Xuyên không thập niên 70

Chương35: Lời hẹn Tây Nguyên

Cỡ chữ
Hoàng hôn trên triền đê sông Đáy như một dải lụa nhuốm màu máu đỏ quạch, chầm chậm buông xuống những rặng xoan khẳng khiu đầu làng An Hòa. Gió bãi bồi thổi thốc lên mang theo hơi nước ngai ngái cùng mùi phù sa nồng đậm, táp rát vào khuôn mặt phong trần của Trần Bình. Đôi bàn tay thô ráp vốn quen cầm súng, quen vít cán cày của anh lúc này run rẩy đến không kìm lại được. Mảnh giấy công điện đánh máy trên nền giấy rơm vàng ố, lấm tấm những vết mực tím nhòe nhoẹt ép chặt giữa hai ngón tay cái và ngón trỏ chai sần. Chữ “HỎA TỐC” đỏ lựng như một đốm than hồng chực chờ thiêu đốt tâm can người lính phục viên. Cao điểm Đắk Tô – Tân Cảnh. Nguyễn Hoài Nam. Mùa mưa Tây Nguyên. Bảy giờ sáng mai tại Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh. Từng con chữ ngắn gọn, lạnh lùng và dứt khoát như một mệnh lệnh hành quân thời chiến rít qua màng nhĩ anh. Bình hít một hơi thật sâu, lồng ngực vạm vỡ nghẹn ứ lại trong một cơn chấn động dữ dội. Bốn năm ròng rã, kể từ cái ngày đẫm máu tháng 3 năm 1975 ấy, khi đơn vị trinh sát của Nam bị pháo kích chia cắt tại sườn đồi le, chưa bao giờ Bình nguôi ngoai món nợ máu xương với người đồng đội, người anh ruột của Hoài An. Vết sẹo dài ngoằn ngoèo nơi bắp chân trái – di chứng của mảnh đạn cối năm nào – bỗng chốc buốt nhói tận tủy xương như nhắc nhở một lời thề chưa trọn. Bình cúi xuống, nhặt sấp vải hoa cúc màu xanh nhạt vừa rơi trên đám cỏ mật. Anh tỉ mỉ phủi từng cọng rác khô bám vào thớ vải mậu dịch phẳng phiu, nâng niu như sợ hơi thở dồn dập của mình làm hoen ố món quà chắt chiu từ những giọt mồ hôi và tiền trợ cấp thương tật. Đưa sấp vải lại vào tay vợ, Bình nhìn sâu vào đôi mắt long lanh ngấn lệ của An, một nỗi giằng xé tột cùng cuộn trào nơi đáy mắt. “Đồng chí Luận,” Bình quay sang người Xã đội phó trẻ tuổi đang đứng th* d*c bên chiếc xe đạp xộc xệch, giọng anh khàn đặc nhưng cố giữ sự điềm tĩnh nhà binh, “công điện này Đảng ủy đã thông qua chưa?” “Báo cáo anh Bình, đồng chí Bí thư xã và anh Khoát Chủ nhiệm đã ký xác nhận trực tiếp vào sổ giao nhận của liên lạc Tỉnh đội rồi!” Luận gạt mồ hôi trán, giọng vẫn run lên vì xúc động. “Chủ nhiệm Khoát dặn em chuyển lời ngay: Việc quy tập hài cốt đồng chí Nam là nghĩa cử thiêng liêng đền ơn đáp nghĩa, việc nước việc nhà đều phải chu toàn. Xã tạo mọi điều kiện để anh lên đường. Giấy giới thiệu và công lệnh của Ủy ban xã đã viết xong, mai tinh sương anh cứ ghé trụ sở lấy rồi thẳng tiến lên tỉnh!” Bình gật đầu, siết chặt bàn tay Luận: “Cảm ơn cậu. Cậu về báo cáo với xã, tôi đã rõ lệnh.” Bóng chiếc xe đạp Thống Nhất của Luận xa dần trên con đường đất đỏ rực màu ráng chiều. Không gian bờ đê lại chìm vào sự tĩnh lặng tịch mịch, chỉ còn tiếng côn trùng rả rích trong bụi cỏ ven đê và tiếng thở khẽ, dồn dập của người phụ nữ bên cạnh anh. Bình quay người lại, nhìn thẳng vào An. Ánh tà dương rọi nghiêng khuôn mặt thanh tú rám nắng của cô, làm nổi bật đôi gò má ướt đẫm nước mắt. An đứng đó, chiếc kẹp tóc bằng vỏ đạn pháo sáng loáng trên mái tóc đen dày, đôi vai gầy khẽ run rẩy. Trái tim Bình quặn thắt. Anh muốn ôm chặt lấy cô, muốn che chở cho cô khỏi tất cả những giông bão cuộc đời, nhưng đôi chân anh như bị đóng đinh xuống mặt đất bãi bồi. Anh đi, là trọn đạo với người nằm xuống, là đưa được người anh trai duy nhất của An trở về với đất mẹ trước khi những cơn lũ quét rừng già Tây Nguyên cuốn phăng đi dấu tích cuối cùng. Nhưng còn An? Còn Đội 3? Còn cơ ngơi bãi Soi đang rực lửa đấu tranh giữa lằn ranh sống còn? Đợt nồm ẩm vừa dứt, bãi Soi vừa hoàn thành xong kỳ tích một nghìn chiếc làn mây xuất khẩu, chuẩn bị bước vào giai đoạn bón thúc quyết định cho ngô và đậu tương. Nguy hiểm hơn cả, dưới bệ thờ gia tiên nhà anh, viên gạch non góc trái vẫn đang đè nặng lên bản cam ước mười bốn dấu điểm chỉ đỏ chót – bằng chứng của sự “xé rào” khoán chui chưa từng có tiền lệ. Phe cánh của Đặng Tiết, dẫu Tiết đã bị tống lên huyện thẩm vấn, nhưng tàn dư nghi kỵ và những cặp mắt dòm ngó đố kỵ trong làng vẫn như loài rắn độc ẩn mình trong bụi rậm, chực chờ sơ hở là phóng nọc. Nếu anh rời đi lúc này, ai sẽ là người đứng mũi chịu sào? Ai sẽ che chắn cho người vợ trẻ và mẹ già trước những đòn thù giấu mặt? “An...” Bình cất tiếng, thanh âm trầm đục nghẹn lại nơi cổ họng. “Sáng mai đi thì gấp quá. Bãi Soi đang độ làm đất phá váng... Mười bốn hộ xã viên vừa ký cam ước, lòng người chưa hẳn đã nguội bớt âu lo. Hay là... để anh đạp xe lên Tỉnh đội ngay trong tối nay, xin lùi lại đợt công tác sau? Đợi xong vụ chiêm này, đất bãi Soi thu hoạch đâu vào đấy rồi anh xin đi...” “Anh nói gì kỳ lạ thế!” An đột ngột ngắt lời anh. Cô quệt vội giọt nước mắt trên má, ánh mắt thông minh thường ngày bỗng bừng lên một vẻ kiên định, cương quyết đến mức khiến Bình phải sững sờ. Cô bước tới một bước, bàn tay nhỏ nhắn nhưng chai sần vì lao động nắm chặt lấy cánh tay vạm vỡ của anh. “Anh Bình, anh là người lính, anh hiểu hơn ai hết mùa mưa Tây Nguyên khắc nghiệt thế nào! Đội K53 đã đổ bao xương máu mới dò ra được tọa độ của anh Nam giữa bạt ngàn rừng le Đắk Tô. Công điện đã ghi rõ: đất có nguy cơ sạt lở nghiêm trọng! Lũ rừng ập xuống thì ngọn đồi cũng bị san phẳng, anh Nam sẽ vĩnh viễn nằm lại trong lạnh lẽo, biết bao giờ mới tìm lại được nữa?” “Nhưng còn em? Còn bản cam ước dưới bệ thờ? Anh đi chuyến này, nhẹ thì nửa tháng, lâu thì cả tháng trời đường rừng cách trở. Để em lại một mình giữa bao nhiêu rình rập, anh làm sao yên lòng nhấc chân bước nổi!” Bình siết chặt nắm đấm, khớp xương kêu răng rắc. Sự bất lực và dằn vặt hiện rõ trên từng đường gân nổi cộm trên trán. An nhìn thẳng vào mắt anh, không hề né tránh. Một nụ cười thoáng nở trên đôi môi nứt nẻ, vừa dịu dàng vừa tràn đầy bản lĩnh của một người phụ nữ đã tôi luyện qua gian khó và bom đạn chiến tranh: “Anh coi thường em gái của anh Nam thế sao? Em lớn lên trong những năm tháng bom đạn sơ tán, từng cùng bà con bám làng giữ đất, có sóng gió nào ở cái bãi Soi này mà em không dám gánh? Huống chi, ở hậu phương em đâu có đơn độc!” An kéo tay anh lại gần, giọng hạ thấp nhưng đanh thép từng chữ: “Chúng ta có u Mẫn cả đời từng trải, có đồng chí Bí thư và anh Khoát ngầm ủng hộ, có anh Luận Công an xã cương trực, và quan trọng nhất, mười bốn hộ xã viên Đội 3 đã ký tên điểm chỉ sống chết có nhau. Bãi Soi là bát cơm, là mạng sống của họ, không ai có thể lay chuyển được khối sắt đá ấy đâu! Việc của anh là vì nghĩa vụ với Tổ quốc, vì lời thề với đồng đội, và vì... đưa anh trai em về nhà. Anh phải đi, và phải đi ngay sáng mai!” Bình đứng sững giữa gió sông lồng lộng. Nhìn gương mặt kiên trinh của vợ, lồng ngực anh dâng lên một niềm cảm phục và xúc động vô bờ bến. Người con gái này, mảnh mai là thế, dịu dàng là thế, nhưng bên trong lại ẩn chứa một nghị lực tựa như loài tre đằng ngà trước bão dông. Sự thấu hiểu và hy sinh của An như một dòng nước mát gột rửa mọi đắn đo, tiếp thêm cho anh thứ dũng khí thiêng liêng nhất của một người đàn ông trụ cột. “Được!” Bình hít sâu một hơi, bàn tay to lớn bao bọc lấy bàn tay An, siết chặt như một lời giao ước. “Anh đi! Anh hứa với em, dù có phải lội qua trăm con suối, đào tung từng thước đất rừng Đắk Tô, anh cũng sẽ cõng anh Nam về bằng xương bằng thịt trước mặt u và thầy!” Hai người dắt nhau đi dọc triền đê trở về làng khi bóng tối đã bắt đầu đặc quánh. Ánh đèn dầu từ những ngôi nhà mái rạ le lói tỏa ra màn sương chiều. Bước chân Bình khập khiễng nhịp nhàng bên bước chân thoăn thoắt của An, bóng hai người đổ dài trên mặt cỏ, hòa quyện làm một. Tin tức chấn động nhanh chóng lan về xóm nhỏ. Khi Bình và An bước chân vào con ngõ gạch nhà cụ giáo Khiêm, khói thuốc lào Tiên Lãng đã bảng lảng khắp gian nhà ngói ba gian cổ kính. Cụ giáo Khiêm ngồi bất động bên chiếc bàn gỗ lim mộc mạc. Trên bàn, ngọn đèn Hoa Kỳ bằng đồng thau được vặn bấc to hết cỡ, chiếu rọi khuôn mặt già nua chằng chịt những nếp nhăn thời gian. Đôi mắt cụ giáo đỏ hoe, chòm râu bạc khẽ rung bần bật. Nghe tiếng bước chân con rể và con gái ngoài hiên, cụ từ từ ngẩng đầu lên. “Thầy...” Bình bước vào, cởi chiếc mũ cối kẹp dưới nách, cúi đầu chào. Cụ Khiêm không nói, chỉ giơ bàn tay gầy guộc run rẩy chỉ vào chiếc ghế đối diện. Bình lặng lẽ ngồi xuống. An vội vàng bước lại bên cạnh cha, khẽ đặt tay lên vai cụ. Người thầy giáo già cả đời thanh bạch, từng trải qua bao biến cố thời cuộc, lúc này như một cây cổ thụ vừa bị một luồng sét đánh ngang thân, đau đớn đến tận cùng nhưng vẫn cố gượng đứng vững. “Bình này...” Giọng cụ Khiêm khàn đặc, đứt quãng như có sạn cào trong cổ họng. “Thật... thật sự tìm thấy rồi sao con?” “Dạ thưa thầy, công điện của Bộ Tư lệnh Quân khu 5 gửi về Tỉnh đội trưa nay. Đội K53 đã tìm thấy mộ anh Nam ở sườn phía Tây cao điểm Đắk Tô – Tân Cảnh. Họ đối chiếu chính xác tấm thẻ bài bằng nhôm và sơ đồ chôn cất của đại đội trinh sát năm bảy lăm. Sáng mai bảy giờ, con phải có mặt ở Tỉnh đội để cùng đoàn công tác đặc biệt xuất phát.” Cụ Khiêm nhắm nghiền hai mắt lại. Hai giọt nước mắt đục ngầu chậm chạp lăn qua rãnh nhăn sâu hoắm trên gò má, rơi xuống mặt bàn gỗ đánh “tách” một tiếng. Bốn năm ròng rã, cụ giấu nỗi đau mất con trai trưởng sau những trang sách chữ Nho, sau những buổi dạy bình dân học vụ, chưa từng than vãn nửa lời trước mặt dân làng. Đêm nay, giọt nước mắt ấy mới chịu vỡ òa. Cụ đứng dậy, bước chầm chậm về phía chiếc tủ chè khảm ốc xà cừ cũ kỹ kê sát vách gian trong. Bàn tay cụ run rẩy mở chiếc khóa đồng gỉ sét, lục lọi hồi lâu dưới đáy chiếc hòm gỗ đựng tài liệu từ thời tiền khởi nghĩa. Khi quay trở lại bàn, trên tay cụ là một chiếc bi-đông quân dụng kiểu Mỹ màu xanh ô-liu đã bong tróc nham nhở, mép dưới loang lổ hai vết đạn sượt hõm sâu vào kim loại, cùng một mảnh giấy kẻ ô ly học trò gấp tư, ố vàng vì thời gian. “Con cầm lấy cái này...” Cụ Khiêm đặt chiếc bi-đông và mảnh giấy vào tay Bình. Bình cúi nhìn. Chiếc bi-đông này anh nhận ra ngay. Đó là chiến lợi phẩm anh Nam thu được sau trận đánh căn cứ Đắc Mót đầu năm 1974, trên thân bi-đông còn khắc vụng về ba chữ cái “H – N – A” bằng đầu mũi lê, viết tắt tên ba anh em Hoài Nam, Hoài An và người em út tên Ánh đã mất vì bệnh tật thời tản cư. Còn mảnh giấy ô ly kia, khi mở ra, là những nét vẽ bằng bút bi xanh nguệch ngoạc: sơ đồ cao điểm, những gốc cây le cụt ngọn, con suối cạn và một dấu chữ thập đỏ đánh dấu vị trí hầm chỉ huy trinh sát. “Đây là kỷ vật duy nhất thằng liên lạc của đại đội trinh sát mang về trao lại cho thầy khi nó được phục viên cuối năm bảy lăm,” Cụ Khiêm nghẹn ngào, bàn tay khô ráp nắm chặt lấy mu bàn tay Bình. “Mấy năm nay, đêm nào thầy cũng chong đèn nhìn cái sơ đồ này mà ruột gan như có muối xát. Thầy già rồi, chân yếu gối mỏi, không thể trèo đèo lội suối vào tận rừng sâu đón con về được nữa... Bình ơi, thầy gửi trọn linh hồn thằng Nam cho con!” “Thầy yên tâm!” Lồng ngực Bình nghẹn thắt, anh đứng nghiêm người theo tác phong quân đội, hai mắt rực lửa quyết tâm. “Con lấy danh dự của người lính và tư cách người làm chồng, làm em rể trong nhà xin thề trước thầy: dù có phải trèo đèo lội suối, có gian khổ đến đâu, con cũng sẽ đưa anh Nam về tận ngưỡng cửa nhà này!” Cụ Khiêm gật đầu thật mạnh, vỗ vỗ lên vai con rể, ánh mắt gửi gắm một niềm tin cậy tuyệt đối không gì lay chuyển nổi.Trời về khuya, sương muối buông dày đặc trên những tàu lá chuối ngoài vườn, phát ra những tiếng lộp độp buốt giá. Trong gian nhà ba gian của vợ chồng Bình, ngọn đèn dầu Liên Xô tỏa ra ánh sáng vàng vọt, ấm áp, xua đi cái lạnh buốt của đêm cuối xuân. Bà cụ Mẫn ngồi bên ngưỡng cửa bếp, đôi mắt mờ đục hoe đỏ vì khói củi và nước mắt. Bà vừa cặm cụi gói nắm cơm nếp hoa vàng độn đỗ xanh vào tấm lá chuối đã hơ lửa cho mềm, vừa cẩn thận chèn thêm hai quả trứng gà luộc và một lọ muối vừng thơm lừng vào góc chiếc ba lô con cóc đã bạc màu lính chiến của con trai. “Anh đi đường xa cách trở nghìn trùng, rừng thiêng nước độc, nhớ ăn uống giữ gìn, nghe con!” U Mẫn sụt sịt, chiếc khăn nhung trên đầu trễ xuống để lộ mái tóc hoa râm xơ xác. “Thuốc sốt rét với dầu gió u để ở ngăn phụ ba lô đấy. Ở nhà đã có con dâu u lo, có họ hàng lối xóm, anh đừng có bận lòng mà ảnh hưởng việc công.” “U cứ yên tâm, con quen nết rừng Tây Nguyên rồi, không ốm đau được đâu,” Bình ngồi xổm bên cạnh mẹ, nhẹ nhàng đỡ lấy chiếc ba lô, trong lòng dâng lên một nỗi xót xa vô bờ. Khi u Mẫn đã mệt mỏi vào buồng trong ngả lưng, gian ngoài chỉ còn lại Bình và An. Bình bước lại gần bệ thờ gia tiên họ Trần đặt ở gian giữa. Khói hương bài thoang thoảng quyện vào không gian tĩnh mịch. Anh khẽ khom người, đưa tay sờ vào mép viên gạch non ở góc trái chân bệ thờ. Viên gạch vẫn nằm im lìm, phẳng phiu dưới lớp bụi mỏng, che giấu bên dưới bản cam ước mười bốn dấu vân tay điểm chỉ mực son định đoạt sinh mệnh của Đội 3. Anh quay lại, thấy An đang ngồi bên bàn nước, cặm cụi dùng kim chỉ mạng lại một vết sờn ở cổ tay chiếc áo trấn thủ màu cỏ úa cho anh. Từng đường kim mũi chỉ của cô đều đặn, tỉ mỉ và nhẫn nại. Dưới ánh đèn dầu, bóng cô in nghiêng lên bức vách đất, đẹp một cách thanh tao và đượm buồn. Bình bước đến, ngồi xuống chiếc ghế đẩu bên cạnh, nhẹ nhàng nắm lấy bàn tay đang cầm kim của vợ. “An, nghe anh dặn này,” Bình hạ giọng thật nhỏ, ánh mắt nghiêm nghị đến mức căng thẳng. “Chuyến này anh đi đột ngột, việc khoán hộ ở bãi Soi đang đến hồi then chốt. Đặng Tiết tuy bị công an huyện giữ, nhưng vây cánh của lão trong làng vẫn còn. Anh Khoát Chủ nhiệm tuy đứng về phía chúng ta, nhưng tính ông ấy sợ sai, sợ mất chức, nếu có đoàn thanh tra nào về ép gắt gao quá, ông ấy khó mà đứng vững một mình.” An dừng tay kim, ngước nhìn chồng, chăm chú lắng nghe. “Bản cam ước dưới bệ thờ,” Bình chỉ tay về phía gian giữa, “tuyệt đối không được để lộ cho người thứ hai biết ngoài u và em. Nếu thấy có bất kỳ dấu hiệu lục soát hay biến động bất thường nào từ xã hoặc huyện, em phải lập tức chuyển nó đi ngay. Đừng cố giữ khư khư trong nhà mà nguy hiểm đến tính mạng.” “Em hiểu mà,” An siết chặt tay anh, giọng nói trầm ấm và quả quyết. “Em đã tính cả rồi. Sáng mai anh đi xong, em sẽ cùng chị Đượm và anh Luận cắt cử người thay phiên nhau tuần tra bãi Soi cả ngày lẫn đêm dưới danh nghĩa bảo vệ hoa màu phòng dịch chuột cắn. Đội 3 bây giờ là một khối, ai dám đụng vào bãi Soi là đụng vào cả mười bốn gia đình. Em nhất định sẽ giữ trọn mảnh đất ấy cho đến ngày anh về!” Bình nhìn sâu vào mắt vợ. Trong ánh sáng lung linh của ngọn đèn dầu, anh thấy rõ hình ảnh phản chiếu của chính mình – một người lính đã tìm thấy bến đỗ bình yên của cuộc đời, tìm thấy một người bạn đời tri kỷ có thể cùng anh gánh vác cả giang sơn bờ cõi lẫn từng tấc đất bờ vùng. Anh buông tay An ra, cẩn thận tháo chiếc kẹp tóc bằng vỏ đạn pháo trên mái tóc cô xuống, để những lọn tóc đen nhánh xõa dài trên đôi vai thon. Bàn tay thô ráp của người lính nhẹ nhàng v**t v* mái tóc thơm mùi bồ kết và hương bưởi quen thuộc. Bình kéo An vào lòng, ôm chặt lấy cô. Lồng ngực anh đập dồn dập, phập phồng áp sát vào khuôn ngực phập phồng thở của người vợ trẻ. “An này...” Bình thì thầm bên tai cô, giọng anh run lên trong men say của tình yêu và nỗi niềm chia cách. “Đời anh may mắn nhất là cưới được em. Chiến tranh cướp đi của anh bao đồng đội, để lại cho anh cái chân tập tễnh này, nhưng ông trời lại bù đắp cho anh một người vợ như em... Anh nợ em nhiều quá. Cưới nhau về chưa được bao lâu, em chưa được một ngày thảnh thơi nhung lụa, chỉ toàn lo toan đói kém, đối phó hiểm nguy...” “Anh đừng nói thế,” An vùi đầu vào hõm vai vững chãi của chồng, tham lam hít hà mùi mồ hôi mằn mặn quen thuộc quyện với mùi nắng gió đồng bãi bám trên làn da ngăm đen của anh. Hai cánh tay cô vòng qua lưng anh, ôm chặt lấy tấm lưng rộng lớn như muốn hòa tan vào anh. “Lấy anh là điều đúng đắn nhất trong cuộc đời em. Ở bên anh, em thấy bình an hơn bất cứ nơi nào trên cõi đời này. Anh cứ yên tâm đi Tây Nguyên làm tròn bổn phận với anh Nam. Em ở nhà đợi anh.” Bình nâng cằm An lên, cúi xuống đặt lên đôi môi mềm mại của cô một nụ hôn nồng nàn, sâu thẳm. Nụ hôn mang vị mặn chát của những giọt nước mắt nghẹn ngào, mang hơi thở ấm nóng của tình chồng vợ sắt son, và mang theo cả lời thề sinh tử của người lính trước giờ xuất trận. Đêm ấy, bên ngọn đèn dầu cháy leo lét đến cạn bấc, gian nhà ba gian chứng kiến những lời bộc bạch sâu kín nhất của hai tâm hồn đồng điệu. Họ nép vào nhau, truyền cho nhau hơi ấm giữa cái lạnh thấu xương của đêm tàn, lắng nghe từng nhịp tim đập đều đặn của nhau như muốn khắc cốt ghi tâm từng giây từng phút trước cuộc chia ly ngút ngàn dặm thẳm. Năm giờ ba mươi phút sáng hôm sau. Màn sương mù dày đặc từ mặt sông Đáy bốc lên cuồn cuộn, phủ trắng xóa khắp những con đường làng quanh co rợp bóng tre ngà của xã An Hòa. Tiếng gà gáy le te đầu xóm xé toạc bầu không khí tĩnh mịch của buổi tinh mơ. Đầu dốc đê, nơi gốc đa cổ thụ đầu làng, một chiếc xe gát quân sự mui bạt màu cỏ úa đã nổ máy chờ sẵn từ lúc nào, khói dầu xả ra khét lẹt, tiếng động cơ gầm gừ đều đặn trong màn sương lạnh. Bình khoác chiếc ba lô con cóc lên vai, quân phục chỉnh tề với chiếc thắt lưng to bản và đôi dép cao su đúc bốn quai quấn chặt bàn chân. Chiếc bi-đông kỷ vật loang lổ vết đạn được anh cẩn thận đeo chéo bên hông, áp sát vào lồng ngực. Anh đứng trước cổng rào dâm bụt, nhìn lại căn nhà thân thương lần cuối. U Mẫn đứng dựa vào cột cổng, hai mắt hoe đỏ, tay cầm chiếc khăn nâu vẫy vẫy trong gió sớm. An đi bên cạnh anh ra tận đầu xe gát. Cô mặc chiếc áo sơ mi bảo hộ màu cỏ úa giản dị, mái tóc tết bím lệch cài chiếc kẹp vỏ đạn quen thuộc, đôi mắt sáng ngời ngời giữa làn sương giăng. Đồng chí lái xe quân khu thò đầu qua cửa kính, giơ tay vẫy: “Đồng chí Bình ơi, khẩn trương lên đường thôi! Tỉnh đội đang đợi lệnh để ghép đoàn xuất phát vào tuyến lửa!” “Tôi lên ngay!” Bình đáp lớn. Anh quay người lại, đối diện với An. Giữa làn sương sớm mờ ảo, ánh mắt hai người giao nhau, không một lời bi lụy, không một tiếng khóc than. Chỉ có sự thấu hiểu tuyệt đối và một niềm tin mãnh liệt rực sáng. Bình nắm chặt lấy hai bả vai An, ghé sát tai cô nói một câu ngắn gọn, chắc như đinh đóng cột: “Đợi lúa xuân chín vàng bãi Soi, anh sẽ cõng anh Nam về trước sân nhà!” “Em đợi anh!” An khẽ gật đầu, nở một nụ cười rạng rỡ giữa sương mai. “Bãi Soi sẽ ngập tràn ngô mẩy hạt, đậu sai cành để đón hai người lính chiến thắng trở về!” Bình dứt khoát quay người, bước những bước dài dứt khoát trèo lên thùng xe gát. Cánh cửa sắt đóng sầm lại đánh “cạch”. Chiếc xe rùng mình, gầm rú rồi chầm chậm lăn bánh, xé toạc màn sương mù mịt mùng, lao vút đi trên con đường liên huyện hướng về phía thị xã Hà Đông. An đứng chôn chân bên gốc đa cổ thụ, dõi mắt nhìn theo vệt bánh xe hằn sâu trên nền đất đỏ cho đến khi đốm đỏ của chiếc đèn hậu xe gát hoàn toàn tan biến sau rặng tre xa tít tắp. Gió sông sớm mai thổi lồng lộng, lạnh buốt thấu qua lớp áo mỏng, nhưng trong lồng ngực cô, một ngọn lửa ấm áp và kiên định đang bùng cháy rực rỡ. Cô hít một hơi thật sâu không khí trong lành của buổi sớm, xoay người sải bước trở về nhà. Trước mắt cô là một trận địa không tiếng súng nhưng khốc liệt không kém: bảo vệ bãi Soi, bảo vệ mười bốn hộ xã viên và giữ vững bí mật sống còn của tổ ấm này. Bàn chân An bước thoăn thoắt qua con ngõ gạch quen thuộc. Khi bước qua rặng rào cúc tần tiến vào khoảng sân gạch trước hiên, một cảm giác gai gai bất an bỗng chốc chạy dọc sống lưng cô. Căn nhà ba gian vắng bóng người đàn ông trụ cột bỗng trở nên tĩnh lặng một cách lạ thường. Cánh cửa liếp bên chái bếp khẽ đung đưa cọt kẹt theo từng cơn gió thổi qua. U Mẫn chắc hẳn mệt mỏi sau một đêm thức trắng nên đã vào buồng trong nằm nghỉ. An bước lên bậc tam cấp bằng đá xanh, toan mở then cửa chính bước vào gian giữa để thắp một nén hương lên bàn thờ gia tiên cầu bình an cho chồng trên dặm đường thiên lý. Thế nhưng, mũi giày bata của cô vừa chạm vào mép thềm gạch thì cả người bỗng khựng lại. Đồng tử An co rút lại dữ dội. Trên nền thềm gạch đỏ phẳng phiu còn vương vương hơi ẩm của sương sớm, hiện rõ mồn một những vết chân lạ hoắc, nhớp nháp bùn non sông Đáy! Dấu chân to bản, đế dép rọ cao su đã mòn vẹt một góc gót, lấm tấm bùn đất tươi mới như vừa mới in xuống cách đây chỉ chừng mươi phút. Vệt bùn ấy không đi từ cổng chính vào, mà xuất phát từ góc rào tre phía vườn chuối sau nhà, men theo góc thềm gian bếp, và từng bước, từng bước một... dẫn thẳng tắp vào gian nhà giữa, dừng lại ngay trước bệ thờ gia tiên họ Trần! , , vn, live , vn

Bạn cũng là tác giả hoặc dịch giả?

Đăng sáng tác hoặc bản dịch của riêng bạn lên Say Truyện — miễn phí, chỉ mất vài phút.

Đăng truyện ngay

Bình luận (0)

Đang tải bình luận...