Xuyên không thập niên 70
Chương41: Lửa giận ống nung
Cỡ chữ
Khói nóng đặc quánh mang theo tàn lửa đỏ lừ từ gầm bệ sấy cuộn thốc lên, tạt thẳng vào mặt những người đứng gần nhất. Tiếng rạn vỡ lách tách từ sâu trong lòng đất nung mỗi lúc một dồn dập, tựa như tiếng xương khớp bị vặn gãy dưới sức ép nghìn cân.
Trong khoang tối, khối nhiệt lượng khổng lồ bị giam hãm đang gầm réo, tìm đường phá vỡ mọi chướng ngại.
“Chạy mau! Nó nổ tung vách bây giờ!”
Mấy xã viên Đội 1 hoảng hốt quăng cả đòn gánh, chân vấp vào thúng mủng lảo đảo tháo lui về phía cửa kho. Cảnh tượng hỗn loạn chực bùng lên giữa bốn bề bao tải thóc đang bốc mùi chua nồng.
“Đứng yên đấy! Ai cho phép chạy!”
Một tiếng thét đanh thép như lệnh phát hỏa giữa chiến hào vang lên xé toạc bầu không khí hoảng loạn. Trần Bình sải những bước dài vững chãi, chiếc chân tập tễnh ghim chặt xuống nền đất nện. Anh vớ lấy chiếc xẻng sắt dựng bên góc tường, cả người lao thẳng về phía cửa lò đốt ngầm đang phì phì nhả khói.
“Dân quân đâu! Không một ai được bỏ vị trí! Chú Sáu, chặn ngay luồng gió!”
Một thanh niên dân quân mặt cắt không còn giọt máu, cuống cuồng níu lấy tay Bình: “Anh Bình, lấy thùng nước tạt vào dập lửa thôi! Không là cháy hết cả kho!”
“Không được đổ nước!”
Hoài An thất thanh kêu lên, giọng khản đặc nhưng sắc bén lạ thường. Cơn buồn nôn dữ dội từ đáy dạ dày vừa ập lên cuống họng khiến ngực cô nghẹn ứ, đôi mắt hoa lên từng chặng, nhưng bộ óc của người kỹ sư thực nghiệm lập tức gióng lên hồi chuông cảnh báo. Cô gạt vội bím tóc đang bết chặt vào vòm má ướt đẫm mồ hôi, bước nhanh tới chắn trước xô nước:
“Đất nung đang ở nhiệt độ hàng trăm độ, đổ nước lạnh vào là sốc nhiệt nứt toác ngay lập tức! Lúc đó lò nổ tung thật sự, năm mươi ống cống vỡ vụn thì thần tiên cũng không cứu nổi!”
Bình liếc mắt nhìn vợ, ánh nhìn sắc bén của người lính lập tức bắt trọn ý tứ trong lời cô. Anh không một giây chần chừ, gầm lên:
“Nghe cô An! Không tạt nước! Toàn bộ lấy xỉ than nguội với đất cát khô đổ ụp vào miệng buồng trấu! Cắt nguồn dưỡng khí!”
“Khoa, nhảy xuống dắt chiếc xe đạp lùi ra xa!” An vừa th* d*c vừa chỉ huy tiếp, hai tay cô nắm chặt mép bàn gỗ để giữ cho thân mình khỏi ngã quỵ. “Lấy bao tải gai nhúng nước suýt ướt, đắp kín toàn bộ cửa hút gió buồng nhiệt bên hông! Bịt kín lại để triệt tiêu luồng đối lưu! Mau lên!”
Mệnh lệnh rành rọt, chuẩn xác của hai vợ chồng như một liều thuốc định thần giữa cơn giông bão. Không khí hỗn loạn lập tức biến thành guồng quay kỷ luật.
Khoa lau vội dòng mồ hôi cay xè nơi khóe mắt, nhảy phốc khỏi yên xe Thống Nhất, ghì chặt gióng xe lôi giật ngược ra ngoài. Chú Sáu thợ rèn cùng ba dân quân khỏe mạnh xúc từng xẻng xỉ than mục và tro nguội hắt phủ đầu lên lớp trấu đang cháy ngùn ngụt dưới đáy lò.
Bình lao đến bên bể nước mưa ngoài cửa kho, vần trọn ba tấm bao tải gai dày cộp dìm xuống làn nước lạnh ngắt, rồi một mình vác khối bao ướt sũng nặng trĩu lao ngược trở vào. Lưng áo trấn thủ của anh ướt đẫm, bắp tay cuồn cuộn gân xanh khi anh đập mạnh từng tấm bao ướt phủ trùm lên cửa hút gió tôn mạ.
Xèo! Xèo!
Hơi nước bốc lên mù mịt kèm theo mùi vải bố khét lẹt. Thiếu oxy, ngọn lửa trấu đỏ rực bên dưới đáy lò dần lịm đi, chuyển sang màu đỏ thẫm rồi chỉ còn khói xám âm ỉ. Áp suất dồn ứ trong hệ thống ống ngầm dịu bớt, không còn những tiếng rít chói tai của dòng khí nóng bị nghẽn nghẹt. Vách buồng sấy bằng gạch mộc từ từ ngừng rung chuyển.
Một khoảng im lặng chết chóc bao trùm gian kho. Chỉ còn tiếng th* d*c nặng nhọc của mười mấy con người và tiếng mưa phùn nồm ẩm vẫn dai dẳng gõ đều đều trên mái ngói sông Cầu.
Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát run rẩy bước lại gần, chiếc bút máy Kim Tinh cài trên túi áo rơi tuột xuống đất lúc nào không hay. Ông nhìn lớp bao tải ướt đang bốc khói nghi ngút, giọng run run:
“Kịp... dập kịp rồi à? May quá, trời đất phù hộ...”
Nhưng chưa kịp để vị chủ nhiệm thở phào, chú Sáu lò rèn đã dùng chiếc kìm sắt cạy tấm nắp tôn kiểm tra bên hông buồng dẫn khí. Một làn hơi nóng hầm hập phả ra. Chú thò đèn dầu soi vào trong, rồi chép miệng thở dài sườn sượt:
“Hỏng rồi... Cánh quạt gỗ xoan gãy đôi, một nửa găm chặt vào thành tôn vênh hết cả mép quạt. Chỗ khớp nối ống đất nung số bốn với số năm nứt toác một đường dài bằng bàn tay, khói trấu bám đen kịt. Cái lò này... liệt rồi!”
Lời chú Sáu như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào hy vọng vừa nhen nhóm của mọi người.
“Liệt... liệt là thế nào?” Ông Khoát tái mặt, giọng lạc đi. “Cả kho còn gần bốn mươi tấn thóc nứt nanh nằm chờ chết ngoài kia! Bộ đội trên Lạng Sơn, Quảng Ninh đang đổ máu từng giờ, từng phút chờ lương thực! Bốn ngày nữa không có năm mươi tấn thóc khô sạch giao cho Huyện đội thì tôi... tôi lấy cái đầu này ra mà đền tội trước Đảng, trước nhân dân à?”
Sự tuyệt vọng lại một lần nữa bóp nghẹt bầu không khí. Mấy bác xã viên lớn tuổi rầu rĩ ngồi bệt xuống bao thóc, đưa ống tay áo nâu vá chằng vá đụp lên lau mặt.
Hoài An tựa lưng vào cột gỗ lim của gian kho, bụng dưới bỗng nhói lên một cơn đau âm ỉ. Bào thai chưa đầy hai tháng tuổi dường như đang cựa mình phản ứng trước sự căng thẳng tột độ của người mẹ. Cổ họng cô đắng chát, vị chua của cơn nghén dâng lên tận mang tai khiến mặt mày cô xây xẩm.
“An, em sao thế? Để anh đưa em về trạm xá!”
Bình buông chiếc xẻng sắt, bước vội đến bên cô. Bàn tay to bè, thô ráp đầy vết chai sần của anh đỡ trọn lấy bờ vai mảnh khảnh của vợ. Khi chạm vào vầng trán lạnh ngắt lấm tấm mồ hôi của cô, mắt anh thắt lại vì xót xa.
“Em không sao...” An hít một hơi thật sâu, nén cơn choáng váng xuống đáy lòng. Bàn tay nhỏ bé của cô siết chặt lấy cổ tay áo dính đầy bùn than của Bình. “Bình, em không về được. Thóc chưa khô, em tuyệt đối không thể về!”
Cô nhìn thẳng vào mắt chồng, ánh mắt kiên định đến mức khiến một người lính dạn dày khói lửa như Bình cũng phải chấn động. An quay sang nhìn chú Sáu và ông Khoát, giọng nói cất lên tuy có phần yếu ớt nhưng từng chữ đều rành mạch:
“Gỗ xoan có thớ mềm, ngậm nước nhiều. Khi gặp luồng nhiệt khô tăng đột ngột lên năm mươi, sáu mươi độ, nước trong thớ gỗ bốc hơi nhanh làm nó co ngót không đều, cong vênh rồi va vào vách buồng quạt mà gãy. Đó là lỗi tính toán vật liệu của cháu, không phải do lò hỏng!”
“Nhưng giờ lấy đâu ra cánh quạt khác hả cô An?” Chú Sáu vò đầu bứt tai. “Đẽo cánh gỗ khác thì rồi nó cũng lại vênh, mà tiện cánh quạt sắt thì cả cái lò rèn của tôi đào đâu ra thép tấm mỏng giữa cái lúc ngặt nghèo này?”
“Không dùng gỗ, cũng không cần thép dày!” Đôi mắt An sáng bừng lên giữa gương mặt xanh xao. Trí nhớ của một kỹ sư công nghệ bách khoa lập tức rà soát toàn bộ những vật liệu hiện có trong thời kỳ bao cấp thiếu thốn này. Cô quay sang Bình:
“Anh Bình, kho vũ khí của Trung đội Dân quân xã hôm nọ tiếp nhận hòm đạn pháo cao xạ ba mươi bảy ly của Tỉnh đội gửi về, vỏ các hòm đạn bằng sắt tây tráng kẽm đúng không anh?”
Bình ngẩn người một thoáng, rồi lập tức vỗ mạnh vào đùi:
“Đúng rồi! Vỏ hòm đạn phòng không bằng tôn tráng kẽm dập gân! Cực kỳ dai, chịu nhiệt tốt, lại không bao giờ cong vênh vì nhiệt!”
“Chính nó!” An gật đầu dứt khoát. “Tôn hòm đạn dày khoảng một ly hai, vừa đủ độ cứng để không biến dạng dưới sức gió, lại vừa đủ nhẹ để xích líp xe đạp tải nổi mà không gãy trục. Chú Sáu, chú mang kéo cắt sắt với búa sang kho dân quân ngay! Cháu sẽ vẽ lại dưỡng cánh quạt theo hình cánh chuồn cong mép! Chiều dài hai mươi lăm phân, bản rộng mười hai phân, uốn góc đón gió ba mươi lăm độ!”
Chú Sáu nghe xong, hai mắt tròn xoe rồi đập tay đánh chát một cái: “Được! Cái kéo cắt tôn của tôi vẫn sắc lẹm! Nửa tiếng là gò xong bốn cánh sắc như dao cau!”
“Khoan đã cô An!” Ông Khoát sốt ruột chỉ vào buồng ống ngầm. “Thế còn mấy cái ống đất nung nứt toác kia thì tính sao? Đốt lại là khói trấu xộc thẳng lên làm ám khói hôi rình cả thóc giống, chưa kể áp lực nhiệt lại xé toác vết nứt ra!”
An mỉm cười nhạt, nụ cười toát lên vẻ tự tin của một người nắm vững đặc tính của đất đai đồng bãi:
“Bác Khoát đừng lo. Người xưa xây lò nung gốm, đắp lò rèn nghìn độ không có xi măng chịu nhiệt mà lò vẫn trơ trơ cùng tuế nguyệt, là nhờ bùn non và vôi cặn. Khoa, em chạy ra bờ ao sau kho, vét cho chị một gánh bùn non ngâm ngấu dưới đáy, loại bùn dẻo quánh không lẫn cát sỏi! Bác Mẫn, bác cho người lấy rơm rạ mục đem băm thật nhỏ như sợi tơ tằm! Trộn thêm hai bát vôi tôi đặc vào!”
Cô giảng giải cặn kẽ cho chú Sáu và mấy người thợ ngói:
“Bùn non hạt mịn làm chất nền, vôi tôi phản ứng với silic trong đất tạo thành liên kết silicat cứng như đá khi gặp nhiệt, còn rơm băm nát chính là những sợi cốt chịu lực, đan cài vào nhau giữ cho vữa không bị nứt xé khi co ngót! Trát hỗn hợp ấy vào vết nứt khi ống còn đang ấm nóng, nhiệt độ từ bên trong sẽ 'nung' luôn lớp vữa đó thành một khối sành liền mạch!”
Cả gian kho ồ lên một tiếng thán phục. Những kinh nghiệm ngỡ như dân dã vụn vặt, qua miệng cô An bỗng chốc trở thành một phương pháp bài bản, chặt chẽ không thể bẻ gãy.
“Rõ rồi! Đi làm ngay! Ai có việc nấy!” Bình vung tay phát lệnh.
Cả kho thóc Đội 3 lập tức bừng tỉnh như một công trường thời chiến. Không còn ai chần chừ hay than vãn. Tiếng bước chân chạy thình thịch trên nền đất, tiếng kéo cắt kim loại lách cách bên kho dân quân, tiếng đập búa đanh giòn của chú Sáu vang lên chan chát giữa màn mưa.
Khoa gánh về hai thùng bùn non đen nhánh, dẻo quánh như mật mía. An xắn tay áo định cúi xuống nhào vữa thì một bàn tay ấm áp đã giữ chặt lấy cánh tay cô.
Bình kéo cô lùi lại, ánh mắt nghiêm nghị xen lẫn dịu dàng:
“Để anh làm. Em ngồi xuống chiếc ghế đẩu kia, chỉ cần nhìn và chỉ bảo thôi. Em mà động tay vào bùn lạnh lúc này, anh cõng em về nhà ngay lập tức đấy.”
Nhìn vẻ mặt vừa bướng bỉnh vừa tràn ngập chở che của chồng, lòng An bỗng mềm lại. Cô khẽ mỉm cười, ngoan ngoãn ngồi xuống chiếc ghế con cạnh cột kho, đưa tay xoa nhẹ lên bụng áo bông. Một cảm giác an tâm kỳ lạ dâng lên. Có người đàn ông này đứng mũi chịu sào, trời có sập xuống anh cũng sẽ giơ vai ra gánh vác cho cô.
Bình cùng hai thanh niên dân quân đổ bùn non, vôi tôi và rơm băm mục ra góc sân có mái che. Đôi bàn chân trần vạm vỡ dẫm đạp thoăn thoắt, đôi tay vần từng tảng vữa dẻo quánh cho đến khi hỗn hợp nhuyễn mịn, dính chặt như keo dán sắt.
Bên cạnh, ngọn đèn măng-sông rực sáng chiếu rọi đôi bàn tay gân guốc của chú Sáu. Dưới những nhát búa điêu luyện, những tấm tôn kẽm xám xịt cắt ra từ vỏ hòm đạn pháo ba mươi bảy ly ngoan ngoãn uốn mình thành bốn chiếc cánh quạt cong vút, mép cánh được gập gờ tăng cứng tinh xảo theo đúng kích thước An vạch ra trên nền đất.
“Xong bộ cánh quạt tôn rồi cô An ơi!” Chú Sáu reo lên, mồ hôi nhễ nhại trên trán dù ngoài trời gió bấc đang thổi hun hút.
“Khéo lắm chú Sáu! Lắp vào trục chữ thập, siết chặt ốc hãm có chêm long-đen bằng cao su xăm xe đạp để chống rung!” An đứng dậy, cẩn thận quan sát từng chi tiết.
Đích thân Bình chui nửa người vào gầm buồng sấy hẹp và nóng hầm hập. Dưới ánh đuốc bùi nhùi le lói, anh dùng bay gỗ miết từng lớp vữa bùn rơm đặc quánh vào các vết nứt của ống đất nung. Lớp vữa gặp thành ống còn ấm lập tức bốc hơi xèo xèo, bám chặt khít rịt vào thân sành, láng mịn không để hở một kẽ kim nào.Đúng nửa đêm, mọi công đoạn sửa chữa hoàn tất.
Hệ thống khung quạt tôn được bắt chặt vào khung xe Thống Nhất. Ống khói được gia cố thêm hai thanh giằng bằng tre đực cắm sâu xuống nền đất. Toàn bộ vỉ sấy tre nứa được kiểm tra lại khoảng cách, bảo đảm cách mặt ống nhiệt đúng bốn mươi phân an toàn.
“Đồng chí Khoa, lên xe đạp thử không tải!” Bình lau vệt bùn trên trán, trầm giọng ra lệnh.
Khoa hít một hơi thật sâu, ngồi lên yên xe, nhấn mạnh bàn đạp.
Líp xe rít lên êm ru. Trục quay chuyển động mượt mà. Bốn cánh quạt bằng tôn hòm đạn chém vào không khí tạo nên những tiếng gió rít “vù... vù... vù...” trầm hùng, chắc nịch, hoàn toàn không còn tiếng rung lắc hay cọ quẹt kim loại như trước. Luồng gió lạnh từ ngoài khoang bị hút thốc vào lồng tôn, tạo thành một luồng lốc xoáy nhân tạo mạnh mẽ.
“Cân bằng động rất tốt!” An thở phào, mắt ánh lên niềm vui sướng tột cùng. “Nhóm lửa buồng trấu lại! Lần này cho trấu vào từ từ, mở hé cửa gió một phần ba để nhiệt lên đều đặn!”
Lửa đỏ lại bùng lên trong buồng đốt ngầm. Khói đen theo ống khói cao vút xả thẳng lên trời đêm, hòa vào màn mưa phùn mịt mùng. Dưới gầm buồng sấy, năm mươi ống cống đất nung đỏ ửng lên trong bóng tối. Lớp vữa bùn rơm trát kín các vết nứt gặp nhiệt khô cứng lại nhanh chóng, biến thành một lớp men gốm xám tro đanh chắc, không rỉ ra một tia khói hay tàn lửa nào.
Luồng gió thổi qua lòng ống nóng ran, biến thành một luồng nhiệt khô rực rỡ, cuồn cuộn thổi bốc ngược lên vỉ sấy.
Năm tạ thóc ẩm rải trên mặt phên bắt đầu “thở”.
Hơi nước bị nhiệt c**ng b*c đẩy ra khỏi hạt lúa, kết thành một màn sương trắng mờ mờ bốc nghi ngút lên xà nhà rồi thoát ra ngoài qua các ô thoáng. An bước tới, áp hai lòng bàn tay vào sâu trong lớp thóc dày ba mươi phân.
Nóng ran, khô ráo và ấm áp.
Cô rút bàn tay ra, đưa lên mũi ngửi rồi miết nhẹ hai đầu ngón tay. Vỏ trấu ráp ráp, kêu xào xạc giòn tan. Hạt thóc bên trong không hề bị nứt nanh thêm, phôi mầm đã ngừng phát triển hoàn toàn dưới tác động của nhiệt độ được kiểm soát chuẩn xác ở mức năm mươi lăm độ C. Tinh bột gạo bên trong được bảo tồn nguyên vẹn, không hề bị hồ hóa hay gãy vụn như khi rang trên chảo gang.
“Nhiệt độ chuẩn rồi!” An quay lại nhìn mọi người, nụ cười rạng rỡ bừng nở trên khuôn mặt thanh tú. “Thóc đang khô rất đều! Đợt sấy này thành công rồi bà con ơi!”
Một tiếng reo hò bị kìm nén suốt mấy tiếng đồng hồ bỗng nổ tung trong gian kho.
Ông Khoát hai tay run rẩy ôm chầm lấy Bình, rồi lại quay sang nhìn An, khóe mắt nhăn nheo của người cán bộ già ứa ra hai giọt lệ:
“Được rồi... Được cứu rồi! Đội 3 ơi, chúng ta thắng rồi!”
Không để lãng phí dù chỉ một giây, Bình lập tức bước lên bục gỗ giữa kho, giọng nói sang sảng chỉ huy:
“Tất cả chú ý! Thời gian của chúng ta không còn nhiều! Tôi phân công lịch trực chiến lò sấy hai mươi tư trên hai mươi tư như sau: Dân quân tự vệ và thanh niên chia làm bốn ca, mỗi ca sáu người luân phiên nhau đạp guồng quạt, mỗi người đạp mười lăm phút đổi chân một lần! Chú Sáu phụ trách kỹ thuật lò trấu, bảo đảm lửa cháy đều không ngắt quãng! Đội phụ nữ do chị Đượm chỉ huy chịu trách nhiệm cào đảo thóc trên mặt vỉ nửa tiếng một lần, và đóng bao chuyển thóc khô ra góc kho!”
“Rõ!” Tiếng đáp vang dội của hàng chục con người đồng lòng át cả tiếng mưa gió bên ngoài.
Guồng quay lao động thời chiến bắt đầu vận hành với tốc độ nghẹt thở.
Chiếc xe đạp Thống Nhất không bánh biến thành cỗ máy anh hùng của toàn xã An Hòa. Hết Khoa đến Thao, rồi các thanh niên Đội 1, Đội 3 thay nhau nhảy lên yên xe. Những đôi chân rắn rỏi, gân guốc đạp phăng phăng trong tiếng líp rít giòn giã. Mồ hôi vã ra như tắm, lưng áo các chàng trai ướt sũng dính chặt vào da thịt, nhưng ánh mắt ai nấy đều rực lửa quyết tâm. Dưới chân họ không chỉ là bàn đạp xe, mà là sự sống còn của hàng chục tấn lương thực, là bát cơm nóng của những người lính ngoài mặt trận biên cương.
An không chịu về nghỉ. Cô kê chiếc chõng tre nhỏ ngay góc kho, chốc chốc lại gượng dậy đến bên buồng sấy, dùng chiếc nhiệt kế bọc vỏ gỗ đo luồng khí nóng, nhắc nhở chị em đảo đều lớp thóc mặt trên xuống đáy.
Bà cụ Mẫn cùng chị Đượm gánh một nồi nước chè xanh gừng tươi nóng hổi sang kho. Hương chè xanh chát ngọt quyện với vị cay nồng của gừng già làm ấm lòng những người đang căng mình chống nồm.
Bà cụ Mẫn bước đến bên con dâu, âu yếm vuốt lại mái tóc mai ướt mồ hôi của An, giúi vào tay cô một củ khoai lang nướng lùi tro còn nóng hổi:
“Ăn chút đi con, lót dạ cho đỡ cồn ruột. Thằng bé trong bụng nó cũng đang đói đấy. Con dâu của u giỏi lắm, cả họ nhà này, cả cái xã này mang ơn con.”
An cắn một miếng khoai bùi ngọt, vị ấm nóng lan tỏa khắp lồng ngực làm vơi đi phần nào nỗi mệt nhọc rã rời. Cô nhìn mẹ chồng, nhìn sang Bình đang c** tr*n gánh từng sọt trấu vun vào miệng lò, trong lòng trào dâng một niềm hạnh phúc bình dị mà thiêng liêng. Đây chính là gia đình của cô, là mảnh đất mà linh hồn cô đã thực sự thuộc về.
Ròng rã suốt hai ngày một đêm, lò sấy vỏ hòm đạn không hề tắt lửa một giây. Tiếng guồng quạt gió rù rì đều đặn trở thành nhịp tim của cả xã An Hòa giữa mùa mưa nồm ẩm mốc.
Đến trưa ngày thứ tám của chiến dịch mười ngày, mẻ thóc lớn thứ ba được dỡ khỏi vỉ sấy.
Sân kho Đội 3 ngập tràn một màu vàng óng ả. Mười tấn thóc đầu tiên sau khi sấy khô kiệt, qua quạt gió làm sạch bụi trấu, được vun thành từng ngọn đồi nhỏ rực rỡ. Hạt lúa mẩy tròn, khô cong, đưa lên miệng cắn thử nghe một tiếng “cốp” giòn tan đanh thép, nhân gạo bên trong trắng trong như ngọc.
Chủ nhiệm Khoát bốc một vốc thóc đầy tay, áp sát vào má mình để cảm nhận hơi ấm khô ráo của hạt ngọc làng quê. Ông cười mà nước mắt lưng tròng:
“Mười tấn thóc loại A! Khô giòn, không một hạt mốc, không một hạt lép! Đóng bao! Cho đóng bao tải bọc lá chuối khô niêm phong quân lương ngay lập tức!”
Tiếng cười nói rộn rã khắp gian kho. Những chiếc kim bao tải bằng đồng thoăn thoắt khâu những đường chỉ đay chắc nịch. Chị Đượm vừa thoăn thoắt thắt nút miệng bao vừa toe toét cười với An:
“Cô An ơi, thế này thì ba mươi tấn thóc còn lại chỉ cần hai ngày nữa là xong tuốt! Huyện đội có về nghiệm thu thì chỉ có nước lác mắt khen xã An Hòa mình thôi!”
Bình đứng bên cạnh An, anh nhẹ nhàng khoác lên vai cô chiếc áo trấn thủ ấm áp của mình, khẽ thì thầm bên tai vợ:
“Nghỉ tay một chút đi mình. Mười tấn này giao trước, chúng ta nắm chắc phần thắng rồi.”
An ngước nhìn chồng, toan mở miệng mỉm cười đáp lại, thì bỗng nhiên, từ ngoài con đường liên xã lầy lội bì bõm nước mưa, tiếng còi xe máy rách toang màn sương ẩm ướt lao thẳng vào cổng Hợp tác xã.
Một chiếc xe Minsk màu xanh bộ đội phanh cháy vệt trên nền đất nhão. Người chiến sĩ giao liên Huyện đội mặc áo mưa cánh dơi rách tả tơi, người bê bết bùn đất từ đầu đến chân, nhảy phốc xuống xe, tay cầm chiếc cặp da công văn niêm phong đỏ chót lao thẳng vào gian kho.
“Đồng chí Bùi Đắc Khoát! Đồng chí Trần Bình đâu?” Người lính thở không ra hơi, giọng lạc đi vì khẩn cấp.
“Tôi đây! Có chuyện gì thế đồng chí?” Bình và ông Khoát vội vã bước tới.
Người lính run rẩy mở cặp da, rút ra một phong bì có đóng dấu đỏ “HỎA TỐC - THỜI CHIẾN”, đập thẳng vào bàn gỗ:
“Công điện khẩn của Ban Chỉ huy Quân sự huyện Chương Mỹ và Bộ Tư lệnh Quân khu 3! Chiến sự tại mặt trận Lạng Sơn đang diễn ra vô cùng ác liệt! Quân địch dồn quân đánh phá dữ dội vào thị xã, tuyến đường sắt huyết mạch chi viện cho mặt trận đang bị đe dọa từng giờ! Đoàn tàu quân nhu đặc biệt tại ga Thường Tín sẽ khởi hành sớm hơn kế hoạch!”
Người lính nuốt nước bọt cái ực, nhìn thẳng vào mắt vị chủ nhiệm già:
“Toàn bộ năm mươi tấn thóc quân lương của xã An Hòa phải tập kết đủ tại ga Thường Tín trước mười hai giờ trưa ngày mai! Hạn chót bị rút ngắn sớm hơn hai mươi tư tiếng đồng hồ! Nếu chậm trễ, toàn bộ kế hoạch vận tải hậu cần chi viện cho mặt trận Lạng Sơn sẽ bị đứt gãy!”
Cả gian kho như rơi tõm vào một hầm băng lạnh buốt. Mọi nụ cười lập tức đông cứng trên môi.
Rút ngắn hai mươi tư tiếng!
Nghĩa là thay vì còn hai ngày đêm, họ chỉ còn chưa đầy ba mươi tiếng đồng hồ để hoàn thành bốn mươi tấn thóc còn lại, đóng bao và vận chuyển vượt qua mười mấy cây số đường đê lầy lội ra tới ga tàu! Đây là một nhiệm vụ bất khả thi đối với bất kỳ một hợp tác xã nào!
Ông Khoát loạng choạng ngã ngồi xuống bao thóc, mặt xám ngoét không còn hột máu.
Thế nhưng, nhát búa thứ hai giáng xuống số phận gian kho còn tàn nhẫn hơn thế.
Người lính giao liên sau khi trao công văn, nhìn quanh gian kho một lượt rồi ngập ngừng nói nhỏ với Bình, giọng nghẹn lại:
“Còn một tin nữa... Tỉnh đội vừa nhận được thông báo từ Mặt trận Quảng Ninh chuyển về sáng nay... Rạng sáng ngày mười bảy, toàn bộ đồn Biên phòng Pò Hèn... đồn Pò Hèn đã bị quân địch bao vây, nã pháo tập kích dữ dội suốt nhiều giờ liền... Đồn... đồn bị san phẳng hoàn toàn rồi... Đồng chí Đặng Văn Cán... cùng toàn thể phân đội chốt giữ bến phà... không còn ai liên lạc được nữa...”
Choảng!
Chiếc bát sành đựng nước chè xanh trên tay chị Đượm rơi tuột xuống nền gạch mộc, vỡ tan tành thành muôn mảnh vụn. Nước chè nóng văng tung tóe lên đôi bàn chân trần nứt nẻ của chị.
Gương mặt tròn trịa, phúc hậu của người phụ nữ thôn quê bỗng chốc trắng bệch như một tờ giấy bản. Đôi mắt chị mở trừng trừng, đồng tử dại đi nhìn chòng chọc vào người chiến sĩ giao liên, rồi nhìn sang An.
“Pò... Pò Hèn... anh Cán...”
Chị Đượm chỉ kịp thốt lên hai tiếng đứt quãng trong cổ họng, rồi toàn thân đổ ập xuống như một cây chuối bị phạt ngang gốc giữa đống bao tải thóc nồng đượm hơi ấm.
“Chị Đượm!”
An thét lên kinh hoàng, lao vội tới đỡ lấy người bạn thân. Ngoài trời, sấm sét mùa đông bất thần nổ rền một tiếng xé toạc bầu trời xám xịt bên bờ sông Đáy.
, , vn, live
,
vn
Bình luận (0)
Đang tải bình luận...