Xuyên không thập niên 70
Chương2: Tiếng kẻng Đội sản xuất số 3
Cỡ chữ
Tiếng kẻng bằng vỏ bom tạ treo trên cành đa cổ thụ vẫn không ngừng nện vào không gian từng hồi chát chúa, dằn dỗi như muốn xé toạc màn sương mù mờ đục đang bao phủ khắp ngõ xóm An Hòa. Gió bấc từ triền sông Đáy thổi thốc vào mang theo hơi nước buốt giá, quất từng luồng buốt nhức vào da thịt tr*n tr**.
An khẽ rụt cổ lại dưới lớp áo sơ mi bảo hộ mỏng manh, chiếc nón rách dán ni-lông chụp sụp xuống trán. Cô vác chiếc cuốc bàn lên vai, lưỡi thép chạm vào thanh gỗ xoan phát ra tiếng cọ xát khô khốc. Khép lại cánh cổng tre đan tạm bợ xiêu vẹo, cô hòa mình vào dòng người đang từ khắp các ngõ sâu lục tục kéo ra con đường trục chính dẫn ra cánh đồng trũng.
Con đường liên thôn vào những ngày giáp Tết lầy lội đến thảm hại. Đất thịt mùa mưa ngấm đẫm phù sa nay bị hàng trăm bước chân người, chân trâu và những vệt bánh xe quệt cày nát thành từng rãnh bùn nhão nhoét, sâu hoắm. Không khí sặc mùi phân trâu tươi, mùi rơm rạ ẩm mốc đang thối rữa dưới rãnh nước và mùi khói bếp un lá ổi đắng đót phảng phất từ những chái nhà tranh vách đất.
Những khuôn mặt hiện ra dưới vành nón lá đều chung một nét u uất, xám ngoét vì thiếu ăn và rét mướt. Đàn ông khoác áo tơi lá cọ xù xì, tay cầm xẻng, tay xách quang sọt; đàn bà quấn khăn vuông sùm sụp ngang má, chân trần bì bõm lội dưới bùn lạnh ngắt, hai hàm răng va vào nhau lập cập. Chẳng ai buồn cất tiếng cười đùa. Sự im lặng nặng nề bao trùm lấy đoàn người, chỉ có tiếng thở dài thườn thượt và tiếng bì bõm của bùn nhão dính chặt lấy từng bước chân nặng trĩu.
“Lại vét mương chiêm trũng... Rét cắt da cắt thịt thế này mà bắt lội xuống bùn sâu đến bẹn thì sống sao nổi hả trời?”
Một giọng đàn bà trạc tuổi trung niên làu bàu cất lên, mũi sụt sịt đầy ngao ngán. Đi bên cạnh, một bác nông dân luống tuổi chép miệng, giọng khàn đặc khói thuốc lào:
“Thì cũng ráng mà vác mặt ra chấm công. Đội ba tháng này bị trừ mất bao nhiêu điểm vì không xong cái bờ bao ngăn mặn rồi. Không đi, cuối tháng ban quản trị gạt tên ra khỏi sổ chia thóc thì cả nhà ôm nhau húp cháo loãng.”
“Ối dào, công với chả điểm! Làm hùng hục như trâu húc mả cả ngày cũng chỉ được tám điểm, bằng đứa đứng tựa cán cuốc ngắm trời nhìn mây. Kẻng điểm danh có mặt, hết giờ cắp cuốc về, dại gì mà đày đọa cái thân xác!”
Những mẩu đối thoại rời rạc, bất mãn ấy lọt thỏm vào tai An, phản ánh tr*n tr** thực tế của nếp làm ăn tập thể lúc bấy giờ. Cơ chế quản lý cào bằng, “đánh trống ghi tên, xuất quân rầm rộ” nhưng hiệu quả thì phó mặc cho trời. Khi mà người làm cật lực cũng chỉ nhận ngần ấy lạng thóc chia phần, còn kẻ lười biếng trốn việc cũng chẳng chịu đói hơn ai bao nhiêu, thì tâm lý “cha chung không ai khóc” đã ngấm sâu vào từng thớ thịt của người lao động. Họ làm việc trong sự uể oải, đối phó, cốt cho hết giờ kẻng gõ thu quân.
An im lặng bước đi, đôi mắt sâu thẳm quan sát từng chi tiết. Dưới góc nhìn của một kỹ sư công nghệ sinh học nông nghiệp thế kỷ 21, cô nhìn thấu được bi kịch cốt lõi đang thắt nghẹt sức sống của ngôi làng này. Đất đai không phụ lòng người, nhưng cách con người quản lý và khai thác đất đai theo tư duy mệnh lệnh, hình thức đã biến nguồn lực quý giá nhất trở thành gánh nặng.
“An! Hoài An ơi! Chờ tao với!”
Một tiếng gọi giòn giã xen lẫn tiếng thở hồng hộc vang lên từ phía sau. An ngoái lại. Từ con ngõ dốc rợp bóng râm của rặng tre gai, một bóng người tròn trĩnh đang thoăn thoắt chạy tới. Đó là Đặng Thị Đượm.
Chị Đượm hơn An hai tuổi, vóc người đậm đà, phốp pháp hiếm hoi giữa cái thời người người gầy rộc như que củi. Khuôn mặt tròn xoe như trăng rằm của chị ửng đỏ lên vì lạnh và vì chạy vội, mái tóc ngắn ngủn kẹp tạm bằng chiếc cặp ba lá han gỉ. Trên vai chị vắt vẻo chiếc xẻng sắt đúc nặng trịch, hai ống quần xắn cao để lộ đôi bắp chân trắng trẻo, chắc nịch.
Chạy đến bên An, Đượm thở hắt ra một hơi khói trắng phau, đưa bàn tay thô ráp đập nhẹ vào vai cô:
“Con ranh này, sao đi nhanh thế! Mày mới cắt cơn sốt rét có mấy hôm, người ngợm còn mỏng như tờ giấy quyến thế kia mà đã vác cuốc đi vét mương rồi à? U mày không cản mày lại sao?”
Nhìn đôi mắt tròn xoe đầy vẻ lo lắng chân thành của Đượm, An cảm thấy một luồng ấm áp len lỏi qua lồng ngực đang run rẩy vì rét. Cô khẽ mỉm cười, giọng khàn khàn vì sương sớm:
“Nằm mãi trong buồng ngột ngạt lắm chị ạ. Em đỡ mệt rồi, ra đồng vận động cho giãn gân cốt, với lại... ở nhà mãi thì cuối vụ lấy đâu ra công điểm mà đong gạo.”
“Gớm, công với chả điểm!” Đượm bĩu môi, nhưng mắt lại lấm lét nhìn quanh xem có ai trong ban chỉ huy hợp tác xã đi gần đó không. Thấy mọi người đều đang cắm cúi bước đi, chị liền nép sát vào người An, một tay luồn nhanh vào túi chiếc áo bông trần trám đã sờn chỉ ở bên hông.
“Cầm lấy! Nhanh lên, giấu vào túi áo trong ấy!”
An ngạc nhiên khi thấy một vật nong nóng, cưng cứng được ấn dúi dụi vào lòng bàn tay mình. Nhìn xuống, đó là một củ khoai dong luộc to chừng hai ngón tay, lớp vỏ màu nâu xám nứt toác để lộ phần ruột màu trắng trong veo, bột bở tươm mật, bọc khéo léo trong một mảnh lá chuối khô đã hơ lửa cho mềm.
“Chị... cái này ở đâu ra thế?” An thì thầm, sững sờ. Ở cái thời buổi hạt gạo cõng ba bốn phần sắn củ mục này, một củ khoai dong luộc thơm phức, còn nguyên độ nóng ấm như thế này chẳng khác nào một báu vật.
“Hỏi lôi thôi làm gì!” Đượm trừng mắt, nhưng trong ánh nhìn lấp lánh sự tinh nghịch và yêu thương vô bờ bến. “Sáng sớm nay u tao đi đào trộm ở mảnh đất bãi ven sông Đáy đấy. Đất bồi màu mỡ nên củ nó mới mập mạp thế này. Luộc vội được mấy củ, tao giấu một củ mang cho mày lót dạ. Mày vừa ốm dậy, bụng rỗng mà lội bùn nước lạnh thì chỉ có nước lăn đùng ra đấy lại khổ thầy u mày. Ăn mau đi, đừng để mấy mụ bên Đội hai nhìn thấy lại ton hót lên ông Khoát là nhà tao giấu giếm tăng gia ngoài luồng thì khốn!”
Củ khoai dong nằm gọn trong lòng bàn tay An, tỏa ra hơi ấm dịu dàng xua đi cái cóng buốt của buổi sớm. An không từ chối, bởi cô hiểu trong hoàn cảnh này, sự từ chối khách khí chỉ là thứ đạo đức giả ngớ ngẩn. Cơ thể này đang cạn kiệt năng lượng, lượng đường huyết tụt dốc sau nhiều ngày chỉ sống bằng nước cháo hoa loãng và sắn khô.
Cô bẻ đôi củ khoai, đưa nửa có phần mập hơn lại cho Đượm:
“Chị em mình mỗi người một nửa. Chị không ăn cùng thì em cũng chẳng nuốt trôi đâu.”
Đượm ngơ ngác nhìn An, rồi bật cười khúc khích, hàm răng khểnh lộ ra duyên dáng:
“Rõ thật là... cái ngữ vừa ốm thập tử nhất sinh xong mà vẫn gàn dở!”
Nói đoạn, Đượm cầm lấy nửa củ khoai nhỏ hơn, tống tọt vào miệng nhai ngấu nghiến như sợ ai cướp mất. An cũng cắn một miếng nhỏ. Vị ngọt thanh tao, bùi bùi và hơi sần sật của tinh bột khoai dong lan tỏa trên đầu lưỡi, kéo theo cảm giác ấm nóng chạy dọc xuống dạ dày đang quặn thắt. Đó không chỉ là vị ngọt của lương thực, mà còn là hương vị của tình người mộc mạc, bền bỉ của những người phụ nữ nghèo khổ nơi thôn dã, luôn biết sẻ chia từng củ khoai, hạt thóc giữa những tháng năm đói rách cơ cực.
Hai người vừa đi vừa nhai vội, khi bước chân chạm đến con đê bối ngăn lũ của xã thì củ khoai đã nằm gọn trong bụng. Trước mắt họ hiện ra bối cảnh toàn bộ cánh đồng chiêm trũng Đầm Lội — nơi canh tác chính của Đội sản xuất số 3.
Đó là một vạt ruộng trũng sâu hoắm, nằm kẹp giữa con đê bối sông Đáy và dải gò đồi đất đỏ cằn cỗi. Trận lụt lịch sử hồi tháng Tám năm ngoái đã biến nơi này thành một đầm lầy đúng nghĩa. Nước lũ rút đi để lại một lớp phù sa pha cát bồi lấp toàn bộ hệ thống kênh mương tưới tiêu. Trên mặt ruộng, nước tù đọng có màu nâu đỏ quánh đặc của váng sắt và phèn chua, bốc lên mùi tanh nồng nặc đến lợm giọng. Những khóm cỏ lác, cỏ năn mọc tua tủa như chông đóa trên nền bùn nhão.
Hơn bốn mươi xã viên của Đội sản xuất số 3 đã tập trung đông đủ trên bờ đê. Mọi người co ro đứng tựa vào nhau, tiếng càu nhàu, than vãn ngày một râm ran khi nhìn xuống lòng mương đang ngập ngụa bùn lầy sâu đến ngang thắt lưng.
“Nước thế kia thì vớt vát cái nỗi gì? Có mà đông cứng cả người!”
“Ông Khoát giao chỉ tiêu mỗi người phải nạo vét xong ba mét khối bùn đặc trong buổi sáng nay, ai không xong thì hạ xuống công C. Rõ là ép người quá đáng!”
Giữa lúc đám đông đang ồn ào bất mãn, một bóng người từ phía đ**m canh đê bước thoăn thoắt lại gần.
Người đàn ông ấy có vóc dáng cao lớn vượt trội, bờ vai rộng và tấm lưng thẳng tắp như cây thông sừng sững giữa gió bấc. Anh mặc một chiếc áo trấn thủ chần bông màu cỏ úa đã sờn rách vài chỗ nơi khuỷu tay, để lộ những đường chỉ mạng lại cẩn thận, tỉ mỉ. Bên dưới là chiếc quần Tô Châu bạc phếch xắn cao quá gối, để lộ đôi bắp chân săn chắc, gân guốc màu đồng hun. Mỗi bước chân của anh bước đi trên mặt đê đất nện đều dứt khoát, chắc nịch, dẫu cho cái chân trái hơi khập khiễng nhẹ — di chứng của một mảnh đạn pháo cày xới ở chiến trường Tây Nam ác liệt mà anh từng tham gia trước khi phục viên về quê.
Khuôn mặt anh góc cạnh, sống mũi cao thẳng, đôi lông mày rậm hơi xếch lên trên đôi mắt đen sâu thẳm, cương trực và đượm vẻ trầm mặc từng trải.
Đó chính là Trần Bình — Đội trưởng Đội sản xuất số 3.
Vừa thấy bóng Bình, đám đông đang ồn ào bỗng dần hạ bớt giọng. Uy tín của Bình ở Đội 3 không phải đến từ chức danh hành chính do xã bổ nhiệm, mà đến từ chính con người anh: một người lính trở về từ cõi chết, nói ít làm nhiều, luôn là người đầu tiên đặt chân xuống bùn sâu và là người cuối cùng rời đồng ruộng.
Bình dừng lại ở mỏm đê cao nhất, đặt chiếc cuốc bàn nặng trịch xuống cạnh chân. Anh đưa mắt đảo qua một lượt khắp các xã viên, ánh mắt nghiêm nghị nhưng không hề có vẻ hách dịch hay quan cách như đám cán bộ chuyên ngồi bàn giấy ở ủy ban.
“Các đồng chí trật tự!”
Giọng Bình trầm ấm, vang rền và dứt khoát, át cả tiếng gió bấc rít qua rặng phi lao ven đê.
“Tôi vừa từ ban quản trị xã về. Ban chủ nhiệm, đích thân đồng chí Bùi Đắc Khoát đã chỉ thị: Toàn xã tập trung chiến dịch ba ngày vét thông toàn bộ tuyến mương dẫn nước từ sông Đáy vào Đầm Lội để chuẩn bị đón nước đổ ải vụ chiêm xuân. Chỉ tiêu huyện giao rất gấp, nếu không xong tuyến mương này trước khi trạm bơm dã chiến hoạt động, toàn bộ diện tích cấy lúa của Đội 3 và Đội 4 sẽ bị trễ lịch thời vụ.”
Một tiếng thở dài tập thể lại vang lên. Một lão nông ngẩng lên phân bua:
“Báo cáo đồng chí đội trưởng, chúng tôi không sợ khó, nhưng mương ngập bùn sâu thế kia, nước thì rét buốt như ngâm đá, lại toàn váng phèn đóng tảng. Lội xuống nửa tiếng là chân tay tê dại, da nứt toác rớm máu cả lượt thì làm sao mà kham nổi định mức ba khối một người?”
Bình nhìn người nông dân già, nét mặt anh dịu lại đôi chút, nhưng ánh mắt vẫn kiên định:
“Tôi hiểu cái khó của bà con. Đất ruộng nhà ai cũng là đất tập thể, cực thì cùng cực chung. Nhưng nếu hôm nay chúng ta vì rét mà lùi bước, bỏ dở dòng mương, thì tháng Ba tới đây cả làng lấy gì bỏ vào mồm? Mùa giáp hạt năm nay sẽ đói hơn năm ngoái gấp mười lần nếu mất vụ chiêm!”
Lời nói của Bình đánh trúng vào nỗi sợ hãi lớn nhất của tất cả mọi người: cái đói. Đám đông im phăng phắc. Cái đói là một thực tế tàn nhẫn, hiển hiện ngay trong từng manh áo rách, từng bữa ăn độn sắn củ mục của mỗi gia đình.
Bình mở cuốn sổ tay bìa bọc ni-lông đã quăn góc giắt ở túi ngực ra, cầm mẩu bút chì cùn:“Bây giờ tôi phân chia định mức cụ thể. Thanh niên khỏe mạnh và các đồng chí cựu chiến binh theo tôi phụ trách đoạn mương chính ngoài cửa cống dẫn — nơi bùn sâu và nhiều rác rưởi trôi dạt nhất. Chúng ta dùng sọt đan và đòn khiêng đưa bùn lên đắp gia cố chân đê. Chị em phụ nữ và các bác lớn tuổi phụ trách đoạn mương nhánh phía trong gò đồi, vét bùn non và dọn sạch cỏ lác hai bên bờ để khơi thông dòng chảy.”
Anh ngẩng lên, giọng đanh thép:
“Đoạn của tôi nhận gấp rưỡi định mức của bà con. Tôi lội xuống trước, các đồng chí theo sau. Ai hoàn thành vượt mức, tôi sẽ đề xuất ban quản trị cộng thêm hai điểm thi đua vào sổ công điểm cuối tháng. Rõ cả chưa?”
“Rõ rồi!” Vài ba tiếng thanh niên hô to đáp lại. Cách phân chia sòng phẳng, dũng cảm nhận phần việc nặng nhọc nhất về mình của Bình đã dập tắt mọi lời cằn nhằn. Người ta có thể bất mãn với những chỉ thị sáo rỗng của cấp trên, nhưng trước một người đội trưởng dám đi đầu chịu khổ như Bình, không ai có thể buông lời thoái thác.
Bình bắt đầu đọc tên từng tổ và chỉ định từng khúc mương. Đượm được phân vào tổ nạo vét mương nhánh cùng với mấy chị em khỏe mạnh trong xóm.
“Nguyễn Hoài An!” Bình cất tiếng gọi.
An giật mình, vội bước lên một bước:
“Có tôi!”
Bình ngước mắt nhìn cô. Ánh mắt anh dừng lại trên khuôn mặt xanh xao, đôi môi hơi tái nhợt vì lạnh và thân hình mảnh khảnh dường như có thể bị một cơn gió mạnh thổi bạt đi của An. Đôi lông mày rậm của anh khẽ nhíu lại trong thoáng chốc. Là người từng trải qua những cơn sốt rét rừng ngã nước ở chiến trường miền Nam, anh quá hiểu sự tàn phá khủng khiếp của căn bệnh ấy lên thể xác con người. Vài ngày trước, khi cô nằm mê man bên trạm xá xã, chính anh là người đã chạy vạy xin y tá từng viên kí-ninh mang về cho gia đình cụ Khiêm.
Bình nhìn xuống cuốn sổ, ngón tay chai sần lật lật trang giấy rồi cất giọng thản nhiên:
“Đồng chí An nhận đoạn bờ mương dẫn số năm, giáp chân gò Mạ Phấn.”
Mấy người xung quanh nghe thấy thế thì khẽ liếc nhìn nhau xì xào. Bờ mương số năm là vạt đất cao ráo nhất, nước chỉ ngập sâm sấp đến mắt cá chân, ít bùn lầy thụt mà chủ yếu chỉ có cỏ năn và đất pha sét bồi lắng. So với những đoạn mương ngập ngang hông ngập ngụa bùn đặc quánh của những người khác, vạt đất ấy nhẹ nhàng hơn rất nhiều.
Một người đàn bà chua ngoa trong xóm bĩu môi thì thầm:
“Đấy, người ta là con cụ giáo, lại từng đi thanh niên xung phong về có khác, được đội trưởng ưu ái gớm!”
Bình dường như không nghe thấy lời xầm xì, hoặc giả anh nghe thấy nhưng hoàn toàn không bận tâm. Anh cất cuốn sổ vào túi ngực cài cúc cẩn thận, rồi bước thẳng về phía An.
Khi đi ngang qua cô, bước chân hơi khập khiễng của anh chậm lại. Anh không nhìn thẳng vào mắt cô để tránh những ánh mắt soi mói của đám đông, chỉ cúi đầu, ghé sát và hạ giọng nói thật nhanh, âm thanh trầm đục chỉ vừa đủ cho hai người nghe:
“Đoạn gò Mạ Phấn đất tuy rắn, khó cuốc hơn một chút nhưng cạn nước, không có váng phèn. Đừng có dại dột mà lội xuống hố sâu theo người ta. Vết thương do sốt rét chưa lành hẳn, ngâm nước lạnh là ngấm vào xương tủy, tái sốt thì không thuốc nào cứu nổi đâu. Cứ túc tắc mà làm, xong được bao nhiêu thì ghi bấy nhiêu, không ai dám trừ điểm của cô đâu mà sợ.”
Dặn xong câu ấy, Bình không chờ An đáp lại, lập tức rảo bước đi thẳng về phía lòng mương chính sâu nhất. Anh thoăn thoắt cởi phăng chiếc áo trấn thủ bên ngoài, chỉ mặc chiếc áo lót ba lỗ bạc màu để lộ những múi cơ vạm vỡ nổi rõ từng thớ thịt cuồn cuộn trên lưng và cánh tay. “Bõm!” một tiếng dứt khoát, Bình nhảy thẳng xuống lòng mương ngập ngang thắt lưng, dòng nước bùn xám xịt bắn tung tóe. Chiếc cuốc chim trên tay anh bổ mạnh xuống lớp bùn quánh đặc, mở màn cho buổi lao động nhọc nhằn.
An đứng chôn chân trên bờ đê, nhìn theo bóng lưng vạm vỡ đang ngụp lặn dưới bùn sâu của người đàn ông ấy.
Một cảm xúc kỳ lạ, vừa ngỡ ngàng vừa cảm động len lỏi dâng lên trong lòng cô. Vẻ ngoài lầm lì, ít nói, có phần thô ráp và nghiêm khắc của Trần Bình hóa ra lại che giấu một trái tim vô cùng tinh tế, ấm áp và chu đáo. Anh biết cô vừa khỏi ốm, biết cơ thể cô yếu ớt không thể chịu nổi hàn khí của nước bùn, nên đã cố tình sắp xếp cho cô một vị trí an toàn nhất, đồng thời còn chọn lý do “đất rắn khó cuốc” để bịt miệng những kẻ hay ghen tị soi mói.
Một người đàn ông từng vào sinh ra tử trên chiến trường, mang thương tật trên người nhưng chưa từng đòi hỏi một chút đãi ngộ cá nhân nào, lại luôn âm thầm che chở cho những người yếu thế xung quanh bằng một cách thức kín đáo, vụng về nhưng đầy kiên định.
“Này, đứng đực mặt ra đấy làm gì thế con ranh? Đi nhanh lên kẻo người ta cuốc hết phần đất mềm!”
Tiếng huých vai và nụ cười ranh mãnh của Đượm kéo An trở về với thực tại. An khẽ chớp mắt, hít sâu một hơi luồng không khí buốt giá vào buồng phổi, siết chặt cán cuốc trong tay rồi gật đầu:
“Vâng, em đi ngay đây!”
Vạt mương số năm giáp chân gò Mạ Phấn quả thực cạn nước hơn nhiều. Dòng nước ở đây chỉ xăm xắp bàn chân, nhưng bù lại, đất ở đây là loại đất sét pha cát bị ngâm nước lâu ngày rồi phơi gió đông, tạo thành một bề mặt chai cứng, quánh dẻo vô cùng khó nhằn.
An xắn cao hai ống quần Tô Châu, cẩn thận bước xuống mép nước. Cái lạnh thấu xương của nước mùa đông lập tức xuyên qua làn da, buốt nhức như có hàng ngàn mũi kim châm vào từng thớ thịt. Cô khẽ rùng mình, nghiến chặt răng để ngăn không cho hai hàm răng va vào nhau cầm cập.
Cô vung cuốc lên.
“Phập!”
Lưỡi thép của chiếc cuốc bàn cắm sâu vào lớp đất sét khoảng vài phân, phát ra một âm thanh nặng nề. Khi cô dồn sức bẩy lên, lớp đất quánh đặc dính chặt lấy lưỡi cuốc như keo, nặng tựa ngàn cân. Cơ thể 22 tuổi suy dinh dưỡng này lập tức phản ứng: hai cánh tay cô run rẩy rã rời, hơi thở dồn dập đứt quãng, lồng ngực đau nhói lên từng cơn do di chứng của những đợt sốt rét rừng chưa tan hết.
An dừng lại th* d*c, lau giọt mồ hôi lạnh toát đang rỉ ra trên trán dù gió bấc vẫn gầm rít xung quanh. Cô nhìn quanh.
Khắp con mương dài hàng trăm mét, cảnh tượng lao động diễn ra trong một nhịp điệu kỳ quái. Những người đàn ông ở đoạn mương sâu của Bình thì đang ra sức xúc từng xẻng bùn nặng trịch, nhưng ở những đoạn mương khác của các tổ còn lại, không khí chùng xuống một cách thảm hại. Mấy chị em phụ nữ cắm cuốc xuống bùn rồi đứng tựa cằm vào cán, túm năm tụm ba thì thầm to nhỏ chuyện nhà ai hôm qua mổ trộm con lợn con, chuyện cửa hàng bách hóa huyện sắp về đợt vải úa mới. Thỉnh thoảng, khi thấy bóng dáng ông Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát đạp chiếc xe đạp Thống Nhất màu xanh xám từ đằng xa đi tới kiểm tra, họ mới vội vàng vục cuốc xuống nước, quẫy bùn lên sùng sục để tạo vẻ bận rộn hối hả.
“Làm giả ăn thật... Điểm danh chấm công...” An cay đắng nghĩ thầm.
Cái cơ chế cào bằng này đã g**t ch*t mọi động lực sáng tạo và nhiệt huyết lao động chân chính. Người ta biến việc công thành trò đối phó, trong khi đất đai thì hoang phế, kiệt quệ.
An cúi xuống, dùng tay bốc một nắm bùn pha đất sét dưới đáy mương lên quan sát.
Dưới lăng kính chuyên môn của một kỹ sư sinh học nông nghiệp, cô lập tức nhận ra vấn đề trầm trọng của vùng đất này. Nắm đất trên tay cô có màu xám xịt ngả sang xanh đen, mùi hôi thối nồng nặc của khí H2S sinh ra từ quá trình phân hủy kỵ khí của rơm rạ mục chìm dưới đáy nước lũ. Đất bị glây hóa cực kỳ nghiêm trọng, kết cấu đất bị phá hủy hoàn toàn, chua gắt với độ pH chắc chắn không vượt quá 4.5. Trên mặt nước, những váng phèn màu vàng rỉ sắt lững lờ trôi dạt.
Với chất lượng đất chua phèn và nghèo kiệt chất hữu cơ hữu dụng như thế này, nếu cứ theo cách làm truyền thống của hợp tác xã — chỉ biết cày xới thô sơ rồi cấy giống lúa chiêm cũ xuống mà không qua bất kỳ quy trình xử lý hóa sinh hay cải tạo vi sinh vật nào — thì năng suất vụ tới chắc chắn sẽ thảm hại. Lúa sẽ bị nghẹt rễ, vàng lá sinh lý, hạt lép trơ vỏ trấu.
Và khi ấy, cái đói mùa giáp hạt sẽ đổ ập xuống ngôi làng này như một cơn bão dữ.
An siết chặt nắm bùn trong tay, cảm nhận từng hạt cát sắc nhọn cọ xát vào da thịt. Bàn tay vốn đã chai sần vì những năm tháng thanh niên xung phong của thân xác này nay lại phải chịu đựng thêm những áp lực mới. Cán cuốc bằng gỗ xoan thô ráp cọ qua cọ lại liên tục vào lòng bàn tay mềm yếu bên trong.
Một cơn đau rát buốt nhói lên.
An buông cuốc, ngửa bàn tay phải ra nhìn. Lớp da mỏng ở gốc ngón tay trỏ và lòng bàn tay đã bị phồng rộp lên thành hai bọng nước to tướng từ lúc nào. Dưới lớp da căng mọng chứa dịch trong suốt, một vệt máu đỏ tươi đã bắt đầu rỉ ra, hòa cùng màu bùn xám xịt nhem nhuốc. Cảm giác đau rát xót xa nhói buốt lên tận tim gan mỗi khi gió lạnh thổi tạt qua.
Cơ thể này quá yếu ớt. Sức lực con người thô sơ này quá hữu hạn.
An ngẩng đầu nhìn về phía xa. Ở đằng kia, Trần Bình vẫn đang còng lưng xúc từng sọt bùn đen ngòm dưới đáy nước sâu buốt giá, cả thân hình anh ướt sũng bùn đất và mồ hôi, bước chân khập khiễng trượt đi trên bờ đất trơn trượt. Xa hơn nữa là những mái nhà tranh xơ xác của làng An Hòa đang ẩn hiện trong làn sương xám xịt của một buổi sáng mùa đông đói kém.
Một cảm giác bất lực xen lẫn sự phẫn uất âm thầm cuộn lên trong lồng ngực An.
Chỉ dựa vào sức cơ bắp cạn kiệt của những con người đói ăn này, chỉ dựa vào những chiếc cuốc bàn cùn gỉ và những khẩu hiệu thi đua suông của ông Chủ nhiệm Khoát, làm sao có thể đánh thức được mảnh đất cằn cỗi, chua phèn này? Làm sao có thể vượt qua được những ngày giáp hạt nghiệt ngã đang chực chờ phía trước khi mà từng hạt thóc giống trong kho còn đang bị đe dọa bởi nấm mốc?
Nếu cô không hành động, nếu cô không tìm cách vận dụng tri thức sinh học đang nằm trong đầu mình để thay đổi thực tế này — từng chút một, từ góc bếp đến bờ mương — thì cái đói và sự xơ cứng của thời đại này sẽ nghiền nát tất cả: từ gia đình nghèo khó của cụ Khiêm, những người dân chất phác như chị Đượm, cho đến cả người đàn ông đang dốc cạn sức lực dưới bùn sâu kia.
An cắn chặt môi đến bật máu, vị tanh ngọt của máu lan tỏa nơi đầu lưỡi. Bỏ mặc vết phồng rộp đang rỉ máu rát bỏng trong lòng bàn tay, cô lại một lần nữa nắm chặt lấy cán cuốc gỗ xoan lạnh ngắt.
Ánh mắt cô nhìn xuống vạt đất bùn chua phèn dưới chân bỗng trở nên kiên định và sắc lạnh lạ thường. Một cuộc chiến không tiếng súng, một cuộc chiến với đất, với bùn, với cái đói và với cả định kiến của thời đại đã thực sự bắt đầu ngay từ nhát cuốc rướm máu này.
, , vn, live
,
vn
Bình luận (0)
Đang tải bình luận...