Xuyên không thập niên 70

Chương8: Nước dâng chân đê sông Đáy

Cỡ chữ
Trận giông chiều hôm ấy chỉ là phát súng lệnh mở màn cho một cơn thịnh nộ kinh hoàng của đất trời. Sang đến đầu tháng Tám năm 1977, hoàn lưu của cơn bão số ba quét qua đồng bằng Bắc Bộ, mang theo những túi mưa khổng lồ đổ ụp xuống đôi bờ sông Đáy. Suốt ba ngày ba đêm ròng rã, bầu trời Hà Sơn Bình như một tấm bạt rách nát, nước từ trên cao trút xuống xối xả, trắng trời trắng đất. Không còn phân biệt được đâu là ranh giới giữa ngày và đêm; chỉ có tiếng mưa quất ràn rạt trên những mái rạ mục, tiếng gió rít qua rặng phi lao ven sông nghe như tiếng quỷ khóc thần gào, và bóng tối nhớp nháp, lạnh buốt bao trùm khắp các nẻo đường làng An Hòa. Nằm ở vùng trũng sát bờ sông, xã An Hòa oằn mình hứng trọn dòng nước lũ từ thượng nguồn Hòa Bình cuồn cuộn đổ về. Nước sông Đáy dâng lên nhanh đến mức rợn người. Mới chập tối hôm trước, mép nước còn mấp mé chân bãi ngô non, vậy mà đến nửa đêm, những vạt ngô bắp vừa ngậm sữa đã hoàn toàn biến mất dưới dòng phù sa đỏ quạch, đặc sệt rác rưởi, củi mục và xác súc vật trôi lềnh bềnh. Con đê bối của xã — lá chắn mỏng manh bằng đất thịt pha cát được đắp từ bao đời nay để ngăn nước lũ tràn vào đồng chiêm và khu dân cư — bắt đầu rên xiết dưới sức ép nghìn cân của thủy thần. Nửa đêm ngày thứ ba của đợt mưa lũ, Hoài An đang chong ngọn đèn dầu hạt đỗ ngồi khâu lại chỗ rách trên chiếc áo bông cũ của cụ Khiêm thì bất thình lình, chuỗi âm thanh xé toạc màn mưa dội thẳng vào gian nhà vách đất. “Keng! Keng! Keng! Keng!... Toét... toét... toét!” Tiếng kẻng báo động bằng vỏ bom đập liên hồi dồn dập, chát chúa, hòa lẫn tiếng còi đồng của đội dân quân trực ban rú lên từng hồi thảm thiết từ phía đ**m canh đê đầu làng. Âm thanh báo động khẩn cấp ấy rơi vào đêm mưa như từng nhát búa nện thẳng vào lồng ngực người dân. “Vỡ đê rồi! Làng nước ơi, mang cuốc xẻng ra cống Vực! Mạch đùn rồi!” Tiếng thét thất thanh của ai đó lạc đi giữa tiếng mưa gầm. Ngay lập tức, xóm Trại bừng tỉnh trong nỗi kinh hoàng. Tiếng trẻ con giật mình khóc thét, tiếng lợn gà eng éc trong chuồng ngập nước, tiếng chân người giẫm bồm bộp trên bùn nhão và tiếng gõ cửa thình thình náo loạn khắp các ngõ ngách. Cụ Khiêm ho sặc sụa, vội vã chống gậy nhỏm dậy, đôi mắt mờ đục thất thần nhìn ra sân: “Trời ơi... cống Vực mà bục thì cả cái xã này chìm trong biển nước... Hỏng hết, mất hết rồi con ơi!” “Thầy cứ ngồi yên trong nhà!” An dứt khoát ấn vai cha ngồi xuống phản. Đầu óc cô vận hành với tốc độ tối đa của một kỹ sư từng trải qua bao khóa huấn luyện cứu hộ thực địa. “U trông chừng thầy, cài chặt then cửa sổ, dọn bọc quần áo với ít gạo rang lên sàn gác bếp phòng khi nước dâng. Con ra đê tiếp ứng!” Không kịp để mẹ rơi nước mắt ngăn cản, An vơ vội chiếc nón mê rách mép, khoác tấm áo tơi bện bằng lá cọ cồng kềnh, chụp lấy chiếc đèn bão vặn bấc to rồi lao mình ra màn mưa đen đặc. Ngoài đường làng, bùn đất đã ngập quá mắt cá chân, quánh đặc và trơn như mỡ. Khắp nơi là những đốm lửa bập bùng của đuốc nứa ngâm dầu hỏa. Đàn ông, thanh niên vác cuốc, xẻng, đòn khiên; phụ nữ gồng gánh những bó cọc tre, bao tải dứa, rơm rạ mục cắm đầu cắm cổ chạy về hướng triền đê. Tiếng th* d*c, tiếng gọi nhau ơi ới hòa thành một bản hòa thanh hỗn loạn nhưng hừng hực tính mạng sinh tồn. Tại ngã ba đ**m canh, An gặp chị Đượm đang hớt hải gánh hai sọt rơm khô bọc nilon kín mít. “An đấy hả? Nhanh lên em ơi!” Mặt Đượm tái mét dưới ánh đuốc bập bùng, giọng run rẩy vì lạnh và sợ. “Nước sông Đáy vượt mức báo động ba hơn nửa mét rồi! Chỗ cống Vực nước xoáy khoét sâu chân đê, đất lở từng mảng lớn. Chú Khoát chủ nhiệm hô toàn bộ thanh niên ra cắm cọc giữ chân đê, anh Bình dẫn đội xung kích nhảy xuống sông từ nửa tiếng trước rồi!” Nghe đến tên Bình, lồng ngực An thắt nghẽn lại một nhịp đau nhói. Chân anh còn vết thương cũ! Mảnh đạn pháo chiến trường Tây Nam để lại một vết sẹo co rút sâu hoắm ở bắp chân trái, mỗi khi trái gió trở trời anh còn bước đi khập khiễng, làm sao có thể ngâm mình hàng giờ dưới dòng nước lũ buốt giá, cuồn cuộn phù sa bẩn thỉu ấy được? “Chị Đượm, gánh rơm ra trước đi! Em tạt qua trạm xá dã chiến lấy đồ cứu thương rồi ra ngay!” An rẽ vào gian nhà kho hợp tác ven chân đê — nơi Hội Phụ nữ và y tá xã vừa dựng tạm trạm tiếp tế. Cô không hề hoảng loạn mà nhanh chóng gom hết những thứ có thể cứu người trong điều kiện khan hiếm tột cùng của thời bao cấp: cồn đỏ sát trùng, mấy cuộn băng gạc đã giặt phơi nhiều lần, nắm lá thuốc lào dùng để bịt miệng vết thương cầm máu, và đặc biệt là hai nồi cháo hoa đặc quánh nấu với gừng già đập dập mà các bà mẹ đang hối hả nhóm bếp trấu thổi lửa. Khi An cùng mấy chị em khiêng nồi cháo và túi cứu thương leo lên được đỉnh đê cống Vực, một cảnh tượng hãi hùng bày ra trước mắt. Gió bão gầm rít như muốn bốc tung cả ngọn đê. Dưới ánh sáng nhập nhèm của mấy chục cây đuốc nứa và hai chiếc đèn măng-xông treo lủng lẳng trên cọc tre, dòng sông Đáy hiện lên như một con thủy quái khổng lồ hung tợn. Nước đỏ quạch phù sa, gầm gào sủi bọt trắng xóa, từng đợt sóng ngầu bọt chồm lên, đập thình thịch vào sườn đê bối, chỉ chực nuốt chửng lấy con trạch đất mỏng manh. Ở khúc cua cống Vực, đất bờ đê phía ngoài sông đã bị khoét thành một hàm ếch sâu hoắm. Nguy hiểm hơn cả, dưới chân mái đê phía trong đồng, nước lũ bắt đầu rỉ qua các kẽ đất, tạo thành những “mạch đùn”, “mạch sủi” liên tục ùng ục phun lên từng vòi nước đục ngầu cát mịn. Đó là dấu hiệu tử thần: ruột đê đang bị xói mòn, chỉ cần vài chục phút nữa thôi, thân đê sẽ rỗng ruột và đổ sụp trong nháy mắt. Trên mặt đê, Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát đầu trần ướt sũng, chiếc áo bốn túi dính bết vào người, tay cầm chiếc loa sắt tây gào rách cả họng: “Đồng chí nào khỏe mạnh xuống đóng cọc tre! Chèn bao cát lại! Tuyệt đối không được lùi bước! Mất cống Vực là mất cả vựa lúa, mất danh hiệu xã điểm của huyện! Quyết tử giữ đê!” Nhưng giữa dòng nước xoáy gầm thét dữ dội ngập quá thắt lưng, sức người dường như quá bé nhỏ. Những thanh niên xung kích lội xuống đều bị sóng đánh dạt vào bờ, chới với không cắm nổi cọc. Đúng lúc ấy, một bóng người vạm vỡ, c** tr*n để lộ bờ vai rộng cuồn cuộn cơ bắp, đang đứng sừng sững giữa dòng nước xiết ngập ngang ngực. Đó là Trần Bình. Anh ngâm mình dưới dòng phù sa lạnh buốt, một tay ghì chặt lấy cây cọc tre đực ngâm già cùi to bằng bắp tay, một tay vung chiếc vồ gỗ lim nặng trịch. Nước lũ quất vào mặt anh từng chập bọt trắng xóa, bết những sợi tóc ướt đẫm vào vầng trán cương nghị. “Anh em Đội 3! Nghe tôi!” Giọng Bình sang sảng, đanh gọn át cả tiếng gầm của sóng gió. “Đừng cắm cọc đơn lẻ, nước xô gãy hết! Kết ba cọc thành hình kiềng ba chân! Thả rồng rơm dằn đáy trước, đóng cọc sau! Thằng Hùng, thằng Thao ghì mép ngoài, tôi giữ chân cọc! Nện vồ theo nhịp còi của tôi!” “Một... hai... Nện!” “Chát... cộp!” Chiếc vồ gỗ trong tay Bình giáng xuống dứt khoát. Cây cọc tre ngập sâu từng tấc vào lớp bùn đáy sông. Nước lũ chồm lên ngực anh, bọt nước bắn tung tóe. Bình nghiến răng ken két, từng thớ thịt trên cánh tay và lưng anh gồng lên như sắt nguội. Dưới làn nước đục ngầu, An không nhìn thấy nhưng cô biết chắc, đôi chân anh — đặc biệt là bên chân thương tật — đang phải cắm chặt xuống đáy bùn lún sụt trơn trượt để làm điểm tựa cho đồng đội. Cứ mỗi nhịp vồ giáng xuống, thân hình Bình lại khẽ giật lùi vì phản lực và sự đau đớn. Những tảng đất sạt lở từ thân đê chốc chốc lại ụp xuống, bùn non quết đen nhẻm khắp khuôn mặt sương gió của anh. An đứng trên bờ đê, hai bàn tay siết chặt lấy quai túi thuốc cứu thương đến trắng bệch. Tim cô thắt lại từng cơn, nhói buốt như có ai dùng kim châm muối xát. Người đàn ông ấy, người lính từng đi qua mưa bom bão đạn ở chiến trường, khi trở về làng quê vẫn luôn là người đầu tiên lao mình vào nơi hiểm nguy nhất, dùng chính da thịt của mình làm thành lũy chắn sóng cho bà con. “Mau! Đưa rồng rơm xuống! Chèn thêm bao đất vào sau lưng đồng chí Bình!” Chủ nhiệm Khoát hét lớn, hoa chân múa tay chỉ trỏ. Xã viên Đội 3 được sự chỉ huy và gương can trường của Bình làm cho vững dạ. Mấy chục thanh niên trai tráng hò dô nhảy ào xuống dòng nước, kết thành một bức tường người che chắn sóng. Những chiếc “rồng rơm” — rơm rạ bện chặt thành từng con cúi dài như con trăn khổng lồ nhồi đầy đất đá — được hàng chục cánh tay hợp lực lăn xuống mép sông để chặn dòng nước xoáy khoét chân đê. Mưa vẫn như trút nước. Trên mặt đê, An không cho phép bản thân yếu lòng. Cô nhanh chóng phân công chị Đượm và các cô gái trong xóm: “Chị Đượm, chia các chị ra làm hai nhóm! Nhóm một tiếp tục xúc đất vào bao tải dứa, nhớ trộn thêm rơm vụn để đất kết dính, không bị nước xói rửa trôi! Nhóm hai mang thùng nước gừng nóng và cháo ra sát mép đê, ai kiệt sức kéo lên phải cho uống ngay để chống trụy tim vì nhiễm lạnh!” Bản thân An lao ngay xuống các vị trí có mạch đùn ở chân đê phía trong làng. Nhìn những lỗ sủi bọt đang đùn cát lên ùng ục, cô lập tức nhớ đến nguyên lý cân bằng áp lực thủy tĩnh trong công trình thủy lợi: “Bác Khoát! Không được lấy đất bùn bịt kín lỗ rò mạch đùn!” An hét lớn gọi Chủ nhiệm Khoát khi thấy một nhóm xã viên đang hoảng hốt đổ cả xe bùn nhão vào miệng hố nước. Ông Khoát trợn mắt, quát át đi: “Cô An biết cái gì! Nước nó xì ra thì phải lấy đất đắp chặt lại chứ để nó phá toang đê à?” “Lấy đất bịt chặt, áp lực nước ngầm không thoát được sẽ phá bục cả mảng đê phía sau!” An dứt khoát giằng lấy chiếc xẻng sắt, giọng cô đanh thép, bình tĩnh đến lạ thường giữa cơn hoảng loạn. “Phải làm tầng lọc ngược! Đổ đá dăm hoặc rơm rạ rải xuống đáy lỗ đùn trước, sau đó chèn bao cát sỏi lên trên tạo thành một cái giếng bao quanh! Để nước trong chảy tràn ra ngoài nhưng giữ hạt cát, hạt đất lại trong ruột đê! Giữ được cát là giữ được đê!” Mấy bác nông dân có kinh nghiệm trị thủy lâu năm nghe An nói vanh vách, nhìn lỗ rò quả nhiên sau khi bị bịt bùn lại phình to hơn ở vị trí bên cạnh, liền gật đầu lia lịa: “Đúng đấy bác Khoát ơi! Kinh nghiệm cha ông ngày xưa gọi là 'đắp giếng đón mạch' đấy! Con bé An nó nói chí phải!” Chủ nhiệm Khoát ngớ người, nhìn làn nước đang xì mạnh dưới chân, đành vung tay: “Được rồi! Nghe cô An! Gom hết rơm rạ với sọt tre lại đây làm giếng đón mạch!”Nhờ sự can thiệp kỹ thuật kịp thời của An, năm miệng mạch đùn nguy hiểm nhất dưới chân cống Vực nhanh chóng được khống chế. Nước thoát ra ngoài đã dần trong vắt, không còn cuốn theo cát thịt của thân đê nữa. Mối nguy vỡ ngầm tạm thời được chặn đứng. Nhưng trận chiến ngoài mặt sông vẫn vô cùng khốc liệt. Đến khoảng ba giờ sáng, dòng nước lũ từ thượng nguồn đột ngột dâng vọt lên thêm một đợt nữa. Một con sóng dữ ập tới, cuốn phăng chiếc cọc tre ngoài cùng và đánh bạt hai thanh niên Đội 3 ngã chúi xuống dòng nước xiết. “Cứu... cứu tôi với!” Bình phản ứng nhanh như một tia chớp. Anh buông chiếc vồ, lao người theo dòng nước, một tay túm chặt lấy quai áo người thanh niên sắp bị dòng nước xoáy cuốn ra lòng sông, một tay vươn ra móc chặt vào mấu cọc tre còn lại. Sức giật khủng khiếp của dòng lũ kết hợp với trọng lượng của hai người đàn ông khiến toàn bộ cơ thể Bình căng cứng. “Bình ơi! Cố lên con ơi!” Tiếng bà con trên bờ gào khóc thảm thiết. “Dây thừng! Ném dây thừng xuống!” An thét lên, tiếng thét xé toạc cả cuống họng. Cô giật lấy cuộn dây thừng bện bằng vỏ bao đay bên cạnh trạm cứu thương, quấn một đầu vào gốc đa cổ thụ bên đ**m canh, đầu kia buộc vào chiếc phao làm bằng can dầu hỏa rỗng rồi dùng hết sức bình sinh ném mạnh ra mé sông. Chiếc can nhựa trôi đúng tầm tay Bình. Anh chộp lấy, quấn dây quanh cổ tay rồi gầm lên một tiếng, dùng hết chút tàn lực kéo người đồng đội trẻ vào sát chân cọc tre. Trên bờ, hàng chục cánh tay cùng hợp lực ghì chặt sợi dây thừng, kéo cả hai người đàn ông vượt qua mép nước tử thần, leo lên được mặt đê trơn trượt. Người thanh niên nọ sau khi được kéo lên thì sặc sụa nôn ra toàn nước phù sa, ngất lịm đi vì kiệt sức. Còn Bình, anh vừa đặt chân lên dốc đê thì cả thân hình cao lớn bỗng lảo đảo, rồi ngã quỵ xuống lớp bùn nhão nhoét. “Anh Bình!” An vứt bỏ chiếc đèn bão, trượt dài trên dốc đê trơn như đổ mỡ, lao thẳng đến bên cạnh anh. Dưới ánh đuốc chập chờn, Bình nằm nghiêng trên nền đất ướt, lồng ngực vạm vỡ phập phồng dữ dội, hơi thở hắt ra đứt quãng, nóng hổi và dồn dập. Toàn thân anh run lên bần bật vì ngâm nước quá lâu giữa đêm đông lạnh buốt, nhưng trán anh lại nóng ran như hòn than đỏ. Ánh mắt An rơi xuống bắp chân trái của Bình, và trái tim cô như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt. Vết sẹo chiến trường dài ngoằng ở bắp chân anh đã bị cọc tre hoặc đá ngầm cào rách toang một vệt dài, máu đỏ tươi tứa ra, hòa lẫn với lớp bùn non đen đúa và nước sông Đáy bẩn thỉu. Miệng vết thương sưng vù, tím tái, các thớ cơ xung quanh co giật từng hồi đau đớn. Bàn chân anh tái nhợt, lạnh ngắt như chân người chết. “Mau khiêng anh ấy vào lán!” An nghẹn ngào hét lên, giọng cô vỡ vụn giữa tiếng gió rít. Mấy thanh niên xốc nách Bình đưa anh vào trong gian lán bạt dã chiến được che tạm bằng mấy tấm phên nứa dưới chân đê. Ánh lửa từ chiếc bếp trấu hắt lên khuôn mặt phong trần của người lính, làm lộ rõ nét tiều tụy, đôi môi thâm sì vì lạnh và hàm răng đang nghiến chặt để kìm nén cơn đau buốt tận tủy xương. An quỳ sụp xuống bên cạnh Bình. Bàn tay cô run rẩy khi mở túi thuốc cứu thương, nhưng rất nhanh sau đó, bản lĩnh của một người làm khoa học đã kéo cô trở lại sự điềm tĩnh cần thiết. Cô biết, trong điều kiện vệ sinh tồi tệ thế này, một vết thương rách sâu do cọc tre bẩn ngâm nước lũ rất dễ dẫn đến hoại tử, nhiễm trùng huyết hoặc uốn ván — những bản án tử hình đối với y tế nông thôn thời bấy giờ. “Chị Đượm! Lấy cho em gáo nước mưa sạch đun sôi để nguội! Mau lên!” An nhanh chóng xé toạc ống quần ướt sũng của Bình để lộ toàn bộ vết thương. Cô dùng nước sạch rửa trôi từng lớp bùn đất bám chặt vào miệng vết rách. Mỗi lần miếng gạc chạm vào da thịt, thân hình vạm vỡ của Bình lại khẽ giật bắn lên, mồ hôi lạnh toát ra đầm đìa trên trán hòa cùng nước mưa, nhưng anh tuyệt nhiên không thốt ra một tiếng r*n r*. Bình hé mở đôi mắt đỏ ngầu tơ máu, nhìn cô gái đang quỳ bên chân mình. Ánh mắt An chăm chú, đôi lông mày thanh tú chau lại đầy vẻ xót xa, những ngón tay mềm mại thoăn thoắt lau rửa vết thương cho anh dù chính đôi bàn tay ấy cũng đang run lên vì lạnh. “Cô An... tôi không sao đâu...” Bình thều thào, giọng khàn đặc như nghẹn lại nơi cổ họng. “Chỉ là xây xát ngoài da thôi... Ngoài đê... anh em đóng xong hàng cọc ba chạc chưa?” “Anh im ngay cho em!” Lần đầu tiên, An gắt lên với anh. Đôi mắt sáng thông minh của cô giờ đây ầng ậng nước, long lanh dưới ánh lửa bập bùng. Giọng cô vừa giận dữ, vừa nghẹn ngào chứa chan nỗi xót xa không thể che giấu: “Anh coi cái mạng của anh rẻ rúng thế à? Vết thương cũ mưng mủ, rách toạc vào tận cơ thế này mà anh bảo xây xát ngoài da? Anh muốn cái chân này bị cưa đi, muốn nằm liệt một chỗ suốt đời hay sao mà còn hỏi cọc với đê?” Bình sững sờ. Nhìn những giọt nước mắt lăn dài trên gò má lấm lem bùn đất của An, trái tim người lính kiên cường bỗng chốc mềm nhũn ra. Anh khẽ mấp máy môi, muốn đưa bàn tay chai sần lên lau nước mắt cho cô, nhưng nhìn bàn tay mình đầy bùn đất và trầy xước, anh lại ngập ngừng rụt lại. “Tôi là đội trưởng... lại là đảng viên, là bộ đội phục viên...” Bình nhìn thẳng vào mắt An, ánh mắt trầm tĩnh, đượm buồn nhưng kiên định như bàn thạch. “Nếu tôi sợ đau, sợ chết mà lùi lại một bước, anh em dân quân sẽ rụng chí ngay. Sau lưng con đê này là cả làng An Hòa... có mẹ tôi, có thầy u cô, có từng hạt thóc củ sắn mà bà con chắt chiu cả năm trời... Tôi không thể lùi được, An ạ.” Nghe hai chữ “An ạ” thốt ra từ đáy lòng anh thay vì tiếng gọi “cô An” xa cách thường ngày, lồng ngực An như có một ngọn lửa ấm áp bùng lên, xua tan đi cái lạnh thấu xương của đêm mưa bão. Cô hiểu anh. Người đàn ông này mang trong mình trách nhiệm nặng tựa thái sơn, một lòng vì tập thể, vì làng xóm, dù có phải trả giá bằng máu thịt cũng không một lời than vãn. An hít một hơi thật sâu, nén giọt nước mắt chực trào vào trong. Cô cẩn thận rắc một lớp bột sulfamid kháng sinh quý giá nghiền mịn lên miệng vết thương, đắp một lớp lá thuốc lào tẩm cồn đỏ để cầm máu và sát khuẩn, rồi dùng mảnh vải dù màu pháo sáng — kỷ vật chiến trường mà anh từng dùng băng tay cho cô dạo nọ — băng bó thật chặt vết thương lại. Xong xuôi, cô bưng bát cháo hoa bốc khói nghi ngút, thơm nồng mùi gừng già và muối hột đến bên miệng anh: “Uống hết bát cháo này đi cho ấm người. Uống xong, nằm yên ở đây cho thuốc ngấm. Nếu anh còn gượng dậy nhảy xuống sông nữa, em sẽ... em sẽ không bao giờ nhìn mặt anh nữa!” Bình nhìn vẻ mặt vừa giận dỗi vừa kiên quyết của An, nơi khóe môi thâm sì bỗng khẽ nhếch lên một nụ cười đầm ấm hiếm hoi. Anh ngoan ngoãn há miệng, nuốt từng thìa cháo nóng hổi do chính tay cô bón. Vị cay nồng của gừng, vị ngọt bùi của gạo mới và hơi ấm từ bàn tay An dường như truyền thẳng vào lồng ngực, đánh thức từng luồng sinh khí đang cạn kiệt trong cơ thể người lính. Bên ngoài lán, tiếng hò reo của hàng trăm xã viên bỗng vang dội át cả tiếng mưa gió: “Gia cố xong rồi! Hàng cọc kiềng ba chân giữ được rồng rơm rồi!” “Đắp xong con trạch rồi các bác ơi! Nước sông bắt đầu rút rồi!” Trời dần về sáng. Những tia sáng xám xịt đầu tiên của ngày mới nhọc nhằn xuyên qua màn mây mù đặc quánh. Gió bão dường như đã đuối sức, mưa bắt đầu ngớt hạt, chỉ còn lại những hạt mưa phùn giăng giăng trên triền đê. Con đê bối cống Vực sau một đêm kinh hoàng đã được đắp cao thêm hai gang tay bằng hàng ngàn bao tải đất và một bờ thành cọc tre vững chãi. Dòng sông Đáy hung hãn đã bị chặn đứng lại bên ngoài, mực nước bắt đầu chững lại rồi từ từ hạ bớt. Mọi người kiệt sức ngã vật ra trên mặt đê lầy lội, bùn đất dính từ đầu đến chân, nhưng trên gương mặt ai nấy đều rạng rỡ nụ cười của sự sống sót. Họ đã giữ được đê, giữ được tính mạng và xóm làng qua cơn đại hồng thủy. Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát thở phì phò, ngồi bệt xuống một bao cát ướt sũng, đưa tay lau mồ hôi hòa lẫn nước mưa trên trán, giọng run run: “Sống rồi... Cả làng sống rồi... Đội 3 lập công lớn rồi!” An đứng bên cửa lán, nhìn ra dòng sông đang dần hiền hòa trở lại, trút một hơi thở phào nhẹ nhõm. Cô quay lại nhìn Bình; anh đã thiếp đi trong một giấc ngủ chập chờn vì kiệt sức, bàn tay gân guốc vẫn nắm chặt lấy vạt áo tơi lá cọ của cô như một điểm tựa vô thức. Khóe mắt An khẽ cong lên một nụ cười bình yên. Trận chiến gian nan nhất dường như đã trôi qua... Thế nhưng, niềm thanh thản ngắn ngủi ấy vừa mới nhen nhóm thì bỗng nhiên, từ con đường trục chính dẫn vào trung tâm làng, một bóng người lướt bùn chạy thục mạng tới. Đó là Cần, anh nhân viên thủ kho hợp tác xã. Chiếc áo cộc tay của Cần rách tả tơi, chân đi không bén đất, khuôn mặt cắt không còn giọt máu, vừa chạy vừa vung hai tay lên trời gào thét thất thanh: “Bác Khoát ơi! Anh Bình ơi! Nguy to rồi! Vỡ bờ vùng Đầm Lội rồi!” Tiếng thét như sét đánh ngang tai làm tất cả những người đang kiệt sức trên mặt đê giật bắn mình nhỏm dậy. Cần ngã nhào xuống chân dốc đê, mồm ngậm đầy bùn đất, ho sặc sụa nhưng vẫn cố ngửa cổ lên, giọng khóc rống lên kinh hoàng xé toạc bầu không khí tang tảng sáng: “Nước lũ tràn qua bờ vùng... Mái ngói khu kho bị lốc xoáy giật sập toang rồi! Nước đang tràn thẳng vào kho dự trữ sắn lát với ngô giống tập thể rồi các bác ơi!” , , vn, live , vn

Bạn cũng là tác giả hoặc dịch giả?

Đăng sáng tác hoặc bản dịch của riêng bạn lên Say Truyện — miễn phí, chỉ mất vài phút.

Đăng truyện ngay

Bình luận (0)

Đang tải bình luận...