Quán Nước Bên Bến Đò Năm Ấy

Chương7: Hương bánh đa vừng

Cỡ chữ
Nắng sớm mùa đông dát lên mặt sông Hồng một màu vàng non như mật ong hoa nhãn. Gió bấc từ phía thượng nguồn vẫn thổi ràn rạt qua những bãi cát bồi, luồn qua rặng sậy khô xào xạc từng chập, nhưng cái lạnh buốt cắt da cắt thịt dường như đã bị chặn lại bên ngoài ngưỡng cửa lán rơm nơi bến Vạn Cát. Nguyễn Thị Thu ngồi thụp xuống bên chiếc kiềng sắt ba chân, cẩn thận xê dịch chiếc ghế đẩu gỗ xoan ngâm lại ngay sát cạnh lò than. Chiếc ghế bốn chân choãi chữ bát vững chãi, mặt gỗ vàng ngà phẳng lì không một gợn xước, nổi bật giữa nền đất cát pha nện ẩm ướt lởm chởm sỏi đá. Mỗi lần bàn tay cô vô tình lướt qua góc mộng mang cá khít khao, nơi ban sớm vừa rút ra mảnh giấy ráp màu nâu sẫm, nơi lồng ngực Thu lại dâng lên một luồng hơi ấm lạ kỳ xua tan đi bao giá buốt. Mảnh giấy ráp cát thủy tinh với dòng chữ viết bằng bút chì màu nắn nót của Hùng: “Đừng sợ, cứ an tâm nấu nước” đã được cô gấp lại vuông vắn, cẩn thận cài sâu vào túi trong chiếc áo bông chần cũ kỹ, áp sát ngay nhịp đập nơi trái tim. Từng nét chì đậm đà, thẳng thớm và dứt khoát ấy như một chiếc then cài kiên cố, khép lại nỗi sợ hãi mơ hồ về cuốn sổ bìa xanh của Lê Tiến Bền, chặn đứng cả những đêm dài trằn trọc lo âu về món nợ ba mươi đồng bạc cùng hai tạ thóc đè nặng vai gầy. Chiếc ấm tích sành da lươn hôm nay thiếu mất cái nắp đậy — vết tích xót xa sau cơn thịnh nộ hách dịch chiều qua của viên đội phó kiểm soát. Thu không nỡ vứt bỏ kỷ vật của mẹ, cô bèn ra bờ rào hái một phiến lá chuối tây xanh mướt, hơ qua ngọn lửa cho mềm và dai, gấp làm tư rồi đậy khít lên miệng ấm, bên trên chèn thêm một mảnh gốm sành tròn trĩnh nhặt được ngoài bãi cát. Hơi nước chè xanh quyện với mấy lát gừng nướng bốc lên nghi ngút qua kẽ lá chuối, phả vào không gian mộc mạc mùi thơm chan chát, ngai ngái mà ấm sực cả gian lán. “Chị Thu ơi! Chị Thu!” Tiếng gọi lảnh lót như chim ri cất lên từ phía con dốc rải đá cuội dẫn xuống bến. Thu ngẩng đầu lên, nhận ra ngay bóng dáng dong dỏng cao của một cô gái mặc chiếc áo cánh nâu vá vai, hai bím tóc đuôi dong lúc lắc theo từng nhịp chân thoăn thoắt chạy xuống. Đó là Thắm, cô em gái mười chín tuổi của anh Hùng. Trên tay Thắm cắp một chiếc rá sặt đậy vuông vải màn sạch tinh, bên hông đeo lủng lẳng chiếc giỏ mây con. Vừa chạy tới thềm phên nứa, cô bé đã th* d*c, hai gò má bánh mật ửng hồng lên vì gió lạnh và gắng sức, nhưng đôi mắt bồ câu thì hấp háy cười giòn tan: “May quá là may, sáng nay thầy em vừa cắp tráp sang xóm Chùa ăn cỗ họ, dặn trưa tróc mới về. Em trốn ra đây ngay với chị đấy!” Thu vội buông thanh cời than, bước nhanh ra đón lấy chiếc rá sặt, kéo Thắm vào sát bên bếp lửa cho đỡ buốt, giọng trách nhẹ mà đong đầy âu yếm: “Gió sông buốt như dao cứa thế này mà cô chạy hùng hục như ngựa vía, không khéo trúng gió độc thì khổ thân. Mà cắp cái gì nặng trĩu thế kia?” Thắm đặt phịch chiếc rá sặt xuống mặt chõng tre, cẩn thận vén vuông vải màn trắng muốt ra. Bên trong là một âu sành da chu láng bóng, đựng đầy thứ bột nước màu trắng ngà, mịn màng và đặc sánh như váng sữa. Chưa dừng lại ở đó, từ chiếc giỏ mây bên hông, cô bé thoăn thoắt lôi ra một bát sứ Hải Dương đựng đầy vừng đen mẩy hạt, cùng một bó nẹp tre mỏng tang đã được chuốt nhẵn bóng không còn một dằm xước. “Bột gạo đấy chị!” Thắm hạ thấp giọng, đôi mắt liếc nhanh ra phía bờ đê như sợ có tai vách mạch rừng, rồi ghé tai Thu thì thào đầy vẻ đắc ý: “Gạo mót vụ chiêm của u em để dành dưới đáy bồ, em giấu thầy đem ngâm nước mưa từ chập tối hôm qua. Sáng nay gà vừa gáy canh năm, em với anh Hùng đã dậy xay cối đá. Anh ấy một tay đỡ bên gối đau buốt, một tay ghì quay cối cho em tra bột từng muôi đấy. Bột gạo tẻ xịn, em còn pha thêm lưng bát con củ sắn bở luộc giã nhuyễn theo đúng lời chị dặn hôm nọ. Chị xem này, dẻo quánh và thơm phức!” Nhìn âu bột trắng tinh khôi và bát vừng đen nhánh hạt mẩy đều tăm tắp, sống mũi Thu bỗng cay xè. Ở cái thời buổi hạt thóc hạt gạo bị đong đếm từng lạng trên cuốn sổ lương thực mậu dịch, củ khoai củ sắn độn cơm còn phải dè sẻn nhường nhịn nhau từng miếng cháy, một âu bột gạo pha sắn thế này là cả một gia tài chắt chiu, là mồ hôi và ân tình sâu nặng mà gia đình người thợ mộc đã âm thầm dành cho cô. Thu đưa ngón tay trỏ khẽ nhúng vào âu bột, xoa nhẹ vào lòng bàn tay để cảm nhận độ mịn rồi đưa lên cánh mũi ngửi. Thứ bột nước xay bằng cối đá xanh mát rượi, thơm nồng mùi cám gạo mới giã, lại thoang thoảng vị ngòn ngọt bùi bùi nhờ chút sắn bở luộc chín đánh tơi hòa quyện. “Bột xay khéo lắm, mịn màng như bột lọc vậy.” Thu khẽ mỉm cười, nhìn Thắm bằng ánh mắt rưng rưng cảm kích: “Nhưng anh Hùng... chân anh ấy sáng nay có đau nhiều không em?” Nhắc đến anh trai, gương mặt rạng rỡ của Thắm thoáng chùng xuống, nhưng rồi cô bé lại gượng cười nhanh nhảu: “Đêm qua anh ấy thức trắng bên đống phôi gỗ dưới chuồng trâu. Gió bấc thốc qua khe liếp buốt giá, vết đạn cối cắn giật từng cơn trong tủy xương, em thấy anh ấy phải cắn chặt răng vào vạt áo chần cho khỏi bật ra tiếng r*n r* vì sợ thầy thức giấc. Thế mà sáng sớm nay vác được chiếc ghế ra bến xong, trở về nhà mặt anh ấy tươi tỉnh hẳn ra. Anh ấy dặn em mang bột ra ngay cho chị tráng bánh, bảo khách bộ hành qua đò mùa đông bụng dạ đói meo, có bát chè xanh gừng nóng mà được thêm miếng bánh đa vừng giòn rụm dằn bụng thì quý hơn vàng.” Thu đưa mắt nhìn chiếc ghế đẩu gỗ xoan ngâm đặt sát cạnh lò. Từng nhát bào phẳng lì, từng đường ghép mộng mang cá đều là mồ hôi, là sự nhẫn nại nén đau trong đêm đông buốt giá của người lính phục viên. Trái tim cô gái mồ côi đập dồn lên những nhịp thổn thức thiêng liêng. Cô siết chặt bàn tay lạnh cóng của Thắm: “Chị em mình làm luôn đi em. Kẻo lát nữa sương tan trên mặt sông, chuyến đò ngang bên kia bờ sang là khách lỡ bước đói lòng ghé quán đông lắm.” Hai chị em bắt tay vào việc nhịp nhàng như đã từng cùng nhau làm lụng từ bao năm. Thu dọn lại khoảng đất nện trong góc quán, kê ba hòn gạch ba banh chắc chắn làm lò phụ, đặt lên đó chiếc nồi đồng ba cũ kỹ của mẹ cô để lại từ ngày xưa. Miệng nồi đã được Thu khéo léo bọc một lớp vải màn dày dặn, căng phẳng lì như mặt trống da, dùng dây gai xe chặt quanh gờ miệng nồi, tuyệt đối không để hở ra một kẽ nhỏ nào làm thất thoát hơi nóng. Đáy nồi đổ xâm xấp nước giếng khơi trong vắt, bên dưới nhóm bằng những gióng ngô khô nỏ và than hoa đượm lửa. Thắm nhanh nhẹn cầm chiếc quạt mo cau phe phẩy nhẹ vào cửa lò. Chẳng mấy chốc, những gióng ngô khô bắt lửa nổ lách tách, than hoa bén hồng rực rỡ, nước trong nồi đồng sôi lên sùng sục. Những luồng hơi nước nóng rẫy bốc lên nghi ngút qua lớp vải màn, làm mặt vải căng phồng lên trắng muốt. Thu ngồi ngay ngắn lên chiếc ghế gỗ Hùng đóng. Dáng ngồi vững chãi, lưng thẳng, hai ống tay áo nâu sồng được xắn cao quá khuỷu để lộ đôi cánh tay bánh mật thon thả và rắn rỏi dãi dầu mưa nắng. Cô cầm chiếc gáo múc bột làm bằng nửa gáo dừa già nhẵn bóng, khuấy đều âu bột nước rồi múc lên một muôi đầy sóng sánh. “Xè... è...!” Tiếng bột nước chạm vào mặt vải nóng rực vang lên giòn giã. Bằng một động tác dẻo quẹo và chuẩn xác đến từng ly, đáy gáo dừa xoay tròn từ tâm ra mép theo chiều kim đồng hồ, tráng đều một lớp bột mỏng tang, tròn trịa và phẳng phiu như vầng trăng rằm tháng Tám. Nhanh như cắt, Thu với tay lấy chiếc bát sứ, bốc một nhúm vừng đen rải đều lên mặt bánh. Những hạt vừng đen bóng li ti rơi lả tả, rải kín đều khắp mặt bột trắng nõn nà, tạo nên sự tương phản đẹp mắt tựa một bức tranh thủy mặc thôn dã mộc mạc. Cô chụp chiếc vung đan bằng rơm nếp kín khít lên miệng nồi đồng. “Canh chừng mười lăm tiếng đếm thôi Thắm nhé, lửa phải đều ngọn thì bánh mới chín tới, không bị nát mà cũng không bị sượng bột,” Thu dặn dò, đôi mắt đen láy chăm chú nhìn luồng hơi nước trắng xóa đang phì ra từ mép vung rơm. “Một... hai... ba... bốn...” Thắm lẩm nhẩm đếm theo nhịp thở, hai mắt mở to đầy vẻ thán phục bàn tay thoăn thoắt của người chị. Đúng mười lăm tiếng đếm, Thu mở vung. Một làn khói thơm nồng mùi bột gạo chín quyện với mùi dầu vừng bốc lên ngào ngạt, bao trùm lấy gian lán nhỏ. Tấm bánh chín tới trong vắt, phập phồng rung rinh theo từng nhịp sôi sục của nước bên dưới. Thu cầm chiếc que cật tre vót mỏng dẹt, nhẹ nhàng lách một đường tròn quanh mép bánh, rồi luồn thân que tre xuống dưới, nâng bổng chiếc bánh đa mỏng manh, mềm mại như một dải lụa ra khỏi mặt vải mà không hề làm rách dù chỉ một góc nhỏ. “Khéo quá chị Thu ơi! Tròn xoe, đều tăm tắp mà mặt bánh mịn mượt như lụa ấy!” Thắm reo khẽ, hai bàn tay vỗ vào nhau mừng rỡ. Thu khẽ mỉm cười, đôi gò má ửng hồng lên vì hơi nóng của nồi đồng và ánh than rực lửa: “Bí quyết của cụ ngoại chị ghi lại trong cuốn sổ đấy em ạ. Bột gạo tẻ mà không có chút bột sắn bở thì bánh tráng ra dễ bị rách mép, lúc phơi khô nướng lên sẽ cứng quắt lại như ngói vỡ, nhai rát cả vòm họng. Thêm chút sắn bở vào, bánh vừa dẻo dai dễ tráng, lúc nướng trên than lại xốp phồng giòn rụm. Nào, đưa phên nứa lại đây cho chị.” Thắm vội bưng lại chiếc phên đan bằng nứa tép dài ngoằng. Thu nhẹ nhàng trải chiếc bánh đa ướt mềm mại lên nan phên, đầu ngón tay thoăn thoắt vuốt phẳng từng nếp nhăn li ti. Từng chiếc, từng chiếc bánh ra lò đều đặn, chỉ trong vòng nửa giờ đồng hồ, ba chiếc phên nứa dài đã được xếp ngay ngắn phơi mình bên mép bãi cát sông Hồng. Nắng đông hanh hao dát vàng trên bờ cát, gió sông thổi lồng lộng mang theo hơi khô ráo của bãi bồi phù sa. Gặp nắng hanh và gió bấc, mặt bánh đa se lại rất nhanh. Lớp bột trắng ngà chuyển dần sang trạng thái se dẻo, ráo mặt, ôm chặt lấy những hạt vừng đen nhánh nổi bật. Mùi bột gạo phơi trong gió bấc quyện với mùi thơm bùi của vừng tạo nên một thứ phong vị đồng nội mộc mạc, thanh khiết lạ lùng giữa khung cảnh bến sông quạnh quẽ. * * * Khoảng gần trưa, tiếng mái chèo khua nước bì bõm từ giữa dòng sông Hồng vọng lại mỗi lúc một gần. Tiếng còi hiệu gõ lách cách vào mạn thuyền cất lên giòn giã, con đò gỗ quen thuộc của bà cụ Vấn từ từ rẽ sóng đỏ phù sa, áp sát vào doi cát bến Vạn Cát. Trên đò có chừng hơn chục người khách bộ hành. Ai nấy đều quấn khăn kín mít quanh cổ, người mặc áo trấn thủ, người khoác manh áo bông chần xơ xác, vai quẩy quang gánh nặng trĩu, nách cặp bao tải dứa đựng dăm ba buồng chuối, sọt khoai lang mang từ mạn ngược về xuôi. Gương mặt ai nấy đều tái ngắt vì lạnh, đôi môi thâm sì và những bước chân run rẩy sau chuyến vượt sông dài giữa mùa gió chướng cắt da buốt thịt. “Cập bến rồi bà con ơi! Lên bờ thong thả kẻo thụt cát lún đấy!” Bà cụ Vấn vừa quăng cuộn dây thừng chắc nịch buộc đò vào chiếc cọc tre cắm sâu dưới lòng bùn, vừa cất tiếng giục giã thân tình. Hàm răng đen nhánh hạt huyền của cụ nổi bật giữa nụ cười đôn hậu, trên môi thắm đỏ vệt trầu cay nồng. Vừa đặt bước chân già nua lên bờ cát, khứu giác tinh tường của người chèo đò thâm niên đã bắt được một mùi hương lạ lùng, ấm sực lan tỏa trong làn gió bấc. “Ơ kìa... Mùi gì mà thơm lựng, nức mũi thế này hả cô Thu?” Cụ Vấn chống cây sào đò, ngẩng đầu hít hà một hơi dài, ánh mắt tinh anh sáng rỡ hướng về phía quán nước rơm rạ dưới gốc đa. Khách qua đò cũng đồng loạt khựng bước, đưa mũi ngửi ngửi trong gió lạnh. Mùi hương ngầy ngậy, beo béo của vừng chín quyện với mùi bột gạo nướng trên than hoa xộc thẳng vào khứu giác của những kẻ đang đói lả ruột gan sau một chặng đường dài cuốc bộ. Lúc này, những chiếc bánh đa phơi trên phên nứa ngoài bờ cát đã se dẻo ráo mặt, vừa đạt đúng độ dẻo dai cần thiết. Thu khéo léo gỡ từng chiếc bánh xuống, đặt chiếc vỉ kẹp sắt lên bếp than hoa rực hồng trong góc quán. Một tiếng “xèo xèo” khe khẽ cất lên khi mặt bánh đa se dẻo chạm vào hơi nóng than củi. Thu cầm chiếc quạt nan phe phẩy nhịp nhàng, tay kia cầm que tre khéo léo xoay tròn chiếc vỉ kẹp trên bếp than đỏ rực. Dưới sức nóng đối lưu của lửa than củi, điều kỳ diệu bắt đầu diễn ra: mặt bánh đa mỏng manh bắt đầu phồng rộp lên, những bọng khí li ti nổi lên cuồn cuộn như sóng nước, chuyển dần từ màu trắng ngà sang màu vàng rộm lốm đốm hoa mai. Những hạt vừng đen nở bung, nổ lách tách như pháo tép, ứa ra lớp tinh dầu béo ngậy thơm nức mũi. Mùi thơm nướng bánh đa đặc trưng của làng quê đồng bằng Bắc Bộ — thứ mùi thơm ấm áp gợi nhớ những ngày giáp Tết sum vầy bên bếp lửa củi rơm — lập tức bay trùm lên khắp bến đò Vạn Cát, át đi hoàn toàn cái mùi ẩm mốc của bùn bãi và vị tanh nồng của sóng nước mùa cạn. “Bánh đa vừng nướng than hoa đây bà con ơi! Nước chè xanh gừng ấm nóng, bánh đa giòn tan đây ạ!” Thắm đứng trước cửa lán, giọng lanh lảnh cất lên chào mời khách qua sông. Như một phản xạ tự nhiên của những người đi đường xa đói rét, dòng người sang đò liền lục tục kéo nhau rẽ vào quán nước xụp xệ bên gốc đa cổ thụ. “Cô bán cho tôi một bát nước chè nóng với một chiếc bánh đa!” Một bác thợ thồ hàng trạc ngũ tuần, chiếc xe đạp Phượng Hoàng cà tàng buộc hai sọt cói trĩu nặng sau xe, đôi bàn tay nứt nẻ cáu bẩn vì dầu mỡ và gió lạnh, run rẩy bước vào quán, móc từ đáy túi chiếc áo bông cũ ra đồng bạc lẻ nhàu nhĩ. “Dạ, cháu có ngay đây bác ạ!” Thu đon đả đáp lời, nụ cười hiền hậu xua tan đi vẻ mệt mỏi của người khách phương xa. Cô dùng chiếc kẹp tre gắp chiếc bánh đa vàng rộm vừa rời khỏi vỉ than, đặt lên chiếc mẹt con lót lá chuối tươi sạch sẽ. Chiếc bánh đa to bản, cong cong hình cánh cung, phồng đều tăm tắp không hề bị cháy sém một góc nào, lớp vừng đen rải kín như sao sa trên nền bánh vàng rộm. Bác thợ thồ đón lấy chiếc bánh nóng hổi, hai bàn tay áp chặt vào vành bánh để sưởi ấm mười đầu ngón tay đang cóng buốt trước khi bẻ đôi.“Rắc! Rôm rốp!” Tiếng bánh đa vỡ giòn tan vang lên, giòn rụm đến mức những người ngồi xung quanh cũng phải ngoái đầu nhìn lại và nuốt nước miếng ừng ực. Người đàn ông đưa miếng bánh lên miệng cắn một miếng lớn. “Rôm rốp... giòn rụm!” Bánh vỡ giòn tan trong khoang miệng, vị bùi béo ngầy ngậy của hạt vừng đen rang chín quyện chặt lấy vị ngọt hậu mộc mạc của tinh bột gạo tẻ pha sắn bở. Bác nhấp thêm một ngụm nước chè xanh nóng rẫy trong chiếc bát sứ Hải Dương do Thu trân trọng trao tới. Vị chát dịu của chè xanh đầu mối đọng lại ở đầu lưỡi, ngay sau đó biến thành vị ngọt lịm sâu nơi cuống họng, hòa quyện tuyệt vời với độ bùi béo của miếng bánh đa vừng nướng. “Trời đất ơi! Ngon quá cô em ơi!” Bác thợ thồ không kìm được tiếng xuýt xoa, đôi mắt mệt mỏi sau chặng đường dài bỗng bừng sáng lên: “Bánh giòn xốp mà không cứng, thơm lựng mùi vừng. Tôi đạp xe thồ từ chợ Huyện qua bến đò này mấy năm nay, chưa bao giờ được ăn miếng bánh đa nào ngon đến thế này. Cắn một miếng mà tỉnh cả người, xua tan hết cả cái lạnh buốt xương buốt tủy!” Lời khen chân thành, mộc mạc của bác thợ thồ như một ngòi nổ làm bùng lên sự thèm thuồng của cả đoàn người. Căn lán rơm nhỏ bé bỗng chốc trở nên chật chội, ấm cúng lạ thường. “Cô nó ơi, cho tôi hai chiếc bánh đa với ba bát nước chè nóng!” “Bán cho tôi một chiếc gói lá chuối mang về cho thằng c* ở nhà với, khéo tay quá!” “Nướng nhanh tay lên cô bé ơi, đò sắp sửa sang chuyến nữa rồi, cho tôi hai cái dằn bụng kẻo đói lả!” Tiếng gọi bánh, tiếng bát sứ va vào chõng tre lách cách, tiếng quạt than phành phạch quyện cùng tiếng cười nói râm ran làm góc bến sông vốn dĩ hoang vắng, quạnh quẽ bỗng bừng lên một sức sống ấm áp lạ kỳ. Thu thoăn thoắt trở bánh trên bếp than hồng, mồ hôi rịn ra trên trán, thấm ướt mấy lọn tóc mai thoang thoảng hương hoa bưởi, nhưng nụ cười trên môi cô thì rạng rỡ như hoa nở mùa xuân. Thắm lăng xăng rót nước, đưa bánh cho khách, rồi thoăn thoắt thu những đồng tiền lẻ nhàu nhĩ năm hào, một đồng nhét vào chiếc hũ sành đặt dưới góc chõng tre. Bà cụ Vấn ngồi tựa lưng trên chiếc ghế đẩu gỗ xoan ngâm — chiếc ghế mà Hùng đóng riêng cho quán — miệng nhai trầu bỏm bẻm, tay cầm nửa chiếc bánh đa Thu biếu, khẽ gật gù khen ngợi: “Bánh này phải là con gái nhà nghề, có bàn tay khéo léo mới làm ra được thế này đây. Bánh đa chợ Huyện người ta hay độn nhiều bột ngô hay cám mịn, ăn bã miệng lại cứng như ngói, nhai trẹo cả quai hàm. Bánh của con Thu vừa xốp giòn, vừa thơm nức nở mùi vừng. Ăn vào một miếng, chiêu thêm ngụm chè xanh gừng nóng, mười phần hàn khí trong bụng đều bay biến hết cả. Khéo lắm con ạ!” Thu ngước nhìn cụ Vấn, trong lòng trào dâng niềm biết ơn vô hạn: “Nhờ có cụ và bà con thương tình ghé quán, lại có em Thắm ra đỡ đần cho cháu một tay đấy cụ ạ.” Cụ Vấn cười híp mí, ánh mắt từng trải liếc xuống chiếc ghế gỗ xoan dưới chân mình, rồi hạ giọng thì thào với Thu bằng giọng hóm hỉnh: “Chiếc ghế này thằng Hùng nó thức đêm đóng chứ ai vào đây! Mộng én mộng cá khít rịt, ngồi êm ru không rung rinh lấy một ly trên nền cát sỏi. Đứa thì khéo tay nướng bánh hãm chè, đứa thì tài hoa đồ mộc, đúng là trời sinh một cặp hiền lành, chịu thương chịu khó!” Nghe cụ Vấn trêu, mặt Thu đỏ bừng lên như lửa than hoa trong lò. Cô vội cúi thấp đầu xuống, giả bộ chăm chú dùng que tre lật chiếc bánh đa trên bếp lửa, nhưng trong lòng rộn rã một niềm vui sướng ngọt ngào, e ấp khó tả thành lời. * * * Buổi chiều buông xuống rất nhanh trên bến đò Vạn Cát. Mặt trời đỏ ối như lòng đỏ trứng gà từ từ lặn xuống sau rặng tre làng phía xa xăm bên kia sông. Khách vãng lai thưa dần, chỉ còn lại những đợt gió lạnh thổi từng cơn làm rung rinh mái rạ xơ xác của túp lều. Chiếc hũ sành giấu dưới gầm chõng tre hôm nay nặng trĩu những đồng tiền hào, tiền đồng thấm đẫm mồ hôi lao động chân chính. Toàn bộ hơn hai mươi chiếc bánh đa tráng thử nghiệm ban sáng đã bán sạch veo không còn sót lại một mẩu vụn. Khách ăn xong còn tấm tắc dặn ngày mai nhớ tráng nhiều hơn để họ mua về làm quà cho con trẻ nơi quê nhà. Thu dọn dẹp lại tàn tro, lau sạch mặt chõng tre, xếp lại chiếc nồi đồng ba ngay ngắn vào góc vách nứa. Chợt, từ phía con dốc rải đá cuội dẫn xuống bến, tiếng gậy tre gõ lốc cốc trên đá cuội lại vang lên chầm chậm, nhịp nhàng. “Cốc... lẹp xẹp... cốc... lẹp xẹp...” Thu giật mình ngẩng đầu lên. Bóng hình cao lớn, bờ vai rộng vững chãi trong chiếc áo Tô Châu bạc màu đang tập tễnh bước xuống triền đê. Là Hùng. Anh chống chiếc gậy tre bằng tay phải, cánh tay trái kẹp một bó nan nứa già đã được chuốt nhẵn bóng, bước đi tuy khập khiễng nhọc nhằn nhưng toát lên vẻ dứt khoát và điềm tĩnh lạ lùng. Thấy anh trai xuất hiện, Thắm toan cất tiếng gọi nhưng chợt khựng lại. Đôi mắt tinh ranh của cô bé liếc nhìn chị Thu rồi khẽ mỉm cười tủm tỉm. Thắm nhanh nhẹn cắp chiếc rá sặt không vào nách: “Chị Thu ơi, em mang rá về trước kẻo trời nhá nhem thầy em về lại mắng. Bó nan nứa anh Hùng mang ra là để chị đan thêm phên phơi bánh ngày mai đấy!” Nói đoạn, Thắm chạy vụt qua người Hùng, vỗ nhẹ vào vai anh trai một cái đầy tinh nghịch rồi thoăn thoắt leo ngược lên bờ đê, tiếng cười giòn tan khúc khích chìm dần vào màn sương chiều bảng lảng. Khoảng không gian bên bờ sông vắng giờ đây chỉ còn lại hai người. Hùng bước vào trong lán, nhẹ nhàng đặt bó nan nứa xuống cạnh vách phên. Ánh mắt thâm trầm của anh lướt qua góc quán sạch sẽ, ngăn nắp, rồi dừng lại trên chiếc ghế đẩu gỗ xoan ngâm đang đặt trang trọng ngay cạnh bếp than hồng. Thấy mặt gỗ xoan đã được Thu lau chùi sạch bóng, không vương một hạt bụi than hay vết nước chè nào, ánh mắt người lính vốn quen vẻ lạnh lùng nghiêm nghị bỗng mềm lại, ánh lên những tia ấm áp dịu dàng khôn xiết. “Anh Hùng... chân anh hôm nay đỡ đau buốt chưa?” Thu khẽ cất lời, giọng nói trong trẻo mà run rẩy, đôi mắt đen láy nhìn anh đong đầy nỗi xót xa, lo lắng. Hùng khẽ lắc đầu, khóe môi thô ráp nứt nẻ vì gió bấc thoáng nở một nụ cười kín đáo: “Vết thương cũ ở chiến trường ấy mà, mỗi bận trở trời thì nó lại nhức buốt một chút thôi, anh quen rồi. Nghe con Thắm chạy về bảo... bánh hôm nay bán chạy lắm?” “Dạ, hết sạch từ lúc xế trưa anh ạ.” Thu xúc động bước lại gần anh hơn một bước, hai bàn tay thon thả đan chặt vào nhau trước vạt tạp dề nâu: “Nhờ có âu bột của em Thắm, và... và chiếc ghế gỗ của anh đóng cho. Nhờ có chiếc ghế vững chãi này mà em ngồi tráng bánh suốt buổi sáng không hề bị mỏi lưng, không phải ngồi chông chênh trên khúc gỗ mục mục như mấy hôm trước nữa.” Hùng đứng lặng yên không nói. Anh vốn là người kiệm lời, từ chiến trường Tây Nam đầy đạn bom khói lửa trở về mang theo bao vết thương trên thân thể và nỗi đau mất mát đồng đội, anh không quen nói những lời ngọt ngào bóng bẩy. Anh chỉ lẳng lặng nhìn cô gái nhỏ bé trước mặt mình — người con gái mà từng cử chỉ, từng ánh mắt đều toát lên vẻ chịu thương chịu khó, sự kiên cường và tấm lòng trong trẻo như dòng nước giếng khơi làng Yên Sa. Thu quay người lại phía bếp than, cẩn thận lấy ra một chiếc bánh đa vừng nướng duy nhất còn sót lại, được cô ủ kỹ trong bọc lá chuối ấm áp — chiếc bánh tròn trịa nhất, nhiều vừng đen nhất mà cô đã cố ý giữ lại từ ban trưa. Cô đưa hai tay bẻ đôi chiếc bánh, tiếng nổ giòn rụm vang lên rôm rốp giữa không gian tĩnh lặng của buổi chiều tà. “Anh ngồi xuống đây nghỉ chân đi, ăn thử miếng bánh đa vừng em làm.” Thu bưng chiếc đĩa sành con, trân trọng đưa về phía anh, đôi mắt nhìn thẳng vào mắt anh chân thành và tha thiết: “Chiếc bánh này có công sức xay bột của anh từ sáng sớm đấy.” Hùng ngập ngừng trong giây lát, rồi anh đặt cây gậy tre dựa vào mép phên nứa, từ từ ngồi xuống chiếc ghế đẩu do chính tay mình thức trắng đêm đục đẽo. Chiếc ghế xoan ngâm bốn chân choãi chữ bát nâng đỡ thân hình cao lớn của người thương binh một cách vững vàng, êm ái trên nền cát sỏi. Anh đưa bàn tay thô ráp đón lấy nửa chiếc bánh đa từ tay Thu. Những ngón tay chai sạn đầy vết sẹo của người thợ mộc khẽ chạm vào đầu ngón tay mềm mại của người con gái bến đò. Một thoáng giật mình rất nhẹ, một luồng hơi ấm râm ran khẽ lan qua da thịt khiến cả hai người cùng ngượng ngùng cúi mặt, tim đập thảng thốt một nhịp. Hùng đưa miếng bánh đa lên miệng cắn một miếng. Tiếng bánh vỡ giòn tan trong khoang miệng. Hương vị béo ngậy của vừng đen nướng than hoa, vị ngọt thơm mộc mạc của bột gạo tẻ pha sắn bở, và đặc biệt là hơi ấm từ bàn tay người nướng bánh như thấm sâu vào từng đường gân thớ thịt của người lính thương binh. Anh nhai chầm chậm, nhai từng chút một như muốn nâng niu trọn vẹn tấm lòng thơm thảo của người con gái mồ côi. “Ngon lắm.” Hùng ngẩng lên nhìn Thu, giọng anh trầm ấm và khàn khàn: “Bánh rất giòn xốp, thơm đượm và đậm đà. Ngày ở chiến trường biên giới Tây Nam, những đêm nằm dưới hầm pháo lạnh buốt thịt da, anh chỉ ước ao có một ngày còn sống trở về để được ăn miếng bánh quê nhà giòn thơm thế này.” Nghe anh nhắc đến chiến trường và những gian lao khốc liệt đã qua, mắt Thu chợt rưng rưng ngấn lệ. Cô vội nghiêng ấm tích rót một bát nước chè xanh nghi ngút khói, hai tay nhẹ nhàng đặt vào tay anh: “Anh uống ngụm nước nóng cho ấm dạ. Từ nay... ngày nào anh ra bến đò, em cũng sẽ nướng bánh đa và hãm ấm chè xanh gừng thật ngon phần anh.” Hùng bưng bát nước chè bằng cả hai bàn tay thô ráp, lặng ngắm làn khói mỏng manh lượn lờ bay lên trên mặt nước xanh biếc. Giữa hai con người chịu nhiều thương tổn và mất mát của thời cuộc, không cần đến những lời thề thốt hoa mỹ, chỉ cần một bát nước chè xanh ấm nồng, một chiếc bánh đa vừng giòn xốp và một chiếc ghế mộc vững chãi đặt cạnh bếp than hồng, cũng đủ để dệt nên một sợi dây liên kết vô hình nhưng bền chặt hơn bất cứ thứ mộng gỗ nào trên cõi đời này. Họ ngồi bên nhau trong sự im lặng bình yên của buổi hoàng hôn buông xuống dòng sông. Ngoài kia, con nước sông Hồng vẫn cuộn đỏ phù sa, con đò của cụ Vấn đã gác sào nghỉ ngơi dưới bóng cây đa cổ thụ. Khói bếp từ những mái nhà tranh trong làng Yên Sa bắt đầu lãng đãng bay lên, hòa cùng sương chiều bảng lảng. Cảnh vật thanh bình và ấm áp như một bức tranh điền viên chở che cho hai số phận khốn khó nương tựa vào nhau để cùng bước qua những ngày giáp hạt gian nan. Nhưng sự bình yên ở làng quê thời bao cấp ngột ngạt dường như chưa bao giờ kéo dài được lâu. Từ trên con đường đê lát gạch nghiêng dẫn xuống bến đò, bỗng vang lên tiếng lẹp xẹp của những đôi guốc mộc và tiếng đòn gánh kĩu kịt của đám đàn bà buôn chuyến vừa trở về từ chợ Huyện Đông. Tiếng cười cợt the thé và những giọng nói xì xào độc địa bỗng vạch toang màn sương chiều tĩnh mịch, vọng thẳng xuống bờ cát bến đò: “Gớm, con mồ côi ranh mãnh khéo mồi chài, làm cho anh thương binh nhà người ta mê muội đến quên cả gia phong!” , , vn, live , vn

Bạn cũng là tác giả hoặc dịch giả?

Đăng sáng tác hoặc bản dịch của riêng bạn lên Say Truyện — miễn phí, chỉ mất vài phút.

Đăng truyện ngay

Bình luận (0)

Đang tải bình luận...