Thiếu Niên Chờ Thần - Mạch Mạch Điền
Chương14: Letter.3
Cỡ chữ
Người gửi:
Touma
Người nhận:
Lâm Huống Dã
[email protected]
Chủ đề
: Sorry it took me so long. I’ve been trying to find you.
Ngày gửi:
Ngày XX tháng XX năm XXXX 01:30
Tám năm trước, trong suốt chuyến hành trình ấy, em đã luôn suy nghĩ về một điều: Tại sao anh lại có thể tin tưởng em một cách dễ dàng đến thế?
Đối với anh, em chẳng qua chỉ là một người lạ ở nơi đất khách quê người, một thiếu niên âm u, đầy phòng bị và nhạy cảm đến mức bất ổn. Vậy mà anh vẫn sẵn lòng thử hết lần này đến lần khác để bước đến gần em, không tính toán sự cố tình xa lánh của em, cũng chẳng nề hà việc em từng rút dao chĩa thẳng vào anh.
Dán nhãn cho các mối quan hệ, thô bạo phân loại rồi đóng khung chúng thực chất chỉ là một cách làm biếng. Còn sự tương tác một cách tự nhiên tưởng chừng tùy tiện kia, thực chất lại đòi hỏi một nguồn năng lượng khổng lồ để khám phá và giải mã nội tâm của một người khác. Thế nhưng, ngay cả cách làm biếng ấy em cũng chẳng thể làm tốt.
Em không biết phải phân loại những mối quan hệ xung quanh mình như thế nào. Những gương mặt thân quen kia, dẫu có gượng ép khoác lên mình danh xưng của một loại quan hệ xã hội nào đó, vẫn cứ khiến em thấy hoang mang tột độ.
Họ có phải gia đình không? Có phải bạn bè không?
Họ đã từng yêu em chưa? Và liệu em có từng yêu họ?
Còn anh…
Anh là gì của em?
Em đã dành phần lớn thời gian trong đời để chung sống với Keiko. Theo định nghĩa của các mối quan hệ xã hội, em gọi Keiko là mẹ.
Trong những năm đầu sau khi ly hôn, mỗi tháng Keiko đều nhận được ba trăm nghìn yên tiền cấp dưỡng từ người đàn ông đã ruồng bỏ bà. Số tiền đó tạm thời duy trì cuộc sống xa xỉ và an nhàn của Keiko như trước đây, cũng giúp bà trang trải việc nuôi dạy em một cách tử tế, và ấp ủ cả những giấc mộng hão huyền rằng “chồng sẽ quay đầu”.
Thế nhưng theo đà suy thoái của nền kinh tế, số tiền Keiko nhận được ngày một ít đi. Năm em lên ba, tiền cấp dưỡng mỗi tháng chỉ còn vỏn vẹn năm mươi nghìn yên.
Dù vẫn được ở trong căn hộ mà cha đã mua, nhưng chỉ với năm mươi nghìn yên thì hoàn toàn không đủ để chi trả cho cái ăn, cái mặc và đi lại của hai con người. Ngôi nhà của chúng em biến thành một “hộ nghèo” chứa đầy quần áo hàng hiệu và túi xách xa xỉ.
Dưới áp lực của cuộc sống, Keiko buộc phải đem bán từng món đồ hiệu yêu quý của mình cho các cửa hàng đồ cũ. Trong ký ức mờ nhạt của em, quãng thời gian đó Keiko thường xuyên suy sụp tinh thần. Bà không còn chăm chỉ dọn dẹp nhà cửa, cũng chẳng buồn nấu cơm. Bà vừa cắn móng tay vừa lo âu đi tới đi lui trong phòng, hoặc ngồi thẫn thờ trên ban công khóc lóc suốt nhiều giờ liền.
Khi đó em còn quá nhỏ để hiểu chuyện gì đang xảy ra. Em tiến lại gần bà, đưa ra đủ loại yêu cầu. Em đòi ăn, kéo bà bắt bà chơi cùng, đòi bà ôm em.
Keiko mất hết kiên nhẫn bèn đẩy ngã em xuống đất. Em nhìn thấy một gương mặt nhuốm đầy sự tủi nhục và thù hận đến mức vặn vẹo. Bà the thé gào lên: “Tất cả là lỗi của mày! Tại mày hết. Nếu không có mày, ông ấy đã không ngoại tình!”
Em vì sợ hãi mà khóc rống lên. Bà lôi em dậy khỏi sàn nhà, nhốt thẳng vào trong tủ quần áo. Trong bóng tối đặc quánh của ngăn tủ, em dốc sức đập cửa, vừa khóc vừa gọi: “Mẹ ơi! Con xin lỗi. Mẹ ơi!”
Keiko ở bên kia cánh cửa rít lên: “Ồn chết đi được! Câm mồm ngay!”
Em thu mình trong bóng tối khóc lóc cho đến khi kiệt sức. Chỉ đến khi em không còn phát ra âm thanh nào nữa, Keiko mới cho phép em ra ngoài.
Cái nghèo hiện hữu qua từng món đồ cụ thể: những hóa đơn tiền ga không thể chi trả, chiếc tủ lạnh trống rỗng, những chiếc túi hiệu bị đem bán.
Keiko nhận ra sự thật rằng bà đã bị chồng ruồng bỏ hoàn toàn. Và cùng lúc đó, em cũng nhận ra sự thật rằng mình đang bị mẹ căm ghét.
Em buộc phải học cách không nũng nịu nữa, nỗ lực kìm nén những thôi thúc muốn khóc.
Trong nỗi hoang mang mờ mịt ấy, em lớn lên đến năm bốn tuổi. Năm đó Keiko đưa em về quê ngoại ở Kumamoto, vùng Kyushu.
Bà ngoại nhìn thấy chúng em thì chẳng buồn che giấu sự thất vọng, thường xuyên thở ngắn than dài. Bà dường như không thích em, bà bảo: “Thằng bé này sao chẳng năng động chút nào, không nói không cười cũng không biết quấn quýt người lớn. Chẳng đáng yêu gì cả.”
Ông ngoại trái lại rất coi trọng em: “Đàn ông không cần nói nhiều.” Ông thích em, có lẽ đơn giản chỉ vì em là một đứa con trai.
Chúng em ở nhà ông ngoại được nửa năm, trong làng bắt đầu râm ran những lời ra tiếng vào, những câu chữ bọc lấy ác ý nhỏ nhen và sự hả hê trên nỗi đau của người khác.
Ông ngoại tích cực khuyên Keiko nên tranh thủ lúc còn trẻ mà mau chóng tái hôn, rồi cứ thế yên phận ở lại trong làng mà sống qua ngày.
Keiko im lặng lắng nghe tất cả, rồi vào cuối mùa hè năm đó, bà lén lút dắt em bỏ trốn khỏi nhà.
Trên biển tên trước cửa nhà ông ngoại có viết hai chữ “Murakami”. Thế nhưng Keiko không còn là Murakami Keiko nữa. Bà là Kiryu Keiko. Còn em là Kiryu Touma.
Trong căn nhà gỗ cũ kỹ ấy, chúng em định sẵn là những người ngoài, định sẵn là không thể ở lại lâu.
Chúng em định sẵn là những kẻ vô gia cư.
Khi quay trở lại Kyoto, Keiko cuối cùng cũng đã “vực dậy” tinh thần. Lời của ông ngoại đã nhắc nhở bà. Bà vẫn chưa già, vẫn còn rất nhiều cơ hội để tìm kiếm tình yêu.
Keiko bước ra khỏi nhà, tìm một công việc bán thời gian, tích cực lao vào hết cuộc tình này đến cuộc tình khác, nỗ lực tìm kiếm một người đàn ông sẵn lòng chi trả cho bà một cuộc hôn nhân. Bà thề sẽ lấy một người đàn ông tốt hơn hẳn chồng cũ.
Mỗi lần như thế, Keiko đều đeo sợi dây chuyền bạch kim mà cha tặng, sà vào lòng những người đàn ông khác nhau. Bà hết lần này đến lần khác dũng cảm dấn thân vào một cuộc chiến trong tưởng tượng. Đó là cuộc chiến của đàn bà. Bà muốn chứng minh cho tất cả mọi người thấy mình vẫn còn nhan sắc, vẫn còn được người ta “yêu”. Bà muốn chứng minh rằng ruồng bỏ bà là tổn thất của cha, là do ông ta có mắt không tròng.
“Touma, sợi dây chuyền của mẹ có đẹp không?” Bà luôn hỏi em như thế.
Em luôn trả lời: “Đẹp lắm ạ.”
Sợi dây chuyền bạch kim ấy trông rất giống một chiếc gông cùm lộng lẫy.
Em dần học được cách nhìn mặt đoán ý, trở nên ngoan ngoãn, nỗ lực không gây rắc rối cho Keiko. Mỗi khi Keiko dẫn đàn ông về nhà mây mưa, em sẽ tự mình kéo cánh cửa tủ quần áo rồi chui tọt vào trong.
Anh đã thấy cái tủ quần áo trong phòng kiểu Nhật bao giờ chưa?
Nơi đó không cách âm cũng chẳng thoáng khí, mùa hè thì nóng hầm hập còn mùa đông thì lạnh thấu xương. Em luôn ôm gối ngồi ở góc sâu nhất, dùng ngón tay mân mê những tia sáng len lỏi qua khe cửa. Em có thể nghe thấy tiếng th* d*c nặng nề của người đàn ông, nghe thấy thỉnh thoảng Keiko lại phát ra những tiếng kêu rú.
Từng phút từng giây trong tủ áo đều dài đằng đẵng, em thường nhỏ giọng tự an ủi mình: Không sao đâu, không sao đâu, đây là nơi Doraemon sống mà.
Mỗi khi kết thúc, tâm trạng Keiko thường rất tốt. Bà ôm em, mỉm cười với em, nói năng với em bằng giọng điệu dịu dàng hết mực. Bà yêu em như một người mẹ bình thường.
Vì vậy, mọi sự nhẫn nhịn đều là xứng đáng.
Chỉ là, đàn ông không ngại yêu đương với một người đàn bà đã ly hôn, nhưng chưa chắc đã sẵn lòng kết hôn với một người như thế. Dẫu Keiko có dốc hết sức mình, bà vẫn cứ thất bại. Mỗi lần thất tình, Keiko lại suy sụp khóc lóc thảm thiết, oán trách tất cả là lỗi của em. Nhưng đến ngày hôm sau, bà lại lau khô nước mắt, dậy sớm chuẩn bị cơm hộp cho em, rồi trang điểm rạng rỡ ra ngoài mỉm cười với một người đàn ông khác.
Trên tivi thường xuyên đưa tin về những người mẹ đơn thân rơi vào cảnh nghèo túng đã bỏ rơi hoặc g**t ch*t con mình. Mỗi khi xem được những tin tức như thế, Keiko lại ôm chặt lấy em.
Bà nói với em: “Mẹ yêu Touma nhất trên đời.”
Em dùng tay siết chặt lấy vạt áo bên hông bà: “Touma cũng yêu mẹ nhất.”
Em không hề nói dối. Em yêu Keiko. Ngay cả bây giờ, em vẫn yêu bà sâu đậm.
Khi đó, em toàn tâm toàn ý hy vọng bà có thể tìm được một ai đó để kết hôn. Em muốn bà được hạnh phúc. Em không hề hay biết, cũng chẳng đủ sức để hiểu rằng những người đàn ông kia rốt cuộc đã mang lại cho bà điều gì.
Vì ban ngày Keiko phải đi làm nên em được gửi vào nhà trẻ.
Ở đó, em đã gặp Kiryu Yuto – một đứa trẻ mà theo quan hệ huyết thống nên được định nghĩa là “em trai”.
Gương mặt chúng em giống nhau đến kỳ lạ, nhưng tính cách thì hoàn toàn trái ngược.
Lần đầu gặp mặt, Yuto đã rất chủ động tiếp cận em. Nó nhiệt tình đưa mô hình tàu hỏa nhỏ cho em chơi, em liền vung tay hất văng món đồ chơi trên tay nó.
Chúng em đều đang ở cái tuổi chập chững hiểu chuyện đời, yêu hay ghét đều là những việc thật dễ dàng. Keiko nói với em rằng, thằng bé tên Yuto đó là con của mụ đàn bà xấu xa đã phá nát gia đình chúng em. Thế là, em có đầy đủ lý do để ghét nó.
Trớ trêu thay, em và Yuto lại là hai đứa trẻ có thời gian gửi ngoài giờ dài nhất ở nhà trẻ. Sau khi những đứa trẻ khác được đón về, chúng em vẫn phải ở lại lớp chờ đợi mẹ mình.
Em vẫn còn nhớ mang máng, trên mặt sàn gỗ tắm đẫm ánh hoàng hôn của lớp học, luôn có bóng của em và nó đổ dài trên đó.
Em ngó lơ Yuto, nhưng Yuto không hề từ bỏ việc tiến lại gần em. Nó tặng em những miếng dán hình siêu nhân Anpanman, rồi tự tiện dán lên ba lô của em. Em bóc sạch chúng rồi vứt xuống đất.
Anh biết không? Chẳng có cậu bé nào có thể cưỡng lại được những miếng dán Anpanman cả. Em cũng muốn chúng. Em cực kỳ muốn chúng.
Thế nhưng dù rất luyến tiếc, em vẫn sẵn lòng vì Keiko mà từ bỏ tất cả.
Sau đó Yuto đã đánh nhau với em một trận, cả hai đều khóc rất thảm. Thế nhưng ngày hôm sau vừa thấy em, nó đã lại hớn hở chạy đến bắt chuyện. Em chán ghét hỏi nó: “Tại sao mày cứ phải tìm tao để nói chuyện làm gì?”
Yuto gãi gãi sau gáy, bĩu môi: “Nhà người ta ai cũng có anh chị em, nhà em chỉ có mỗi mình em thôi. Mọi người bảo anh là anh trai của em. Em đã luôn rất muốn được gặp anh.”
Em sững sờ, không nói được lời nào.
Em đã quyết định ghét Yuto một cách thật dễ dàng. Còn Yuto, chỉ vì một danh xưng “anh trai” mà đã dễ dàng quyết định yêu quý em.
Thị trấn này rất nhỏ, em và Yuto buộc phải lên cùng một trường tiểu học, rồi lại buộc phải vào cùng một trường trung học. Trong những tình huống “buộc phải” ấy, chúng em bị ép phải ở cạnh nhau mỗi ngày.
Ghét một người nhìn qua thì có vẻ đơn giản, nhưng để duy trì sự chán ghét đó lâu dài thì lại vô cùng khó khăn, nó tiêu tốn rất nhiều sức lực.
Khi lớn dần lên, em không còn đối xử với nó một cách cứng nhắc và kháng cự như trước nữa. Yuto đối xử với em rất thân thiết, nhưng cũng lại bá đạo không cho những bạn học khác làm bạn với em. Còn em thì trở nên khôn khéo và lười biếng, duy trì một mối quan hệ hòa thuận hời hợt với nó.
Em cố tình không suy nghĩ về mối quan hệ trớ trêu giữa mình và Yuto, cũng chẳng buồn dọn dẹp nội tâm của chính mình. Cứ thế mà sống qua ngày.
Hồi tiểu học, nơi đây từng xảy ra một trận đại địa chấn. Ngay cả bây giờ, em vẫn nhớ như in trận động đất đó.
Cơn rung chuyển dữ dội đột ngột hất văng em từ chỗ ngồi xuống sàn nhà. Trong lớp tiếng la hét vang lên khắp nơi. Yuto từ đầu kia của lớp học bò bằng cả tay lẫn chân tới chỗ em, đẩy em vào dưới gầm bàn rồi ôm chặt lấy đầu em.
Tin tức nói rằng, cơn rung chấn của trận động đất đó kéo dài tròn ba mươi giây. Trong ba mươi giây đằng đẵng đó, chúng em đã từng nương tựa vào nhau mà sinh tồn.
Em buộc phải nhìn nhận lại mối quan hệ của chúng em. Chúng em là anh em. Chúng em chung một dòng máu.
Và em ghét nó.
Em cũng yêu quý nó.
Trong cuộc sống của em, ngoài Keiko và Yuto ra, còn có một người nữa. Và dẫu là hiện tại, em vẫn không biết nên định nghĩa mối quan hệ giữa em và bà ấy như thế nào.
Người đó là Marina.
Lần đầu tiên em gặp Marina là ở cổng nhà trẻ, bà ấy đến đón Yuto tan học. Khi đứng ở cửa và nhìn thấy em, bà ấy khẽ bật cười một tiếng.
“Cháu là Touma?” Marina tựa lưng vào khung cửa, lười biếng đánh giá em, “Đúng là anh em có khác. Giống nhau thật đấy.”
Em trừng mắt nhìn bà ấy trân trân, cố gắng phóng ra sự giận dữ già trước tuổi, nhưng chẳng hề gây ra được chút sát thương nào. Bởi vì Marina chẳng mảy may quan tâm.
Khi Yuto ôm đồ đạc và ba lô bước ra, Marina quay đầu bước đi luôn.
Khoảnh khắc đó em đột nhiên nhận ra, hóa ra Marina và Keiko hoàn toàn khác biệt. Họ là những người mẹ trái ngược nhau.
Marina sẽ không cầm đồ giúp Yuto, không nắm tay nó. Bà ấy thậm chí không muốn vì Yuto mà bước chậm lại, mặc kệ cho Yuto không ngừng gọi “Mẹ ơi, mẹ ơi” mà lảo đảo đuổi theo phía sau.
Cuối cùng em đã biết lý do tại sao Yuto lại chấp niệm với việc tiếp cận em đến thế.
Yuto đã cướp mất cha của em, cướp mất gia đình của em, cướp mất cuộc sống sung túc. Nhưng mẹ của nó không yêu nó.
Người mẹ đã trở thành thứ duy nhất em có thể đem ra để chiến thắng Yuto. Trong những năm tháng sau này, em đã mang theo ác ý nhỏ nhen, hết lần này đến lần khác phô trương trước mặt nó thứ tình mẫu tử ít ỏi mà em sở hữu.
Đến sau này, xét theo một ý nghĩa nào đó, em thậm chí đã đoạt lấy Marina của Yuto.
Lên tiểu học, em chính thức “tốt nghiệp” khỏi ngăn tủ quần áo trong nhà.
Mỗi khi Keiko cần em rời đi, em sẽ ra ngồi ở công viên nhỏ đối diện khu chung cư. Cạnh công viên là cả một vùng ruộng lúa rộng lớn, đối diện ruộng lúa là đường sắt. Khi màn đêm buông xuống, những chuyến tàu điện phát sáng sẽ lao vun vút trên những bông lúa. Em biết đích đến của chúng, chuyến rẽ trái sẽ đến Nara, chuyến rẽ phải sẽ đến Kyoto.
Em luôn cuộn tròn trong góc tối mờ của công viên, ngơ ngác nhìn những chuyến tàu sáng rực xình xịch lướt qua. Trong lòng em không biết từ đâu nảy sinh ra những khao khát khẩn thiết. Em khao khát được bước lên một trong những chuyến tàu đó. Dẫu cho em chẳng hề biết đích đến của mình nên là nơi nao.
Rồi một ngày nọ, em đã gặp Marina ở công viên này.
Marina tình cờ đi ngang qua. Khi nhìn thấy em, bà ấy sững lại một chút, dùng tông giọng cường điệu nói: “Làm tôi giật cả mình, cứ tưởng là Yuto nhà mình chứ.”
Em quay mặt đi, nhìn bà ấy một cái lạnh nhạt rồi cúi đầu im lặng.
Keiko đã nhồi nhét vào đầu óc em rất nhiều định kiến. Bà nói: “Loại đàn bà đó chắc đến cả việc pha trà lúa mạch bỏ vào tủ lạnh cũng chẳng biết làm đâu.”
Thế là Marina trở thành nhân vật phản diện lớn nhất trong tuổi thơ của em. Bà ấy là mụ đàn bà xấu xa, là phù thủy, là hồ ly tinh, là cái loại đàn bà lười biếng đến trà lúa mạch cũng không biết chuẩn bị. Em đã vô số lần cầu nguyện kết cục cuộc đời của Marina là phải xỏ chân vào đôi giày cao gót đỏ rực nóng cháy, la hét nhảy múa rồi lao xuống vực thẳm mà chết.
Marina tiến lại gần, ngồi xuống ghế dài một cách xuề xòa. Bà ấy vắt chéo chân, chiếc giày cao gót móc hờ nơi đầu ngón chân, đung đưa qua lại.
“Cháu làm gì ở nơi này thế?”
Em xem bà ấy như không khí, thầm hạ quyết tâm tuyệt đối không nói chuyện với loại đàn bà này.
Một đoàn tàu điện từ cuối ruộng lúa lao tới, những ô cửa sổ giống như những khối vuông phát sáng đang bay nhanh. Em ngẩng đầu, xoay đầu từ phải sang trái, nhìn chằm chằm vào đoàn tàu cho đến khi nó biến mất trong những dãy nhà thấp bé cũ kỹ.
Marina khẽ cười một tiếng, nói: “Cháu cũng muốn rời khỏi đây đúng không?”
Em cúi đầu, dùng sức bóp chặt những ngón tay mình. Em cảm thấy việc bị nói trúng tâm sự là một điều vô cùng sỉ nhục.
“Thế giới bên ngoài khác biệt lắm, nên đi xem thử cho biết.” Marina hoàn toàn không bận tâm đến sự im lặng của em, cứ như đang tự lẩm bẩm một mình, “Tôi đã đi khắp cả châu Âu, cũng đã đến Mỹ rồi.”
Lời của Marina đã khơi dậy trí tò mò của em. Em không tự chủ được mà quay mặt sang, lén lút quan sát bà ấy.
“Có điều, nơi nào thì cũng có những đống rác của riêng nơi đó thôi. Cái thế giới này vốn dĩ thối nát như một đống cứt vậy.” Marina chẳng hề kiêng dè mà dùng những từ ngữ th* t*c. Trước đó, em chưa bao giờ nghe thấy từ “đống cứt” phát ra từ miệng của bất kỳ người phụ nữ nào.
“Nhưng tôi nói thì chẳng tính là gì đâu. Đợi cháu lớn rồi, hãy dùng chính đôi mắt của mình mà đi xem. Bên ngoài dù sao cũng sẽ tự do hơn ở đây đôi chút.” Marina hạ chân xuống rồi đứng dậy. Bà ấy mở ví, lấy ra một tờ một vạn yên đưa cho em.
“Cháu không lấy.” Em nỗ lực khiến thái độ của mình trông thật lạnh lùng.
“Từ đây bắt tàu điện đến Kyoto, ở Kyoto chuyển sang Shinkansen đến Tokyo, ở sân bay quốc tế Tokyo cháu có thể đi đến hầu hết các quốc gia trên thế giới này.” Marina nói, “Nhưng không có tiền thì cháu chẳng đi đâu được cả.” Nói xong, bà ấy đặt tờ tiền lên đầu gối em.
“Yên tâm đi. Đây không phải là tiền bồi thường cho việc cướp mất cha của cháu đâu. Cháu không cần ép bản thân phải tha thứ cho tôi. Tôi chẳng phải người tốt lành gì, dẫu có tạ tội cũng chẳng cứu vãn được gì cả. Những ngày tháng hiện tại đối với tôi đã là sự trừng phạt rồi.” Marina nói bằng tông giọng nhẹ tênh, “Đây là khoản tài trợ khởi động giấc mơ của cháu. Nếu không muốn thì cứ vứt vào thùng rác hoặc đem cho người vô gia cư cũng chẳng sao.”
Một cơn gió thổi tới, khiến tờ một vạn yên đó lung lay sắp rớt. Em đã rất không có tiền đồ mà ấn chặt lấy tờ tiền đó.
Marina khoác lại túi xách, nhấc chân định đi.
“Có thật là cô không chuẩn bị trà lúa mạch trong tủ lạnh không?” Em không biết tại sao mình lại hỏi một câu ngớ ngẩn đến vậy. Có lẽ chỉ đơn giản là vì một chút lòng thù ghét nhỏ nhen trẻ con, em muốn mỉa mai bà ấy một chút.
“Dĩ nhiên là có chuẩn bị chứ.” Marina nói, “Chẳng lẽ tôi không cần uống sao?” Bà ấy trả lời xong câu hỏi kỳ lạ này liền đi thẳng, đến một lời chào tạm biệt cũng không nói.
Em ngơ ngác nhìn theo bóng lưng bà ấy cho đến khi bà hoàn toàn hòa vào bóng đêm. Không hiểu sao, em cảm thấy bà ấy giống như một cái xác không hồn nhưng vẫn đang thở. Miệng thì đầy sự bất cam, nhưng trong mắt lại chứa đựng tử khí vô tận.
Lại một đoàn tàu điện nữa lướt qua. Tiếng xình xịch nương theo gió đêm, bị những đợt sóng lúa nhấp nhô xô tới.
Em siết chặt tờ một vạn yên đó, im lặng tiễn đoàn tàu đi xa.
Khi đó em không hề biết.
Vào năm mười sáu tuổi của nhiều năm sau đó, em đã bước lên một trong những chuyến tàu ấy, đi đến Tokyo, và gặp được anh.
, , vn, live
,
vn
Bình luận (0)
Đang tải bình luận...