Hương Bưởi Bên Cầu Phù Sa
Chương6: Bão mặn tràn bờ
Cỡ chữ
Cơn gió chướng rít qua ngọn dừa nước ngoài vàm sông không còn mang theo vị ngai ngái lành lạnh của hơi nước ngọt phù sa như mọi bận. Nó khét lẹt, hanh hao và mằn mặn như ai đem muối hột rang trên chảo gang rồi thổi thốc vào mặt người.
Tiếng loa phát thanh trên nóc nhà lồng ấp vừa dứt, cả vạt cù lao An Bình như chìm vào một khoảng lặng nghẹt thở. Nhưng cái tĩnh mịch ấy chỉ kéo dài được chừng tàn điếu thuốc, rồi lập tức vỡ vụn bởi chuỗi âm thanh hỗn loạn: tiếng người í ới gọi nhau thất thanh dọc theo bờ rạch, tiếng chân chạy thình thịch trên đan cầu nông thôn, tiếng đập búa chan chát và tiếng ròng rọc rít ken két khi các tổ tự quản hối hả hạ những cánh phai bằng sắt dày cộp ở miệng cống thủy lợi ngoài vàm sông Tiền.
Đóng cống! Phải ngăn mặn tràn vào bằng mọi giá!
Thường năm, phải đợi tới cuối tháng Giêng hay tận rằm tháng Hai âm lịch, khi nước từ thượng nguồn Mekong cạn kiệt, con nước mặn chát của biển Đông mới lần mò ngược dòng vào sâu trong đất liền. Thế nhưng năm nay, đợt hạn mặn lịch sử ập đến sớm hơn dự báo gần cả tháng trời. Gió chướng thổi dữ dội kết hợp cùng kỳ triều cường cực đoan đã đẩy lưỡi mặn bốn phần ngàn lội ngược hàng chục cây số, phong tỏa bốn bề cù lao như một chiếc thòng lọng vô hình siết chặt lấy yết hầu của hàng trăm héc-ta miệt vườn trù phú.
Đứng giữa mảnh vườn nhà, Tú cảm nhận rõ lồng ngực mình thắt nghẽn lại. Bàn tay cô, nơi những vết xước măng rô mới vừa rỉ máu khi nãy vì bới đất kiểm tra rễ bưởi, lúc này tê buốt đi. Gió chướng táp vào da thịt rát bỏng. Cô nhìn xoáy vào khoảng đất nâu tơi xốp dưới chân — nơi lớp rễ tơ trắng muốt như ngọc vừa bung nở sau bao công sức ủ men, xới đất và nâng niu.
Rễ non vừa nhú, mềm mại và mong manh như da thịt trẻ sơ sinh. Thứ rễ ấy gặp được nước ngọt phù sa thì đâm sâu ngàn dặm, nhưng chỉ cần một giọt nước mặn chát lọt vào, muối khoáng sẽ rút sạch dịch tế bào, thiêu cháy chóp rễ non chỉ sau vài con trăng.
“Tú… Tú ơi! Mau xách thùng ra đây phụ tía vét mương!”
Tiếng gọi khản đặc của ông Ba Sang dội lên từ con mương xẻ giữa hai liếp bưởi kéo cô giật mình quay ngoắt lại.
Dưới đáy mương, ông Ba Sang đang lom khom lội bì bõm trong lớp bùn lỏng. Dáng người ông gầy guộc, chiếc áo bà ba màu chàm ướt sũng dán chặt vào tấm lưng còng gập. Đôi bàn tay gầy guộc nổi đầy gân xanh của ông cầm chiếc gàu sòng bằng thiếc, cố múc từng vạt bùn nhão nhoét đắp cao lên bờ bao quanh gốc bưởi nhằm ngăn nước thẩm thấu. Tiếng thở của ông rít lên từng hồi nặng nhọc, đứt quãng, xen lẫn những cơn ho rũ rượi như muốn xé toạc buồng phổi già nua.
“Tía! Tía lên bờ mau đi tía! Lưng tía đang sưng tấy lên kìa, tía lội bùn vậy rủi phong thấp ngấm vô là liệt giường đó tía!”
Tú hớt hải buông chiếc muỗng gỗ bới đất, vén vội tà áo bà ba chạy vội xuống bờ mé mương. Đáy mương nước đã cạn phân nửa vì nước ròng, nhưng lớp bùn thì dẻo quánh lại. Khi bước chân Tú vừa chạm xuống làn nước mương vườn, một cảm giác lạnh buốt rồi châm chích râm ran truyền thẳng qua da thịt.
Tú khựng người lại. Nước mương… có gì đó bất thường!
Cống bọng đầu vàm đã hạ cửa sắt đóng kín mít từ xế trưa, nhưng tại sao nước trong mương vườn nhà cô không còn cái màu đỏ đục quen thuộc của phù sa sông Tiền? Mặt nước phẳng lặng một cách ma quái, trong vắt đến độ có thể nhìn thấu lớp rong đuôi chó chết thối dưới đáy, nhưng trên bề mặt lại nổi lên từng mảng váng mỏng lấp lánh như vệt dầu loang.
Tú vội vàng ngồi thụp xuống bờ liếp, nhúng những ngón tay run rẩy xuống dòng nước rồi đưa lên đầu lưỡi nếm thử.
Chát ngắt! Vị mặn đắng nghét, the the xộc thẳng lên tận cuống họng khiến cô sặc sụa, phải nhổ vội búng nước bọt ra bờ cỏ.
“Nước mặn… Nước mặn lọt vô mương vườn rồi tía ơi!” Tú thảng thốt kêu lên, giọng lạc đi vì kinh hoàng.
Ông Ba Sang đứng chết trân giữa lòng mương, chiếc gàu sòng trên tay ông rơi đánh “tõm” xuống vũng bùn lầy, bắn tung tóe những giọt nước đen ngòm lên vạt áo chàm. Đôi mắt già nua đùng đục của ông trừng lớn, nhìn con gái như không tin vào tai mình:
“Mày… mày nói bậy cái gì vậy Tú? Cống đầu ấp Năm Lợi với xóm Trổ đã đóng cứng ngắc từ lúc còi hú ngoài sông mà! Đất vườn nhà mình đắp đê bao cao nghều, làm sao nước sông tràn vô được hả con?”
“Nó không tràn trên mặt, mà nó thẩm thấu dưới đáy mương!” Tú nghẹn ngào, bàn tay bấu chặt vào bờ đất nham nhở. “Đợt hạn này sông cạn đáy, áp lực nước mặn ngoài sông lớn hơn trong nội đồng. Đất cù lao mình toàn mạch cát pha sét ngầm, nước mặn luồn theo túi cát dưới đáy sông, ép trào ngược lên đáy các con mương vườn… Nó ngấm từ dưới ngấm lên rồi tía ơi!”
Dưới cái nắng quái ác của buổi ban chiều đang dần tắt, lời giải thích rành rẽ của đứa con gái học nông nghiệp như một nhát búa tạ giáng thẳng vào tâm can người nông dân già.
Ông Ba Sang run rẩy ngước nhìn lên rặng bưởi mười lăm công của gia đình. Và như để chứng thực cho cơn ác mộng đang hiện hữu, những cây bưởi da xanh bắt đầu phản ứng trước độc tố của dòng nước ngầm mặn chát.
Chỉ trong vòng hai ngày nắng hạn gay gắt vừa qua kết hợp với mạch nước mặn rỉ vào đất, tầng rễ dưới sâu của những gốc bưởi cổ thụ đã bị ngộ độc muối clo và natri cực độ.
Từ đầu cành, những chiếc lá bưởi xanh mướt bỗng cuộn mép lại, đầu chóp lá khô quắt, chuyển sang màu vàng cháy xém như vừa bị ai đem hơ qua lửa ngọn. Và rồi, một cảnh tượng đau đớn đến xé lòng diễn ra ngay trước mắt hai cha con.
Những chùm hoa bưởi vụ nghịch — niềm hy vọng duy nhất của ông Sang để gỡ gạc lại vụ bưởi Tết vừa mất trắng — vốn đang chúm chím hé nở những cánh hoa trắng ngà thơm dịu dàng, bỗng chốc rung rinh rệu rã. Một cơn gió chướng thổi qua, hàng vạn cánh hoa bưởi cùng những trái non mới bằng đầu ngón tay cái bắt đầu trút xuống lả tả.
Cánh hoa bưởi trắng tinh khiết rụng rào rào, rơi lả tả xuống mặt đất nứt nẻ, trút xuống mái đầu bạc phơ của người cha già, và trôi bồng bềnh dập dềnh trên mặt nước mương vườn đen ngòm váng phèn. Trắng xóa cả một khúc mương. Trắng đến rợn người, trắng tang tóc tựa như một trận tuyết rơi lạnh lẽo giữa buổi chiều oi nồng nơi miệt vườn phương Nam.
“Hoa rụng… Hoa rụng hết trơn rồi trời ơi!”
Ông Ba Sang gào lên một tiếng thảm thiết. Ông không màng đến chiếc lưng đau buốt, quýnh quáng quỳ sụp xuống lòng mương, dùng đôi bàn tay thô nhám vốc từng vốc cánh hoa bưởi ướt sũng dán vào lồng ngực mình, như người mẹ cố níu giữ đứa con thơ đang hấp hối.
“Đừng rụng mà… Đừng rụng nữa bưởi ơi! Tía lạy tụi bây… Ra giêng tía còn phải trả tiền phân thuốc cho người ta, tía còn phải giữ đất cho con Tú… Tụi bây rụng hết rồi thì cha con tao biết sống làm sao đây hả trời?!”
“Tía! Tía đừng vậy mà tía, lên bờ đi tía!” Tú khóc nấc lên, lao xuống dòng mương lầy lội, hai tay ôm chặt lấy bờ vai khẳng khiu của cha, cố sức kéo ông đứng dậy.
Nhưng ông Ba Sang như phát dại. Cơn đau thể xác từ đốt sống lưng bị thoái hóa nặng chèn ép tủy sau những ngày lao lực quá độ, cộng hưởng với cú sốc tinh thần tột cùng khi nhìn cơ nghiệp tổ tiên sụp đổ trước mắt, đã vắt kiệt chút sinh lực cuối cùng của người đàn ông cả đời gắn bó với đất đai.
Ông nấc lên một tiếng nghẹn ứ nơi cổ họng, đôi mắt trợn ngược, toàn thân mềm nhũn rồi đổ ập xuống mép bờ rạch, bất tỉnh nhân sự.
“Tía! Tía ơi! Cứu… Cứu tía tôi với! Ai ở gần đó cứu tía tôi với!”
Tiếng thét xé ruột của Tú vang vọng khắp khúc sông vắng. Cô dùng hết sức bình sinh bế thốc đầu cha lên khỏi vũng bùn lầy, một tay đỡ lấy tấm lưng gầy gò của ông, nước mắt giàn giụa nhỏ xuống gương mặt tím tái, cắt không còn hột máu của người cha già.
May thay, vừa lúc đó, ngoài ngõ vườn có tiếng bước chân chạy dồn dập. Út Lành cùng Đực Nhỏ tay xách mấy chiếc can nhựa rỗng chạy sang, định bàn việc trữ nước ngọt, nghe tiếng Tú la thất thanh liền phóng thục mạng xuống mương.
“Trời đất quỷ thần ơi! Chú Ba bị làm sao vậy chị Tú?!” Đực Nhỏ la lớn, quăng phịch chiếc can nhựa xuống đất, nhảy ào xuống xốc nách ông Ba Sang lên.
“Tía chị ngất xỉu rồi! Đực, phụ chị bế tía lên võng trong nhà mau lên!” Tú gạt nước mắt, giọng run rẩy nhưng vẫn cố giữ lấy sự tỉnh táo cuối cùng của một người con.
Ba người trẻ tuổi xúm xít lại, người nâng đầu, kẻ bợ chân, chật vật đưa ông Ba Sang vượt qua con dốc bờ liếp trơn trượt để vào nhà. Đực Nhỏ cẩn thận đặt ông nằm ngay ngắn trên chiếc phản gỗ gõ đỏ giữa gian nhà trên, trong khi Út Lành quýnh quáng chạy đi lấy dầu gió cạo gió và giục Đực ra trạm xá ấp mời y sĩ.
Tú ngồi quỳ bên mép phản, đôi bàn tay run rẩy xoa dầu nóng lên thái dương và lồng ngực cha. Nhìn những vết đồi mồi lốm đốm trên làn da sạm nắng, nhìn sống mũi hóp lại và đôi bờ môi nứt nẻ khô khốc của cha, lòng Tú đau thắt như có ngàn mũi dao cào xé. Tất cả bi kịch này, gánh nặng nợ nần này, đều do mảnh vườn mà ra. Suốt bao năm qua, cha cô đã âm thầm chịu đựng sự bóc lột của thương lái, cắn răng gánh vác mọi nhọc nhằn chỉ để nuôi cô ăn học thành tài trên thành phố. Vậy mà ngày cô trở về, thứ cô mang lại cho ông chưa được bao nhiêu thì giông bão đã chực chờ cuốn phăng tất cả.
Sau một hồi day bấm huyệt nhân trung và xoa bóp dầu nóng, ông Ba Sang khẽ cựa mình, phát ra những tiếng r*n r* yếu ớt trong cơn mê sảng: “Bưởi… hoa bưởi trôi trắng sông rồi… Đừng bán đất… đừng ký giấy nghen con…”
Nước mắt Tú lại ứa ra, cô nắm chặt lấy bàn tay gầy trơ xương của cha, áp vào má mình: “Dạ, con nghe tía… Con không bán đất đâu tía. Con ở đây với tía, con nhất định cứu vườn bưởi, tía ráng khỏe lại nghen tía…”
Khi tiếng thở của ông Sang bắt đầu đều lại đôi chút, Tú mới tạm buông tay cha. Cô bước nhanh ra chiếc bàn tre trước hiên, mở chiếc túi xách chuyên dụng lấy ra chiếc bút đo độ mặn điện tử — dụng cụ cô luôn mang theo bên mình từ ngày rời phòng thí nghiệm.
Tú bước phăm phăm ra lại bờ mương, múc một ca nước lưng chừng, cắm sâu đầu điện cực kim loại của chiếc bút đo vào.
Màn hình tinh thể lỏng nhỏ xíu nhấp nháy vài giây rồi hiện lên những con số điện tử màu đen sắc lạnh.
Tú nín thở nhìn vào màn hình. Đồng tử cô co rút lại kịch liệt.
Bốn phẩy hai phần ngàn (4,2‰)!Con số nhảy múa như một bản án tử hình tàn khốc. Cây bưởi da xanh chỉ có thể chịu đựng được nồng độ mặn tối đa là một phẩy lăm phần ngàn đối với những cây cổ thụ khỏe mạnh, còn đối với những chóp rễ tơ non nớt vừa mới nhú ra từ chế phẩm vi sinh, nồng độ an toàn tuyệt đối phải dưới một phần ngàn. Với độ mặn vượt ngưỡng bốn phần ngàn thế này, chỉ cần ngâm trong đất từ ba đến năm ngày, toàn bộ hệ vi sinh bản địa vừa gầy dựng sẽ bị tiêu diệt sạch trơn, lớp rễ mới sẽ bị thối rữa hoàn toàn, và mười lăm công bưởi cổ thụ của gia đình cô sẽ chết đứng từ gốc lên ngọn.
“Tú! Nhỏ Tú có nhà hông mậy?!”
Một giọng nói the thé, đượm vẻ giả lả và trịch thượng bất ngờ xé toạc bầu không khí tang thương ngoài ngõ vườn.
Tú giấu chiếc bút đo vào túi áo bà ba, quay ngoắt lại. Dưới bóng râm của hàng cau trước ngõ, Năm Lợi đang khệnh khạng bước vào. Gã mặc chiếc áo sơ mi chim cò sặc sỡ mở phanh ngực, để lộ sợi dây chuyền vàng to bản lủng lẳng mặt nanh heo rừng, cái bụng phệ rung rinh theo từng bước đi nặng nề. Đi kèm phía sau gã không phải là đám bốc vác quen thuộc, mà là hai gã thanh niên mặc âu phục phẳng phiu, tay xách cặp da bóng lộn, đeo thẻ nhân viên có in logo hình bông lúa cách điệu bằng kim loại sáng loáng: Tập đoàn Nông nghiệp Hoàng Thịnh.
Trên tay đám người này cầm từng xấp giấy bóng loáng in màu đỏ rực, vừa đi vừa rải dọc đường đan và ném thẳng vào sân các nhà xung quanh.
“Mấy người tới đây mần chi?” Tú lạnh lùng chắn ngay trước bậc tam cấp, ánh mắt sắc như dao nhìn thẳng vào mặt Năm Lợi. “Tía tôi đang bệnh nặng, nhà tôi không có chuyện gì để tiếp chuyện mấy người!”
Năm Lợi không thèm để tâm đến thái độ gay gắt của Tú, gã cười khẩy một tiếng, đôi mắt ti hí đảo quanh mảnh vườn xơ xác rồi dừng lại ở những chùm hoa bưởi đang rụng trắng xóa mé mương. Gã tặc lưỡi, làm bộ làm tịch thương xót:
“Chèn ơi, ngó bộ vườn tược của thủ khoa đại học bữa nay coi bộ ‘xanh tốt’ dữ dằn ha! Hoa rụng trắng mương như đám ma vầy mà cũng ráng gượng hả cháu? Tao đã nói từ tuần trước rồi mà hổng chịu nghe lời người lớn, cứ khoái làm ba cái trò vi sinh bùa ngải chi cho mệt xác!”
Một gã thanh niên đi cùng Năm Lợi bước lên nửa bước, chìa ra một tờ rơi bóng loáng trước mặt Tú, cất giọng đều đều như cái máy được lập trình sẵn:
“Chào chị. Chúng tôi là đại diện pháp lý và phát triển quỹ đất của Tập đoàn Hoàng Thịnh. Trước tình hình thiên tai hạn mặn khốc liệt ngoài dự báo, Tập đoàn chúng tôi phối hợp cùng anh Năm Lợi đây triển khai ‘Gói cứu trợ tài chính khẩn cấp vì nông dân cù lao’. Chúng tôi hỗ trợ cho mỗi hộ vay từ năm mươi đến hai trăm triệu đồng tiền mặt ngay trong ngày để giải quyết nợ nần và sinh hoạt mùa hạn…”
“Điều kiện là gì?” Tú ngắt lời gã, giọng đanh lại, ngón tay cô siết chặt mép áo bà ba.
Gã thanh niên mỉm cười nhẹ, nụ cười toát ra vẻ sắc lạnh, thực dụng của dân buôn địa ốc lão luyện:
“Điều kiện vô cùng đơn giản và nhân văn: Thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho Tập đoàn. Thời hạn vay là sáu tháng. Sau sáu tháng, nếu các hộ không thể thanh toán cả gốc lẫn lãi theo quy định, hoặc vườn cây suy kiệt không thể phục hồi, Tập đoàn sẽ đứng ra thu hồi toàn bộ diện tích đất vườn theo giá thỏa thuận ưu đãi ghi trong phụ lục hợp đồng để chuyển đổi mục đích sang dự án Khu du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng ven sông Hoàng Thịnh.”
“Cứu trợ?” Tú bật ra một tiếng cười khinh bỉ tột cùng. “Mấy người gọi trò đục nước béo cò, giăng bẫy xiết đất của bà con nông dân lúc ngặt nghèo này là ‘cứu trợ’ hả? Mặn vừa mới l**m tới chân cù lao trưa nay, chiều nay mấy người đã in sẵn cả ngàn tờ rơi rải khắp xóm. Mấy người tính toán từ trước hết rồi đúng hôn?”
Năm Lợi sấn tới một bước, mặt gã đỏ gay vì bị con nhỏ vắt mũi chưa sạch bóc mẽ. Gã chỉ thẳng ngón tay đeo nhẫn vàng mặt ngọc bích vào mặt Tú, gằn giọng:
“Mày đừng có mà rượu mời hổng uống lại muốn uống rượu phạt nghen con ranh! Mày nhìn lại mảnh vườn nhà mày coi, nước mặn bốn phần ngàn nó ngâm chừng năm bữa nữa thì rễ bưởi thành than củi hết! Tía mày đang nằm ngay đơ trong nhà kia kìa, ổng có sống nổi qua con trăng này hổng? Ba chục triệu tiền nợ phân thuốc của tao tới rằm này là tới hạn, cộng với tiền thuốc men của tía mày, mày lấy cái giống gì mày trả nếu hổng ký vô hợp đồng của Tập đoàn?”
Gã hạ giọng, ghé sát mặt lại, phà ra mùi thuốc lá hăng nồng:
“Tao nể tình lối xóm nhiều năm mới dắt mối ngon cho nhà mày. Ký giấy thế chấp sổ đỏ đi, Tập đoàn người ta hào phóng xóa luôn món nợ ba chục triệu cho tía mày, lại còn cho thêm mày một cục tiền dắt tía mày lên Sài Gòn trị bệnh. Chứ bám lại cái cù lao ngập mặn này, chỉ có nước cạp đất mà ăn thôi con à!”
“Cút!”
Tú giật phắt xấp tờ rơi trên tay gã thanh niên Hoàng Thịnh, xé toạc làm đôi rồi vứt thẳng xuống mặt đất trước mũi giày da bóng lộn của chúng.
“Mấy người cút ngay khỏi đất nhà tôi! Mảnh vườn này là mồ hôi nước mắt ba đời nhà tôi gầy dựng, một tấc đất tôi cũng không bán, một cái gật đầu với quân cướp ngày như mấy người tôi cũng không bao giờ cho! Đi ngay trước khi tôi kêu bà con chòm xóm vác đòn gánh đuổi cổ!”
“Mày… con ranh ngoan cố!” Năm Lợi nghiến răng trèo trẹo, mặt gã tím bầm lại vì nhục nhã. Gã chỉ tay đe dọa: “Được lắm! Để coi bản lĩnh của thủ khoa tụi bây chống chọi được mấy ngày với trời cao đất mặn! Tới rằm hổng có ba chục triệu trả tao, tao dắt công an xã xuống kê biên cái xác nhà này cho mày coi!”
Nói đoạn, gã hậm hực quay gót, xua tay dẫn hai tên nhân viên Hoàng Thịnh cút xéo ra ngõ vườn trong tiếng chó sủa râm ran khắp bờ rạch.
Đực Nhỏ từ trong nhà cầm khúc gậy tre bước ra định lao theo, nhưng Tú đã kịp giơ tay ngăn lại.
“Thôi Đực, đừng manh động… Mắc mưu tụi nó.”
Khi bóng dáng đám người Năm Lợi khuất sau hàng dừa nước, Tú mới thấy toàn thân mình rã rời, hai đầu gối run lên bần bật. Cô ngồi bệt xuống bậc thềm trước cửa, ánh mắt thẫn thờ nhìn những mảnh giấy đỏ rực nằm vương vãi trên nền đất xám xịt.
Út Lành bước ra, ngồi xuống bên cạnh, vòng tay ôm lấy bờ vai đang run rẩy của cô, nước mắt ngắn dài: “Chị Tú ơi… Giờ tính sao đây chị? Nước mặn vây kín cù lao vầy, vườn bưởi nhà em bên kia rạch cũng rụng lá rào rào rồi… Hổng lẽ dân cù lao mình chết đứng hết hả chị?”
Tú không trả lời. Cô ngước nhìn lên bầu trời chiều. Trời không một gợn mây, trong vắt và khô khốc. Một màu xanh ngắt tàn nhẫn đến tuyệt vọng. Không có mưa. Nước ngọt trên sông Tiền thì bị mặn nuốt chửng. Đất thì đang gào thét vì khát.
Đúng lúc đó, từ trong buồng, tiếng rên đau đớn của ông Ba Sang lại vọng ra, ngắt quãng và nghẹn thắt.
Tú đứng bật dậy. Cô quay vào nhà, nhìn người cha già đang thiếp đi trong cơn sốt hâm hấp, vầng trán nhăn nhúm vì những cơn co thắt cột sống hành hạ. Trên chiếc bàn con cạnh giường, tập bệnh án thoái hóa cột sống nặng của ông nằm chơ vơ bên cạnh cuốn sổ ghi nợ phân bón đã sờn rách góc.
Không! Cô không thể bỏ cuộc! Cô không được phép gục ngã!
Nếu cô buông xuôi lúc này, tía cô sẽ chết mòn trong uất hận, mảnh vườn tổ tiên sẽ rơi vào tay những kẻ đầu cơ tàn nhẫn, và tương lai của những người trẻ như Út Lành, Đực Nhỏ sẽ mãi mãi chìm trong cảnh bế tắc, ly hương.
Trí tuệ và khoa học nông nghiệp cô học suốt bốn năm đại học không phải để đầu hàng trước một con nước mặn!
Một ý nghĩ táo bạo lóe lên trong đầu Tú, bừng sáng như một tia chớp xé toạc đêm đen.
Tú bước nhanh tới chiếc vali con con đặt ở góc phòng — hành trang duy nhất cô mang từ thành phố về. Cô lục lọi dưới đáy vali, rút ra một tập hồ sơ dày cộp bằng giấy can kỹ thuật. Đó là những bản vẽ chi tiết về sơ đồ nguyên lý của hệ thống lọc mặn thẩm thấu ngược màng RO quy mô nông hộ và mạng lưới tưới nhỏ giọt tiết kiệm nước mà cô từng tự tay phác thảo trong những đêm dài thức trắng ở phòng thí nghiệm của Viện nghiên cứu.
Khi ấy, đề tài này từng bị gã người yêu cũ Trịnh Vũ và tên Viện phó Hoàng Sơn gạt phắt đi, chê là "viển vông, không mang lại giá trị thương mại cho các tập đoàn lớn". Nhưng đối với cù lao An Bình lúc này, đối với từng gốc bưởi đang chết khát ngoài kia, đây chính là chiếc phao cứu sinh duy nhất!
Để biến những nét vẽ trên giấy thành một cỗ máy bằng sắt thép thật sự, chạy được giữa đồng không mông quạnh mà không phụ thuộc vào nguồn điện lưới chập chờn, chỉ có một người duy nhất trên cù lao này có thể làm được.
Huỳnh Quốc Thái!
Nghĩ đến Thái, lồng ngực Tú bỗng dâng lên một luồng hơi ấm kỳ lạ, xua tan đi cảm giác lạnh buốt của dòng nước mặn khi nãy.
Ánh mắt kiên định, thâm trầm và bàn tay thô ráp đầy vết sẹo của người thợ máy bên xưởng cơ khí hiện lên rõ mồn một trong tâm trí cô. Thái từng nói:
“Cây bưởi sống lại được, đất sống lại được.”
Anh đã chế tạo thành công chiếc máy xới rãnh, chiếc thùng khuấy men vi sinh tự động từ những mảnh sắt vụn phế liệu. Anh hiểu từng con ốc, từng vòng quay cơ khí như cô hiểu từng tế bào rễ cây và bào tử vi sinh.
“Út Lành! Ở lại canh tía giùm chị, chốc nữa chú y sĩ tới thì nhờ chú tiêm thuốc giảm đau cho tía!” Tú dặn dò vội vã, giọng nói đã lấy lại được sự sắc sảo và quyết đoán thường ngày.
“Dạ… Mà chị đi đâu gấp dữ vậy chị Tú? Trời tối mịt rồi!” Út Lành ngơ ngác hỏi dồn.
Tú không kịp trả lời. Cô ôm chặt tập bản vẽ kỹ thuật vào lòng, gạt giọt nước mắt còn đọng lại trên má, rồi lao nhanh ra cửa.
Màn đêm đã hoàn toàn buông xuống cù lao An Bình. Không trăng, không sao, chỉ có tiếng gió chướng rít qua những ngọn dừa nước nghe như tiếng thở dài não nuột của dòng sông mặn chát. Dọc theo con đường đan nhỏ hẹp, hai bên bờ rạch mương vườn, tiếng lá bưởi khô khốc rụng xào xạc trong đêm đen tĩnh mịch, hòa cùng tiếng thở dài bất an của những mái nhà quê đang chong đèn dầu thao thức lo âu cho mùa vụ.
Mặc kệ bóng tối mịt mùng, mặc kệ những cành gai bưởi khô cào xước qua tay áo, Tú cắm đầu chạy thục mạng. Đôi bàn chân trần của cô lướt nhanh trên mặt đan gồ ghề, hướng thẳng về phía mỏm rạch bên kia cầu Phù Sa — nơi ánh lửa hàn cơ khí của xưởng máy Quốc Thái vẫn đang le lói bập bùng, như một ngọn hải đăng duy nhất còn sót lại giữa tâm bão mặn tràn bờ.
, , vn, live
,
vn
Bình luận (0)
Đang tải bình luận...