ba đêm liền, Hùng cùng Toàn “rỗ” thức trắng bên ngọn đèn dầu. Bằng ngón nghề tiện gỗ bậc thầy, họ biến khúc gỗ nghiến xù xì thành một con lăn hình trụ hoàn hảo, đường kính đúng hai mươi phân, dài sáu mươi phân, bề mặt được mài giũa bằng lá chuối khô và sáp ong nhẵn thín như gương soi. Hùng khéo léo đóng hai trục cốt thép đặc – tận dụng từ thanh truyền xe thồ cũ – xuyên suốt tâm gỗ, rồi lồng vào hai ổ bạc đỡ bằng gỗ lim già ngâm đẫm dầu luyn để triệt tiêu ma sát. Anh còn gắn thêm một tay quay bằng sắt uốn có cơ cấu bánh đà trợ lực, giúp người vận hành chỉ cần dùng sức của một đứa trẻ mười tuổi cũng có thể tạo ra lực cán nặng hàng tạ. Chưa dừng lại ở đó, Hùng đóng một chiếc bàn dài bằng gỗ dổi phẳng lì, mặt bàn được bọc một lớp tôn kẽm sáng loáng, vừa sạch sẽ hợp vệ sinh lại dễ dàng lau chùi mật thừa. Hai bên mép bàn là hệ thống thanh trượt bằng gỗ có các ốc siết điều chỉnh cữ độ cao, cho phép mảng kẹo khi trục lăn đi qua sẽ đạt đúng độ dày chuẩn xác nửa phân, trăm mẻ đều tăm tắp như một. Phía cuối bàn, Hùng nhờ bác Thược thợ rèn dùng thép nhíp xe giải phóng rèn một giàn dao gồm mười hai lưỡi mỏng, sắc bén gắn song song trên một khung hạ đòn bẩy. Buổi trưa ngày thứ tư, Hùng cùng Toàn “rỗ” và anh Sinh khênh cỗ máy cơ khí bằng gỗ sáng loáng, thơm phức mùi sáp ong và dầu tràm ra bến đò Vạn Cát. Cả quán nước xôn xao, náo nức như ngày hội. Thu cùng các chị em trong tổ hợp tác bu quanh cỗ máy kỳ lạ, đôi mắt ai nấy đều tròn xoe kinh ngạc. “Anh Hùng… Cỗ máy này… là để làm kẹo thật sao anh?” – Thu ngập ngừng đưa những ngón tay còn dán lá thuốc lên sờ vào trục lăn gỗ nghiến nhẵn thín, giọng run run vì xúc động. Hùng quệt mồ hôi trên trán, mỉm cười hiền từ nhìn cô: “Hệ thống cối cán kẹo lăn trục và bàn ép định hình của em đấy. Nào, chảo mật vừa chín tới rồi, em đổ mẻ kẹo mới ra đây thử xem có đỡ nhọc nhằn hơn không!” Thu hồi hộp múc chảo mật mía đang sôi trào bọt ngát hương gừng và lạc rang rưới đều lên mặt bàn bọc tôn kẽm đã rải sẵn một lớp bột nếp mỏng chống dính. Thay vì phải hai người gò lưng dùng chai thủy tinh ấn cật lực như mọi khi, Hùng ra hiệu cho chị Mót cầm tay quay xoay nhẹ một vòng. Trục lăn gỗ nghiến nặng trịch, đầm chắc từ từ chuyển động. Nhờ sức nặng cơ học hoàn hảo và độ trơn láng tuyệt đối của gỗ nghiến, khối mật dẻo quánh lập tức dàn phẳng lì ra hai bên, trượt êm ru dưới đáy trục lăn, tạo thành một mảng kẹo mỏng đều tăm tắp theo đúng cữ rãnh gỗ trong sự sững sờ của tất cả mọi người. Chỉ mất chưa đầy mười lăm giây, mảng kẹo vuông vức, vàng óng ả đã trải dài trên mặt bàn. Thu nhanh tay kéo cần gạt giàn dao thép xuống. Rắc! Rắc! Rắc! Những tiếng gãy giòn tan, ngọt lịm vang lên rộn rã. Khung dao thép đòn bẩy ngọt xớt hạ xuống, chia mảng kẹo lớn thành hàng trăm thanh kẹo lạc vuông thành sắc cạnh, lấp lánh những hạt vừng vàng rộm và nhân lạc béo ngậy. Không một thanh nào bị méo mó, không một hạt lạc nào bị vỡ nát, trăm miếng tăm tắp như được đúc ra từ một khuôn vàng thước ngọc. “Ôi chao ôi! Đẹp quá! Đều tăm tắp như kẹo đóng hộp của mậu dịch quốc doanh trên thị xã vậy!” – Chị Mót reo lên, ôm chầm lấy thím Cúc trong niềm sung sướng tột cùng. “Nhanh gấp ba, gấp bốn lần làm tay cô Thu ơi! Thế này thì mỗi ngày tổ chúng mình làm cả tạ kẹo cũng chẳng sợ còng lưng, phỏng tay nữa rồi!” – Chị Duyên tật nguyền mừng rỡ đến trào nước mắt, đưa bàn tay sần sùi v**t v* chiếc bàn gỗ dổi. Thu đứng lặng bên cỗ máy, nhìn những thanh kẹo hoàn hảo tỏa hương thơm lừng, rồi ngước mắt nhìn Hùng. Anh đang đứng tựa vào chiếc gậy tre bên bậu cửa, chiếc áo lính bạc phếch ướt đẫm mồ hôi nơi sống lưng, nhưng ánh mắt anh nhìn cô lại tràn ngập sự dịu dàng, chở che và bao dung vô bờ bến. Thu bước chầm chậm lại gần anh, hai bàn tay khẽ nắm lấy bàn tay thô ráp đầy dăm gỗ đâm của người thợ mộc. Cô không nói những lời cảm ơn hoa mỹ, chỉ có những giọt nước mắt hạnh phúc lặng lẽ trào ra, lăn dài trên đôi gò má ửng hồng vì hơi lửa mật mía: “Anh Hùng… Cả đời này anh cứ vì em mà nhọc lòng, vì em mà thức trắng bao đêm như thế…” Hùng mỉm cười ấm áp, bàn tay to lớn vụng về vỗ nhẹ lên mu bàn tay nhỏ bé của cô: “Anh là thợ mộc của em mà. Nếu không làm cho người con gái mình thương bớt đi những nhọc nhằn cay đắng, thì ngón nghề cha ông truyền lại cho anh phỏng có ích gì đâu em.” Nhờ có hệ thống trục lăn gỗ nghiến và chiếc lò nướng bánh đa cải tiến, năng suất của quán nước và Tổ hợp tác bánh kẹo Yên Sa tăng vọt lên gấp ba lần. Tiếng lành đồn xa như cánh chim sẻ bay qua sông Hồng, hương vị kẹo lạc giòn xốp nấu bằng mật mía hoa cau dẻo quánh, đượm vị cay ấm của gừng già và bùi béo của vừng Yên Sa nhanh chóng vang danh khắp các vùng phụ cận. Những ngày cuối năm, bến đò Vạn Cát tấp nập thuyền bè ngược xuôi như mở hội. Không còn nỗi nơm nớp lo sợ trạm kiểm soát rình rập, những chiếc thuyền nan, thuyền gỗ từ mạn Phú Xuyên, Khoái Châu, tận mạn ngược Hưng Yên xuôi dòng nườm nượp cập bến. Các thương lái mang theo ngô hạt, sắn lát, đỗ xanh và tiền mặt đến tận chòi quán của Thu để đặt mua từng sọt bánh đa gấc đỏ tươi như cánh hoa đào và hàng trăm phong kẹo lạc bọc trong giấy bổi mộc mạc. Cả một khúc sông Hồng vang rộn tiếng đục đẽo, tiếng cưa xẻ rộn ràng từ xưởng mộc của Hùng, hòa quyện nhịp nhàng với tiếng cười giòn tan của các chị em xóm bến và tiếng lách tách của bếp than nướng bánh đa. Mùi gỗ mới ngai ngái the the của phoi bào gỗ dổi, gỗ xoan quyện chặt lấy hương mật mía ngọt ngào ngây ngất, tạo nên một mùi hương đặc trưng của sự hồi sinh kỳ diệu – mùi hương của ấm no, hạnh phúc và một tương lai xán lạn đang đâm chồi nảy lộc trên bờ bãi phù sa. Buổi chiều hôm ấy, nắng hanh rải một lớp vàng óng ả như mật ong non lên bãi bồi ven sông. Hùng cùng Thu đang đứng bên hiên quán, cẩn thận kiểm đếm lần cuối năm mươi sọt kẹo lạc và bánh đa nướng giòn chuẩn bị bốc dỡ xuống một chiếc thuyền buôn lớn xuôi về mạn Nam Định. Hùng cầm cuốn sổ tay ghi chép từng con số cẩn thận, còn Thu thoăn thoắt buộc lại từng nút lạt giang mềm mại. Nhìn nụ cười thanh thản rạng ngời trên gương mặt Thu, Hùng nghe trong tim mình một niềm bình yên trọn vẹn, bao vết thương chiến tranh và mặc cảm tật nguyền dường như đã lùi xa vào quá khứ. Đúng lúc ấy, từ phía con dốc dẫn xuống bến đò, tiếng bước chân huỳnh huỵch vang lên gấp gáp, dồn dập. Đặng Thị Thắm từ ngoài đường cái chạy thục mạng vào xưởng mộc, chiếc nón lá cầm trên tay phe phẩy lia lịa, gương mặt cô gái trẻ đỏ bừng vì chạy nhanh, đôi mắt mở to vừa hốt hoảng vừa kinh ngạc tột độ. “Anh Hùng! Chị Thu ơi!” – Thắm thở không ra hơi, một tay vịn chặt vào chiếc cột gỗ xoan, một tay chỉ ngược ra phía gốc đa bến đò – “Có… có biến rồi anh chị ơi!” Hùng giật mình, vội buông cuốn sổ xuống mặt bàn ép kẹo, bước nhanh lại đỡ lấy em gái: “Có chuyện gì thế Thắm? Ban quản lý chợ huyện hay thuế vụ lại gây phiền hà gì à?” “Không… không phải thuế vụ!” – Thắm nuốt nước bọt đánh ực một cái, giọng nói vừa run rẩy vừa ngập tràn vẻ bàng hoàng – “Có một chiếc xe commăng-ca của quân đội… chiếc xe màu xanh lá cây cắm ăng-ten dài ngoẵng trên nóc ấy! Xe vừa từ trên đê rẽ xuống, phanh kít lại ngay dưới gốc đa bến đò! Trên xe có mấy chú bộ đội mặc quân phục chỉnh tề, chở theo người lạ… đang bước xuống hỏi đường tìm đích danh anh Hùng với chị Thu đấy!” , , vn, live , vn

Bạn cũng là tác giả hoặc dịch giả?

Đăng sáng tác hoặc bản dịch của riêng bạn lên Say Truyện — miễn phí, chỉ mất vài phút.

Đăng truyện ngay

Bình luận (0)

Đang tải bình luận...