Quán Nước Bên Bến Đò Năm Ấy

Chương2: Bước chân tập tễnh của người lính

Cỡ chữ
Gió bấc cuối đông như những lưỡi dao lam cùn, cứa từng nhát rát buốt vào da thịt tr*n tr**. Đặng Văn Hùng ghì chặt cây gậy tre ngà xuống nền đất bùn nhão nhoét ở chân triền đê sông Hồng, răng nghiến chặt đến mức hai bên quai hàm bạnh ra, gồ lên từng thớ cơ cứng như đá hộc. Khớp gối chân trái của anh lại giở chứng. Cứ mỗi độ gió mùa đông bắc tràn về mang theo hơi nước lạnh buốt từ lòng sông phả lên, những mảnh cối tám mươi hai ly còn sót lại sâu hoắm trong ổ khớp lại cắn rỉa, nhức nhối như có hàng trăm mũi kim nung đỏ đâm thấu vào tận tủy xương. Hùng dừng lại bên một gốc phi lao cằn cỗi ven đường đê, tựa lưng vào thân cây xù xì để th* d*c. Hơi thở phả ra trắng xóa giữa màn sương muối đùng đục, tan biến vào hư không như chính những năm tháng thanh xuân bom đạn mà anh vừa bỏ lại phía sau lưng. Hai mươi bảy tuổi. Ngày rời làng Yên Sa lên đường tòng quân theo tiếng gọi của mặt trận biên giới Tây Nam, Hùng là một chàng trai vạm vỡ, đôi vai rộng như phản gỗ nghiến, đôi bàn tay thoăn thoắt cầm đục bạt, bổ những nhát búa nặng ngàn cân xuống súc gỗ lim mà không hề run rẩy. Khi ấy, anh mang theo trọn vẹn niềm kiêu hãnh của dòng họ Đặng ba đời làm thợ mộc nổi danh khắp vùng hạ lưu sông Hồng, cùng lời hứa với thầy mình rằng ngày hòa bình trở về sẽ dựng lại xưởng mộc gia truyền to đẹp nhất vùng. Thế nhưng, ngày trở về lại là một buổi chiều đông ảm đạm của năm 1981. Chiếc ba lô cóc bằng vải bạt sờn rách, bạc phếch màu lá thốt nốt, nhẹ bẫng trên lưng anh. Bên trong không có chiến lợi phẩm, chẳng có manh áo mới hay quà cáp phương xa, mà chỉ có hai bộ quân phục bạc màu đã vá chằng vá đụp, một chiếc bi đông nhôm móp méo, và một chiếc hộp sắt đựng bông băng cá nhân rỉ sét. Trong chiếc hộp sắt ấy, Hùng cất giữ kỷ vật duy nhất của Toàn – người đồng đội cùng tiểu đội đã ngã xuống trong trận đánh giáp lá cà ở bờ mương ranh giới: một chiếc bút máy Kim Tinh nứt vỏ và một cuốn sổ tay thấm máu khô đen kịt, bên trong còn kẹp dở tấm ảnh đen trắng chụp cô người yêu ở quê nhà của Toàn. Toàn nằm lại nơi đất khách quê người, gửi thân xác dưới những tán rừng cao su ngút ngát. Còn anh, anh may mắn giữ được mạng sống trở về, nhưng cái giá phải trả là một bên chân tàn phế. Những cơn sốt rét rừng thỉnh thoảng vẫn khiến khóe mắt anh vàng đục, và mỗi bước đi giờ đây đều phải nương tựa vào một khúc tre thô ráp chặt vội ven đường. Hùng cúi đầu, bàn tay thô ráp chai sạn vuốt nhẹ lên ống quần Tô Châu rộng thùng thình bên chân trái. Bên dưới lớp vải ấy là một vết sẹo lồi lõm chằng chịt, co rút dúm dó như vỏ cây khô bị sét đánh. Anh sợ hãi những ánh mắt ái ngại của người đời. Suốt chặng đường ngồi trên thùng chiếc xe tải Giải Phóng từ trạm điều dưỡng thương binh về thị trấn huyện, rồi tập tễnh cuốc bộ gần mười cây số đường đê lầy lội, Hùng luôn kéo sụp vành chiếc mũ cối cũ xuống tận sống mũi. Anh không muốn ai nhận ra mình, không muốn đón nhận những cái nhìn thương hại hay những tiếng thở dài xót xa của bà con chòm xóm. Đối với một người đàn ông từng coi sức vóc và đôi bàn tay là danh dự sống còn, sự tàn tật không chỉ là nỗi đau thể xác, mà nó là một bản án bóp nghẹt lòng tự trọng. Qua khỏi dốc đê, con đường lát gạch nghiêng rêu phong dẫn vào xóm Mộc của làng Yên Sa hiện ra dưới làn sương chiều bảng lảng. Mùi khói rơm rạ nồng nồng thân thuộc bay là là trên những mái tranh sẫm màu nước mưa, quyện vào không gian cái không khí nghèo nàn, xơ xác của một vùng quê đang oằn mình trong cơn đói giáp hạt thời bao cấp. Hùng dừng bước trước chiếc cổng tre xiêu vẹo của gia đình. Ngôi nhà năm gian lợp ngói vảy cá của cha anh vẫn đứng đó, nhưng dường như đã già nua và tiều tụy đi nhiều sau những năm tháng vắng bóng bàn tay chăm chút của người con trai cả. Bờ tường hoa phía trước rụng từng mảng vôi vữa, trơ ra những hàng gạch vồ đỏ sẫm phủ rêu xanh. Điều khiến lồng ngực Hùng thắt lại, đau nhói hơn cả vết thương ở chân, chính là gian chòi xưởng mộc bên chái nhà. Nơi ấy, từng một thời rộn rã tiếng cưa xẻ xì xụp từ sáng sớm tinh mơ, tiếng chàng đục gõ chan chát đanh gọn vào thớ gỗ, và mùi thơm ngọt ngào, nồng ấm của dăm gỗ dổi, mạt cưa xoan ngâm luôn phảng phất khắp ngõ xóm. Xưởng mộc Đặng gia từng là cái nôi nuôi sống cả gia đình, là niềm tự hào của cả tổng Yên Sa với những bộ hoành phi, câu đối, những chiếc sập gụ mộng én mộng mang cá khít khao đến mức một sợi tóc cũng không lọt qua nổi. Nhưng giờ đây, gian xưởng lạnh tanh như một nấm mồ. Đống gỗ xoan ngâm trơ trọi dưới mái hiên đã mọc nấm trắng mốc meo. Chiếc bàn bào lớn bằng gỗ nghiến mặt dày bốn phân – nơi cha anh từng đứng tỉ mẩn gọt giũa từng đường chỉ – nay phủ một lớp bụi tro dày cả đốt ngón tay, mạng nhện giăng mắc chằng chịt giữa các thanh giằng. Những lưỡi cưa, chiếc đục bạt, đục vũm gia truyền được xếp gọn gàng trên giá gỗ, nhưng lưỡi thép đã ố đỏ màu rỉ sét vì quá lâu không được chạm vào thớ gỗ tươi, không được mài trên phiến đá bùn mịn màng. Thời thế đã đổi thay. Phong trào hợp tác hóa nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đã gom hết thợ thuyền vào tổ mộc của xã. Nhưng tổ mộc thiếu vật tư, thiếu gỗ, cơ chế phân phối cứng nhắc và những đợt kiểm tra gắt gao của đội kiểm soát thị trường đối với việc tàng trữ lâm sản tư nhân đã bóp nghẹt mọi sinh khí. Người ta không còn được phép tự do đóng bàn, đóng ghế mang ra chợ đổi gạo. Nghề mộc gia truyền bị coi là mầm mống của "tư tưởng tư hữu", chiếc cưa chiếc đục đành phải nằm im phủ bụi, nhường chỗ cho những buổi đi đào mương thủy lợi chấm công điểm rẻ mạt. “Ai... ai đứng ngoài cổng đấy?” Một giọng nói già nua, khàn đặc và run rẩy cất lên từ phía ngưỡng cửa gian nhà chính, cắt đứt dòng suy tưởng đắng ngắt của Hùng. Hùng giật mình ngẩng lên. Dưới bóng tối lờ mờ của gian nhà lá, một bóng người gầy guộc bước ra. Đó là ông Đặng Văn Quỳ. Người thợ mộc tài hoa khét tiếng một thời nay lưng đã còng rạp xuống, mái tóc hoa râm xơ xác như búi rơm cằn, hai gò má hóp sâu và đôi bàn tay gân guốc – đôi bàn tay từng tạo nên những kiệt tác điêu khắc đình chùa – đang bưng một chiếc rá sứt cạp đựng vài củ khoai lang khô queo quắt. “Thầy...” Hùng nghẹn ngào, cổ họng như có hòn than nóng chẹn ngang. Anh buông một tay gậy tre, run rẩy cởi chiếc mũ cối bạc màu cầm trên tay. Chiếc rá sứt cạp trên tay ông Quỳ rơi cộp xuống bậu cửa. Mấy củ khoai khô lăn lóc trên nền đất nện. Đôi mắt đục mờ của người cha già trợn trừng lên, nhìn chòng chọc vào người đàn ông cao lớn đang đứng xiêu vẹo giữa sân. Ông dụi mắt, bước hụt một bước ở bậc tam cấp, miệng mấp máy không thành tiếng: “Hùng... Có phải... Hùng đấy không con?” “Con... con đã về rồi đây, thầy ơi!” Hùng cố bước tới một bước, nhưng cái chân trái phản chủ trẹo đi khiến anh loạng choạng suýt ngã sấp mặt. Cây gậy tre chống vội xuống đất phát ra một tiếng cộc khô khốc. Ông Quỳ lao tới. Đôi bàn tay gầy trơ xương, thô ráp như vỏ cây của ông bám chặt lấy hai bờ vai vạm vỡ của con trai. Ông s* s**ng khắp khuôn mặt góc cạnh sạm đen gió sương của anh, lướt qua vết sẹo dài mờ mờ bên thái dương, rồi từ từ, ánh mắt ông run rẩy rớt xuống phía dưới, dừng lại ở ống quần bên trái đang buông thõng bất tự nhiên và khúc gậy tre đang cắm chặt vào đất bùn. Không khí trong khoảng sân nhỏ như đông cứng lại. Gió bấc thổi thốc qua rặng tre sau nhà, rít lên từng hồi u u uất nghẹn. Khuôn mặt già nua của ông Quỳ co rúm lại. Những nếp nhăn nơi khóe mắt xô vào nhau, tạo thành những rãnh sâu hoắm chứa chan nỗi cay đắng tột cùng. Đôi bàn tay ông run lên bần bật trên vai con. Là một người cha, ông mừng vì con mình còn sống sót trở về từ chốn bom rơi đạn lạc, nơi mà biết bao chàng trai làng Yên Sa đã vĩnh viễn nằm lại. Nhưng là một nghệ nhân mộc truyền đời, nhìn thấy đôi chân tàn phế của đứa con trai duy nhất – đứa con mang theo toàn bộ hy vọng phục hưng xưởng mộc Đặng gia – lồng ngực ông như bị một nhát rìu bổ thẳng vào tim. Làm thợ mộc mà chân què, làm sao đứng trụ vững bên bàn cưa suốt nửa ngày? Làm sao dùng chân đạp bàn trượt, làm sao giữ chặt súc gỗ nghiến nặng hàng tạ để mà nện chàng, nện đục? “Chân... chân con...” Giọng ông Quỳ nghẹn tắc lại, nước mắt ứa ra từ đôi bờ mi kèm nhèm rỉ mắt, lăn dài trên đôi gò má nhăn nheo. “Con bị mảnh cối ở bờ mương, thầy ạ.” Hùng cố nặn ra một nụ cười, nhưng khóe môi méo xệch đi vì đắng chát. “Bác sĩ ở viện quân y bảo giữ lại được cái chân không phải cưa cụt đã là phúc lớn lắm rồi. Con... con vẫn sống về được với thầy, với cái Thắm.” Đúng lúc ấy, từ phía bếp dưới, một bóng dáng nhỏ nhắn hớt hải lao lên. Đặng Thị Thắm, cô em gái mười chín tuổi của Hùng, trên mặt còn vệt nhọ nồi đen nhẻm, hai tay bưng rổ rau tàu bay luộc dở. Trông thấy Hùng, chiếc rổ trên tay cô rơi tuột xuống đất. “Anh Cả! Trời ơi, anh Cả thật rồi!” Thắm òa khóc nức nở, lao đến ôm chầm lấy thắt lưng anh trai. Cô gái nhỏ vùi mặt vào vạt áo trấn thủ lấm lem bụi đường của Hùng mà khóc như mưa gió, tiếng khóc dồn nén suốt mấy năm trời ròng rã ngóng trông tin tức từ chiến Tr**ng X* xôi. “Anh còn sống... Cả làng đồn đơn vị anh bị phục kích, người ta bảo anh không về nữa... Em với thầy ngày nào cũng khấn mẹ phù hộ...” Hùng đưa bàn tay thô ráp xoa nhẹ lên mái tóc xơ xác khét mùi khói bếp của em gái. Anh muốn nói điều gì đó để an ủi em, nhưng nhìn đôi bàn tay gầy gò, chiếc áo vá chằng vá đụp nơi vai của Thắm, lời nói cứ nghẹn ứ lại nơi cuống họng. Em gái anh mới mười chín tuổi, cái tuổi trăng tròn lẽ ra phải được xúng xính manh áo mới, da dẻ hồng hào, vậy mà giờ đây gầy rộc đi, đôi mắt thâm quầng vì thiếu ăn và những ngày lao động cực nhọc ngoài đồng bãi để kiếm từng phân công điểm. Bữa cơm chiều đón người lính phục viên diễn ra trong sự tĩnh lặng đến nghẹt thở bên chiếc mâm đồng méo mó. Thắm đã vét sạch hũ gạo cuối cùng dưới đáy ang, nấu một nồi cơm độn sắn nhiều hơn gạo để đãi anh trai. Bát canh rau tàu bay nấu suông không một giọt mỡ, đĩa dưa cải muối chua ngả màu vàng úa và vài củ khoai luộc nứt toác. Đó là tất cả những gì gia đình có thể gom góp được trong những ngày giáp hạt đói kém này. Ông Quỳ ngồi ở đầu mâm, tay cầm đôi đũa cả mà không buồn gắp thức ăn. Ông cứ nhìn trân trân vào góc nhà, nơi cây gậy tre của Hùng đang dựng cạnh chiếc ba lô lép kẹp. Chiếc điếu bát bằng sành đặt bên cạnh phát ra những tiếng rít thuốc lào sòng sọc, khói thuốc đặc quánh bay lên, phủ mờ khuôn mặt trầm tư đầy âu lo của người cha già. “Hợp tác xã bây giờ... khó khăn lắm con ạ,” ông Quỳ cất giọng trầm trầm, từng lời thốt ra nặng nề như đá tảng đè lên ngực. “Lúa vụ mười vừa rồi mất trắng vì rầy nâu. Thóc chia theo đầu công điểm mỗi khẩu chỉ được vỏn vẹn ba cân một tháng, toàn thóc lép. Đội kiểm soát của thằng Bền nó rình rập ngày đêm trên mặt đê. Ai lén lút mang cân gạo, nải chuối sang chợ huyện bên kia đò là nó tịch thu sạch, quy vào tội buôn lậu, phá hoại phân phối lưu thông.” Ông dừng lại, thở dài một hơi dài thượt, ánh mắt lướt qua xưởng mộc tối om ngoài sân: “Tổ mộc của xã cũng giải tán rồi. Thợ thuyền đi đắp đê, cuốc đất hết. Gỗ lạt trong nhà tao phải đem vùi xuống ao bùn, giấu dưới đáy rơm, không dám để trơ trên cạn kẻo người ta bảo mình tích trữ tư liệu sản xuất... Mày về đợt này... chân cẳng thế kia, xã họ xếp vào diện thương tật bậc mấy? Có được tiêu chuẩn gạo sổ không?” Hùng cúi gằm mặt, nhìn những hạt cơm trắng hiếm hoi lẫn giữa đống sắn khô vàng khè trong bát mình. Anh siết chặt đôi đũa tre: “Giấy tờ phục viên của con chuyển về huyện đội rồi thầy ạ. Thương binh hạng ba. Huyện bảo phải chờ đợt xét duyệt chế độ vào quý một năm sau mới có sổ thương tật và phụ cấp thương binh... Từ giờ đến lúc đó, con... con chưa có tiêu chuẩn gạo.” Gian nhà lại rơi vào sự im lặng chết chóc. Chỉ có tiếng gió rít qua khe liếp cửa sổ nghe như tiếng thở dài của trời đất.Thắm vội vàng gắp miếng sắn dẻo nhất vào bát Hùng, cố xua tan bầu không khí nặng nề: “Thôi thầy, anh Cả mới về, để anh ăn bát cơm nóng đã. Chân anh đau, từ mai cứ ở nhà nghỉ ngơi. Cơm nước, việc đồng áng đã có con lo. Con làm thêm cả ca ba ngoài sân kho, mót thêm củ khoai củ sắn, thể nào nhà mình cũng qua được mùa giáp hạt.” Ông Quỳ ngước mắt nhìn con trai, ánh nhìn chan chứa sự bất lực và xót xa vô hạn: “Ừ... Về là phúc rồi. Chân cẳng thế này thì... thôi cứ ở nhà con ạ. Đừng đi đâu cả, làng xóm người ta xì xào. Tao già rồi, nhưng tao còn đôi tay, tao còn nuôi được mày...” Tao còn nuôi được mày... Câu nói mộc mạc, chất chứa tình phụ tử của ông Quỳ như một mũi dao nhọn hoắt đâm xuyên qua lồng ngực Hùng. Anh buông bát đũa xuống mâm. Cổ họng đắng ngắt, miếng sắn khô trong miệng như biến thành bã trấu, nuốt không trôi. Anh là Đặng Văn Hùng, người lính từng xông pha giữa làn mưa bom bão đạn, từng cõng đồng đội vượt qua hàng chục cây số đường rừng sốt rét, người thợ cả tương lai của dòng họ Đặng... vậy mà giờ đây, khi bước sang tuổi hai mươi bảy, tuổi sung sức nhất của đời người đàn ông, anh lại trở thành một kẻ tàn phế, một gánh nặng ăn bám để người cha già gần sáu mươi tuổi và đứa em gái còm cõi phải nai lưng ra nuôi nấng! Nỗi nhục nhã, bế tắc và mặc cảm tật nguyền trào dâng cuồn cuộn trong tâm can, bóp nghẹt lồng ngực anh đến mức không thể thở nổi. Cơm nước xong xuôi, khi màn đêm buông xuống đặc quánh như mực tàu trùm lên làng Yên Sa, Hùng ngồi một mình trong gian buồng tối tăm của mình. Anh thắp ngọn đèn dầu hỏa hạt đỗ leo lét, ánh lửa vàng vọt chập chờn hắt bóng chiếc lưng rộng của anh lên vách đất nứt nẻ. Hùng mở ba lô, lấy chiếc hộp sắt rỉ sét ra đặt lên chiếc phản gỗ. Anh cẩn thận mở nắp hộp, ngắm nhìn chiếc bút máy Kim Tinh của Toàn. Ngón tay anh khẽ lướt qua thân bút lạnh ngắt. “Toàn ơi...” Hùng lẩm bẩm trong bóng tối, giọng khàn đặc nghẹn ngào. “Mày nằm lại nơi ấy, có khi lại thanh thản hơn tao... Tao sống sót trở về, nhưng tao thành kẻ phế nhân rồi mày ạ. Đôi chân này không đứng vững được nữa, bàn tay này cầm đục thì làm được trò trống gì cho đời?” Anh nhìn xuống đầu gối trái của mình. Dưới ánh đèn dầu leo lét, vết sẹo chiến tranh co rúm lại, thâm sì và dữ tợn. Cơn đau âm ỉ từ khớp xương lại trồi lên, nhức nhối như muốn xé toạc da thịt. Hùng cắn chặt môi đến bật máu để không bật ra tiếng r*n r*. Anh không muốn thầy và em gái ở gian ngoài nghe thấy. Căn phòng chật chội, ngột ngạt mùi ẩm mốc và mùi tro tàn dường như đang thu hẹp lại, đè nặng lên từng tấc da thịt anh. Hùng không thể ngồi yên được nữa. Bốn bức tường đất như đang giam cầm linh hồn anh, bức tử chút tự trọng cuối cùng còn sót lại trong tim người lính. Anh với lấy cây gậy tre ngà dựng ở đầu giường, lặng lẽ kéo chốt cửa ngách bước ra ngoài. Đêm đã khuya lơ khuya lắc. Làng Yên Sa chìm sâu trong giấc ngủ mệt mỏi sau một ngày oằn mình vì miếng cơm manh áo. Không một ánh đèn, không một tiếng cười nói, chỉ có tiếng chó sủa ma xao xác từ xóm ngoài vọng lại và tiếng gió mùa đông bắc gầm gừ qua những rặng tre già. Hùng lầm lũi bước đi trong bóng đêm. Cộc... xoạt... Cộc... xoạt... Từng nhịp gậy tre gõ xuống mặt đường lát gạch nghiêng khô khốc, cô độc đến rợn người. Mỗi bước chân là một lần cơ thể anh nghiêng ngả, chiếc chân trái cứng đờ phải lết theo từng nhịp nhọc nhằn. Anh không biết mình đang đi đâu, chỉ muốn đi thật xa khỏi ngôi nhà, khỏi ánh mắt xót xa bất lực của cha, khỏi gian xưởng mộc phủ bụi tro tàn tạ. Đôi chân đưa anh bước lên triền đê sông Hồng. Gió trên mặt đê lồng lộng thổi, mang theo hơi lạnh buốt giá xộc thẳng vào lồng ngực, luồn qua lớp áo trấn thủ rách tả tơi làm toàn thân Hùng run rẩy. Anh đứng sững trên đỉnh đê, nhìn xuống dòng sông Hồng mênh mông phía dưới. Dòng sông mùa đông cạn nước, phơi ra những bãi cát bồi phù sa đỏ quạnh dài tít tắp, nham nhở những vệt nứt nẻ vì rét mướt. Dưới lòng sông sâu, dòng nước đỏ ngầu vẫn cuồn cuộn chảy xiết, va vào bờ đá tạo nên những tiếng ì oạp trầm đục, bí hiểm. Xa xa bên kia bờ tả ngạn, vùng bán sơn địa chìm ngập trong bóng tối mịt mùng, hoang vu và lạnh lẽo. Hùng chống gậy, tập tễnh lần từng bước theo con dốc đất dẫn xuống bến đò Vạn Cát. Nơi đây từng là bến sông tấp nập thuyền bè xuôi ngược chở lâm sản, nông sản thời trước. Nhưng từ ngày lệnh ngăn sông cấm chợ siết chặt, bến đò trở nên hiu hắt, tiêu điều. Giờ này, con đò gỗ của bà cụ Vấn đã neo chặt vào cọc tre ven bãi, im lìm dập dềnh theo từng con sóng nhỏ. Cây đa cổ thụ đầu bến đứng sừng sững như một bóng ma khổng lồ giữa trời đêm, rễ phụ buông rủ lòng thòng lay giật dữ dội trong gió bấc. Hùng bước xuống mép nước, nơi những con sóng vỗ bì bõm vào bãi cát lạnh buốt. Anh buông cây gậy tre, ngồi sụp xuống một tảng đá hộc rêu phong ven bờ. Cái lạnh thấu xương từ phiến đá ngấm qua lớp quần ướt sũng xộc thẳng vào tủy, nhưng Hùng dường như không còn cảm giác. Anh đưa đôi bàn tay thô ráp, chai sần lên ôm lấy mặt, những ngón tay gầy gò run rẩy cắm sâu vào mái tóc ngắn củn cỡn. Nước mắt – thứ mà bom đạn chiến trường, những trận càn quét khốc liệt và những nhát dao mổ không thuốc tê ở trạm xá tiền phương chưa từng khuất phục được – lúc này đây lại âm thầm trào ra, nóng hổi, chảy tràn qua kẽ tay người lính phục viên. Anh căm ghét cái chân tàn phế này. Anh căm ghét sự bất lực của chính bản thân mình. Tại sao lại là anh? Tại sao anh lại trở về trong cái hình hài phế nhân vô dụng này, để nhìn thấy cha mình đau đớn, em gái mình đói khổ, nhìn thấy xưởng mộc của tổ tiên mục nát theo năm tháng mà không thể làm được gì? Liệu cuộc đời phía trước của một kẻ tàn tật như anh sẽ đi về đâu giữa cái thời buổi ngặt nghèo, khi mà ngay cả những người lành lặn khỏe mạnh còn đang phải chật vật giành giật từng củ khoai, hạt thóc? Có một khoảnh khắc tăm tối lóe lên trong tâm trí Hùng khi anh nhìn chằm chằm vào xoáy nước đỏ ngầu đang cuộn xiết ngay dưới chân tảng đá. Dòng nước ấy lạnh lẽo biết bao, nhưng nếu chìm sâu vào lòng nó, có lẽ mọi nhức nhối nơi khớp xương, mọi nỗi mặc cảm đọa đày và gánh nặng cơm áo sẽ tan biến vĩnh viễn... Không! Hình ảnh Toàn gục ngã trên tay anh, hơi thở thoi thóp trao lại chiếc bút máy bỗng vụt hiện về trong tâm trí. “Sống... phải sống về quê thay tao... Hùng ơi...” Tiếng thì thào trăn trối của người đồng đội như một tia sét đánh thẳng vào linh hồn đang chao đảo của Hùng. Anh rùng mình, lùi vội lại một bước, toàn thân ướt đẫm mồ hôi lạnh giữa cơn gió bấc buốt giá. Anh không thể chết hèn nhát như thế này được! Những người lính nằm lại chiến trường không đánh đổi máu xương để anh trở về đây gieo mình xuống dòng sông Hồng làm mồi cho tôm cá! Nhưng sống tiếp thế nào đây? Khi đôi tay muốn làm mà đôi chân không thể đứng vững? Hùng ngồi gục đầu bên tảng đá, đờ đẫn nhìn trời chuyển dần về sáng. Đêm đông trôi qua dài dằng dặc như cả một thế kỷ. Khi sương mù sông Hồng bắt đầu chuyển sang màu trắng đùng đục như sữa bắp, báo hiệu trời sắp hửng sáng, tiếng gà gáy canh năm từ làng Yên Sa bên kia triền đê cất lên xao xác. Khớp gối của Hùng sau một đêm dầm sương giá đã sưng tấy lên, buốt nhức đến tận óc. Anh nghiến răng, chống gậy tre cố gượng đứng dậy để lần bước quay về nhà trước khi dân làng kéo ra đò nhìn thấy bộ dạng thảm hại của mình. Thế nhưng, vừa quay lưng bước được vài bước nhọc nhằn trên triền dốc đá, bước chân Hùng bỗng khựng lại. Một luồng gió sông thổi tạt qua mang theo một mùi hương lạ lùng len lỏi giữa làn sương muối buốt giá. Đó không phải là mùi tanh nồng của bùn bãi phù sa, cũng không phải mùi ẩm mốc của cỏ dại ven bờ. Đó là mùi khói bếp! Một mùi khói rơm rạ nồng đượm, ấm áp quyện với mùi than củi hồng bập bùng xua tan cái lạnh lẽo hoang vu của bến sông. Và phảng phất trong làn khói mỏng manh ấy, một làn hương thanh khiết, ngòn ngọt chan chát của lá chè xanh bánh tẻ vừa được ủ chín tới, quyện chặt lấy vị cay nồng, ấm sực của nhánh gừng già nướng đập dập, đang sôi sùng sục, lan tỏa khắp không gian tĩnh lặng của buổi sớm mai. Giữa bến đò Vạn Cát hoang lạnh ngắt người này, từ bao giờ lại có một ngọn lửa ấm áp và mùi hương đánh thức sinh khí đến nhường ấy? Hùng ngẩng đầu lên, ánh mắt thâm trầm đầy kinh ngạc hướng về phía chiếc lán rơm rách nát dưới gốc đa cổ thụ đầu dốc bến. , , vn, live , vn

Bạn cũng là tác giả hoặc dịch giả?

Đăng sáng tác hoặc bản dịch của riêng bạn lên Say Truyện — miễn phí, chỉ mất vài phút.

Đăng truyện ngay

Bình luận (0)

Đang tải bình luận...