Quán Nước Bên Bến Đò Năm Ấy

Chương18: Lời cầu hôn bên bờ sông cạn

Cỡ chữ
Tiếng rè rè kim loại từ chiếc loa nén gắn trên chạc ba cây đa cổ thụ rốt cuộc cũng chịu tắt ngấm, trả lại cho bến đò Vạn Cát một khoảng lặng hoang hoải đến rợn người. Gió từ mặt sông Hồng mùa cạn thốc ngược lên triền đê, cuốn theo những đám bụi cát phù sa khô khát, quất rát rạt vào những tấm liếp nứa mới dựng. Hùng đứng bất động bên hiên chòi gỗ. Khớp gối chân trái của anh – nơi miểng đạn cối năm xưa ở chiến trường Tây Nam vẫn còn găm lại mảnh sắt nhỏ bằng hạt đỗ – bắt đầu co rút, nhức buốt từng cơn theo từng đợt gió bấc thốc về. Nhưng cơn đau thể xác ấy chẳng thấm tháp gì so với nỗi cồn cào đang cuộn lên trong lồng ngực anh khi nhìn về phía Thu. Sau lời tuyên bố hằn học của Lê Tiến Bền, không khí hồ hởi vừa chớm nở đã tan biến như bọt nước. Ông Quỳ trầm ngâm hồi lâu bên bát nước chè tươi đã nguội bớt, đôi bàn tay gân guốc của người thợ già khẽ siết chặt lấy mép bàn gỗ xoan. Người nghệ nhân từng nếm trải bao phen dâu bể hiểu rõ mười mươi: Bền không dọa suông. Chiếc gậy quyền lực của trạm kiểm soát liên ngành kết hợp với cái cớ “kinh tế tập thể” thời bao cấp là thứ búa rìu có thể đập nát bất cứ mầm sống non nớt nào. “Thầy về xóm trước, ghé qua nhà bác Thược bàn chút việc,” ông Quỳ đứng dậy, chiếc áo bông sờn vai rung lên nhè nhẹ trong gió. Ông đưa mắt nhìn con trai, rồi lại nhìn sang Thu, giọng trầm và nặng: “Hai đứa đừng hoang mang. Cây ngay thì không sợ chết đứng. Nhưng từ giờ đến bảy giờ tối, liệu mà thu xếp.” Thắm cũng vội vã chạy theo sau cha để sang xóm rèn ngóng tin tức, để lại quán nước chỉ còn Hùng và Thu cùng tiếng thở dài khe khẽ của bà cụ Vấn đang lom khom neo lại chiếc thuyền nan dưới bến nước. Thu đứng nép bên góc phản gỗ, đôi bàn tay nhỏ nhắn thoăn thoắt dọn dẹp những chiếc bát sứ hoa lam, nhưng Hùng nhận ra bờ vai gầy của cô đang run lên khe khẽ. Đôi mắt đen láy từng kiên cường vượt qua bao mùa giáp hạt đói kém nay chùng xuống, đượm một nỗi âu lo mênh mông. Thu không sợ khổ, chẳng sợ đói, nhưng cô sợ cái danh phận “tư thương”, sợ những lời kết tội đanh thép có thể tước đi quyền được sống lương thiện, và hơn hết, cô sợ bản thân mình sẽ trở thành gánh nặng kéo sụp cả gia đình người đàn ông mà cô thầm thương trộm nhớ. Hùng bước tập tễnh lại gần, chiếc gậy tre gõ từng nhịp chắc nịch xuống nền đất nện. “Thu này.” Thu khựng tay lại, ngước mắt nhìn anh. Đáy mắt cô đọng một ngấn nước trong veo, bờ môi cắn chặt đến trắng bệch: “Anh Hùng... Hay là tối nay... để một mình tôi ra đình làng chịu phạt? Mấy chục cân sắn, hũ mật mía với mấy phong kẹo lạc này, tôi nhận là của riêng tôi. Tôi vay nợ hợp tác xã, tôi sẽ làm công điểm trừ dần. Chứ xưởng mộc nhà anh... thầy vừa mới nguôi ngoai đồng ý mở lại, lỡ vì tôi mà người ta thu mất tiêu chuẩn phân phối gỗ dổi, gỗ táu...” “Em im ngay!” Hùng gắt khẽ, thanh âm trầm đục nhưng chứa đựng một uy lực khiến Thu giật mình ngơ ngác. Anh nhìn thẳng vào gương mặt mảnh mai dãi dầu sương gió, nhìn đôi bàn tay chằng chịt những vết phỏng rộp do quạt than nướng bánh đa, lòng quặn thắt lại. Người con gái này, ngay cả khi sắp bước vào miệng cọp, ý nghĩ đầu tiên vẫn là hy sinh bản thân để bảo bọc cho người khác. Đêm qua cô vừa dốc cạn chín trăm đồng tiền mồ hôi nước mắt chắt chiu suốt bốn năm trời đưa cho anh đi cứu mạng Triệu “đen”, vậy mà giờ đây lại toan nhận hết bão giông về phần mình. Hùng hít một hơi thật sâu, ghìm lại sự xúc động đang dâng lên nghẹn ứ nơi cổ họng: “Dọn quán đi. Bát đĩa úp vào rổ rồi khóa cửa chòi lại. Đi theo anh ra bờ sông một lát.” “Nhưng mà sắp bảy giờ rồi...” “Còn hơn một tiếng nữa mới đến giờ họp đình. Đi với anh.” Giọng Hùng kiên quyết, không cho phép chối từ. Thu nhìn vào ánh mắt thâm trầm, quả quyết như bức tường thành của người lính, nỗi hoảng loạn trong lòng bỗng chốc dịu lại lạ kỳ. Cô ngoan ngoãn xếp gọn quang gánh, hạ những cánh liếp nứa xuống rồi bước theo sau bóng lưng vạm vỡ nhưng hơi nghiêng lệch của anh. * Hoàng hôn mùa đông trên triền sông Hồng buông xuống nhanh như một cái chớp mắt. Mặt trời như một hòn than khổng lồ đỏ ối đang lịm dần sau những rặng tre xa tít tắp phía bên kia bờ tả ngạn, hắt lên mặt nước mênh mông một dải sáng màu huyết dụ. Mùa này phù sa lắng xuống, dòng sông cạn trơ ra những dải cát bồi dài ngoằng, nứt nẻ chân chim, xen lẫn những bụi cỏ lác khô vàng rạp mình theo chiều gió. Hùng dẫn Thu men theo con đường mòn nhỏ dưới chân đê, vòng qua gốc đa cổ thụ rồi dừng lại ở một dải cát bồi nhô hẳn ra mép nước. Nơi đây cách biệt hoàn toàn với trục đường chính, chỉ có tiếng sóng sông ì oạp vỗ vào bãi đá cuội và tiếng xào xạc của ngàn vạn búp lá phi lao run rẩy trong chiều lạnh. Bước chân tập tễnh của Hùng in trên nền cát ướt những vết lõm không đều đặn: một bên sâu hoắm vững chãi, một bên nông thếch và xiêu vẹo. Anh dừng lại, chống chiếc gậy tre xuống cát, phóng tầm mắt nhìn ra giữa dòng nước cuồn cuộn đỏ quạch phù sa. “Em có nhớ chỗ này không?” Hùng cất tiếng, gió sông cuốn giọng anh nghe xa xăm như vọng về từ một miền ký ức xa lắc. Thu bước lên đứng cạnh anh, hai bàn tay đan chặt vào nhau giấu trong túi chiếc áo bông chần đã sờn rách ở mép cổ áo. Mái tóc dài của cô được buộc hờ sau gáy, gió thổi tung những sợi tóc mai vương trên vầng trán thanh tú, mang theo mùi hương hoa bưởi thanh khiết, mộc mạc làm dịu đi vị tanh nồng của bùn bãi. “Nhớ chứ anh,” Thu khẽ đáp, ánh mắt nhìn xoáy vào khoảng xoáy nước dưới chân doi cát. “Hôm ấy cũng là một buổi chiều đông buốt giá thế này... Anh từ trên chuyến đò muộn bước xuống, ba lô lép kẹp, quần áo dính đầy bùn đất, lầm lũi đi ra đây đứng hàng giờ liền. Lúc ấy, nhìn bóng lưng anh... em sợ anh nghĩ quẩn mà nhảy xuống sông.” Hùng khẽ cười cay đắng, bàn tay thô ráp đầy vết chai của thợ mộc vô thức sờ lên vết sẹo lồi nơi đầu gối trái: “Không phải sợ đâu... mà hôm ấy, anh đã toan nhảy thật đấy.” Thu khẽ thốt lên một tiếng nghẹn ngào, bàn tay run run đưa lên như muốn níu lấy cánh tay anh nhưng rồi lại ngập ngừng rụt lại vì e thẹn: “Anh Hùng...” “Anh nói thật đấy,” Hùng quay sang nhìn cô, ánh mắt anh không còn sự trốn tránh hay lạnh lùng thường ngày, mà rực lên thứ ánh sáng chân thành đến nhói lòng. “Ngày ấy anh mới từ chiến trường về. Đơn vị hy sinh nhiều quá, thằng Lâm chết ngay trước mắt anh mà anh không cứu được. Bản thân thì mang cái chân tật nguyền, bước đi tập tễnh như một phế nhân. Về đến đầu làng, thấy xưởng mộc của cha lạnh tanh tro bếp, cha thì già yếu còng lưng vì lo nghĩ, em gái thì thất học dở dang... Anh thấy mình là một thứ đồ phế thải, một gánh nặng nhục nhã cho cái nhà này. Anh nghĩ, chi bằng trầm mình xuống sông Hồng, vừa thanh thản, vừa đỡ làm khổ cha, khổ em.” Gió bấc lại thốc qua, lạnh buốt thấu xương, nhưng Hùng cảm thấy ngực mình nóng rực: “Thế rồi, chính cái chòi tranh xiêu vẹo của em đã níu anh lại. Bát chè xanh cay nồng mùi gừng tươi, hơi khói ấm bốc lên nghi ngút từ chiếc bát mẻ... và nhất là ánh mắt của em khi trao bát nước cho anh. Ánh mắt ấy không có sự thương hại bố thí, chỉ có sự sẻ chia của một người cùng cảnh ngộ khốn khó. Bát nước ấy đã cứu sống linh hồn anh, Thu ạ. Nếu chiều hôm đó không có em bên bến đò, nắm xương tàn của thằng Hùng này đã vùi sâu dưới đáy cát sông Hồng từ bốn năm trước rồi.” “Đừng nói gở thế anh,” nước mắt Thu lăn dài trên gò má ửng hồng vì lạnh. “Là do anh có căn cốt kiên cường của người lính, sống vì cha, vì em Thắm, chứ em có làm được gì đâu... Em chỉ là đứa mồ côi không cha không mẹ, nợ nần ngập đầu, đến manh áo ấm mùa đông cũng phải chắp vá...” “Em làm được nhiều hơn em nghĩ,” Hùng ngắt lời cô, giọng anh run rẩy vì xúc động dồn nén. “Suốt bốn năm qua, anh nhìn em một mình chống chọi với cái đói mùa giáp hạt. Nhìn đôi tay em rộp đỏ vì quạt than nướng từng chiếc bánh đa. Nhìn em cắn răng chịu đựng những lời đàm tiếu ác ý của thiên hạ, chịu đựng sự hạch sách đê hèn của thằng Bền mà vẫn chắt chiu từng củ sắn, củ khoai đem giúp đỡ bà con xóm chài... Rồi đêm qua, em không tiếc một đồng ky cóp cả đời, trao hết cho anh để cứu một người đồng đội mà em chưa từng gặp mặt. Thu ơi... trên cõi đời này, có người con gái nào làm được như em không?” Thu cúi gục đầu, những giọt nước mắt nóng hổi thi nhau rơi lã chã xuống dải cát lạnh ngắt. Từng lời, từng chữ của Hùng như những nhát đục gõ thẳng vào đáy tim cô, phá tan mọi lớp vỏ bọc e ngại, tự ti mà cô đã cố công dựng lên để bảo vệ sự tủi hủi của một phận đời mồ côi. Hùng buông chiếc gậy tre xuống nền cát. Anh đứng bằng một bên chân lành lặn, nén cơn đau buốt ở khớp gối trái, chầm chậm đưa tay vào trong túi ngực chiếc áo lính bạc màu. Túi áo nằm ngay sát lồng ngực trái – nơi trái tim anh đang đập những nhịp dồn dập, mãnh liệt nhất trong suốt hai mươi bảy năm cuộc đời. Từ trong túi áo, Hùng rút ra một bọc vải nhỏ. Đó là mảnh vải dù hoa cũ kỹ, kỷ vật chiến trường duy nhất còn sót lại sau những trận bom cày đạn xới ở biên giới Tây Nam. Những ngón tay thô ráp, sần sùi của anh cẩn trọng lật từng nếp gấp vải dù, để lộ ra một vật phẩm nằm gọn trong lòng bàn tay. Đó là một chiếc lược bằng gỗ mun sừng. Dưới ánh hoàng hôn đỏ ối đang hắt những tia sáng cuối cùng lên bãi sông, chiếc lược mun ánh lên sắc đen nhánh, bóng bẩy và mịn màng như lụa. Chiếc lược không lớn, vừa vặn nằm trọn trong lòng bàn tay người phụ nữ. Từng chiếc răng lược đều tăm tắp, tròn trịa, được chuốt phẳng lì không một chút gợn, như thể người thợ đã dùng chính da thịt mình mà mài giũa suốt hàng trăm đêm ròng rã. Nhưng điều khiến Thu phải nín thở, đôi mắt mở to ngỡ ngàng chính là phần sống lưng của chiếc lược. Nơi đó, bằng ngón nghề đục chạm bí truyền của dòng họ Đặng danh giá đất Yên Sa, Hùng đã khắc nổi một bức họa vi ti nhưng sống động đến kinh ngạc: Một dải sóng nước sông Hồng cuộn trào uốn lượn, phía trên là con đò Vạn Cát nhỏ nhắn đang hiên ngang lướt sóng, và chở che trọn vẹn lấy con đò ấy là hai nhánh bông lúa trĩu hạt uốn cong mềm mại, ôm ấp lấy thân lược như một vòng tay vĩnh cửu. Thu bàng hoàng nhìn chiếc lược, rồi ngước nhìn Hùng. Anh làm chiếc lược này từ bao giờ? Khối gỗ mun quý giá mà ông nội anh để lại, thứ gỗ cứng như đá và đen như mực tàu, làm sao anh có thể đục đẽo tỉ mỉ đến từng đường gân hạt lúa như thế này trong căn xưởng mộc tăm tối, khi mà ban ngày anh phải giấu giếm con mắt nhòm ngó của Bền, ban đêm phải chịu đựng những cơn đau nhức buốt xương?“Anh giấu thầy, lấy mẩu gỗ mun sót lại dưới đáy hòm đồ nghề của ông nội...” Hùng cất tiếng, thanh âm khàn đặc đi vì nghẹn ngào. “Mỗi đêm, khi cả làng đã ngủ say, anh ngồi bên ngọn đèn dầu, dùng con đục nhỏ nhất để gọt từng chiếc răng lược. Anh mài bằng lá ráp, rồi lại lấy dăm bào gỗ xoan mà chuốt đi chuốt lại hàng nghìn lần... Anh chỉ sợ một chiếc răng lược nào đó còn sắc, sẽ làm đứt sợi tóc của em.” Hùng nâng chiếc lược lên trước mặt Thu, đôi bàn tay người lính dạn dày bom đạn lúc này lại run rẩy như chiếc lá trước gió: “Thu... Anh biết, anh chẳng phải là một người đàn ông lành lặn, trọn vẹn. Anh là một thằng thương binh tàn tật, chân đi chấm phẩy, tương lai phía trước còn mờ mịt trong cảnh cơ chế bao cấp trói buộc. Nhà anh thì nghèo, xưởng mộc đang đứng trước bờ vực bị niêm phong, tai họa tối nay ở đình làng chưa biết sẽ đi về đâu... Anh chẳng có mâm cao cỗ đầy, chẳng có nhẫn vàng bạc nén để trao cho em như người ta...” Hùng hít một hơi thật sâu, ánh mắt thâm trầm bỗng bùng cháy lên ngọn lửa của tình yêu và sự chở che tuyệt đối: “Nhưng anh có đôi bàn tay này. Chừng nào đôi tay này còn cầm được đục, còn đẩy được bào, anh nguyện sẽ làm cái rui, cái mè, làm mái nhà vững chãi nhất để che chắn cho em suốt cuộc đời này. Anh không để ai được phép bắt nạt em nữa. Em... có bằng lòng nhận chiếc lược này, về làm vợ anh không?” Không gian như ngưng đọng lại giữa trời đất Vạn Cát. Tiếng sóng sông Hồng dường như cũng lùi xa, tiếng gió bấc rít qua triền đê cũng lặng đi. Trong thế giới của Thu lúc này chỉ còn lại gương mặt góc cạnh sạm màu sương gió của Hùng, đôi mắt chan chứa ân tình và chiếc lược gỗ mun đang tỏa ra mùi hương trầm mặc của gỗ quý. “Làm vợ anh...” Bốn chữ ấy vang lên trong tâm khảm Thu như một tiếng chuông thức tỉnh cả một kiếp người cơ hàn. Từ năm mười sáu tuổi mồ côi cha mẹ, cô đã quen với việc lủi thủi một mình trong căn nhà dột nát, quen với việc bị người đời rẻ rúng là “đứa con gái vô phúc”, quen với những đêm mùa đông lạnh thấu xương phải ôm chiếc hũ sành rỗng mà khóc thầm. Chưa từng có ai nói sẽ làm mái nhà che chắn cho cô. Chưa từng có ai vì sợ làm đứt một sợi tóc của cô mà thức trắng hàng chục đêm mài nhẵn từng chiếc răng lược. Nước mắt Thu vỡ òa, tuôn rơi không sao kìm lại được. Cô không kìm nén nữa, không trốn tránh nữa. Thu đưa đôi bàn tay nhỏ bé, run rẩy đón lấy chiếc lược mun từ tay Hùng. Mặt gỗ mun mát rượi chạm vào da thịt, nhưng hơi ấm từ bàn tay Hùng truyền sang lại nóng rực như than hồng. “Em bằng lòng...” Thu nghẹn ngào thốt lên giữa những tiếng nấc. “Anh Hùng ơi... từ lâu lắm rồi, trong lòng em đã chỉ có một mình anh... Em không chê anh què, chưa bao giờ em coi anh là gánh nặng! Với em, anh là người đàn ông tốt nhất, đàng hoàng nhất trên cõi đời này... Dù có phải ăn cháo rau má, dù xưởng mộc có bị đóng cửa, dù tối nay người ta có bắt tội, em cũng chỉ muốn được làm vợ anh!” Lời vừa dứt, Thu bước tới một bước, gục đầu vào v*m ng*c vững chãi của Hùng mà khóc nấc lên như một đứa trẻ được trút bỏ mọi tủi hờn gánh nặng bấy lâu. Hùng buông rơi tất cả sự dè dặt, tự ti của một người tàn phế. Anh vòng đôi cánh tay vạm vỡ, rắn chắc như gỗ lim ôm chặt lấy bờ vai gầy guộc của Thu, kéo cô nép sát vào lồng ngực mình. Mùi hương hoa bưởi thanh khiết từ mái tóc cô quyện với mùi mồ hôi mặn mòi, mùi gỗ dăm và mùi khói súng chiến trường còn vương trên da thịt anh, tạo nên một thứ hương vị nồng đượm của sự sống, của sự gắn kết thiêng liêng giữa hai mảnh đời chịu nhiều giông bão. Hùng cúi đầu, cằm tì nhẹ l*n đ*nh đầu Thu, cảm nhận từng nhịp thở dồn dập và những giọt nước mắt ấm nóng của cô thấm ướt đẫm mảnh áo lính trước ngực. Anh khẽ nâng bàn tay đang cầm chiếc lược mun của Thu lên, giọng trầm ấm thì thầm bên tai cô: “Để anh cài lên tóc cho em.” Thu khẽ gật đầu, e ấp ngước lên nhìn anh qua làn nước mắt lấp lánh. Hùng cẩn trọng đón lấy chiếc lược, ngón tay thô ráp luồn vào mái tóc dày, đen nhánh và mượt mà thoang thoảng hương bưởi của cô. Anh chải nhẹ một đường từ chân tóc xuống ngọn, rồi nâng một lọn tóc bên thái dương, khéo léo gài chiếc lược mun vào nếp tóc sau gáy. Chiếc lược mun đen nhánh nổi bật trên nền tóc đen tuyền, bông lúa chạm khắc như đang ôm ấp lấy gương mặt thanh tú, rạng ngời của người con gái sông Hồng. Dưới ráng chiều đỏ ối cuối cùng của ngày đông, Thu đẹp một vẻ đẹp mộc mạc, kiên trinh và thuần khiết đến nao lòng. Hùng nhìn ngắm người vợ tương lai của mình, trong lòng dâng lên một niềm kiêu hãnh và dũng khí vô biên. Mọi nỗi tự ti, mặc cảm về thân thể tàn phế, mọi sự sợ hãi trước thế lực cửa quyền của Lê Tiến Bền bỗng chốc tan biến sạch trơn. Đứng trước người con gái đã trao trọn cuộc đời cho mình, anh hiểu rằng mình không thể lùi bước, không được phép gục ngã. “Thu này,” Hùng nắm chặt lấy đôi bàn tay thô ráp của cô, ánh mắt sáng quắc như sao đêm. “Tối nay ra đình làng, em không phải đứng một mình. Dù thằng Bền có giở trò ma quỷ gì, dù Ban quản trị có đập bàn quát tháo ra sao, anh cũng sẽ đứng chắn trước mặt em. Có phúc cùng hưởng, có họa cùng chia. Chúng ta đi bằng chính đôi chân của mình, kiếm sống bằng mồ hôi nước mắt của mình, không trộm cắp, không lừa lọc của ai một đồng một cắc. Không một ai có quyền tước đoạt danh dự của em!” Thu siết chặt bàn tay anh, nụ cười rạng rỡ nở trên môi dù khóe mắt vẫn còn đọng giọt lệ long lanh: “Vâng! Em nghe anh. Có anh bên cạnh, em chẳng sợ gì hết!” Hoàng hôn tắt hẳn. Màn đêm buông xuống bến đò Vạn Cát nhanh chóng, mang theo cái rét ngọt cắt da cắt thịt đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Gió sông rít lên từng hồi dữ dội, nhưng giữa bãi cát bồi hoang vắng, hai bóng người nép sát vào nhau, sưởi ấm cho nhau bằng ngọn lửa của tình yêu và lời thề ước trăm năm vừa được khắc sâu vào lòng đất mẹ phù sa. * Sáu giờ ba mươi phút tối. Gió lạnh gào thét qua những rặng phi lao ven đê. Cả làng Yên Sa chìm trong một bầu không khí ngột ngạt, căng thẳng lạ thường. Khắp các ngõ xóm lát gạch nghiêng, tiếng bước chân người đi lại rậm rịch, tiếng chó sủa ran từng chập. Những ánh đèn bão, đèn dầu le lói từ các ngả đường đang đổ dồn về phía trung tâm làng – nơi có ngôi đình cổ kính với mái ngói rêu phong đang chuẩn bị diễn ra cuộc họp đấu tố định mệnh. Hùng trở về nhà thay chiếc áo lính bạc màu nhưng lành lặn nhất, cài lại từng chiếc khuy đồng thẳng thớm. Anh rót đầy dầu hỏa vào chiếc đèn bão cũ, lau sạch muội than bám trên bầu kính rồi châm lửa. Ngọn bấc bùng lên một quầng sáng trắng xanh, tỏa hơi ấm dìu dịu. Cầm chiếc đèn bão trong tay trái, tay phải chống chắc thanh gậy tre mộc, Hùng rảo bước tập tễnh trở lại bến sông đón Thu. Bước qua con dốc đê lộng gió, Hùng khẽ đẩy then cửa, bước vào bên trong chòi quán gỗ. Ngọn đèn dầu hỏa hoa kỳ trên bàn được vặn tim to, tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, ấm áp xua tan cái giá buốt của đêm đông. Dưới quầng sáng êm ả ấy, Hùng lặng đi một thoáng khi nhìn thấy Thu. Cô ngồi ngay ngắn bên chiếc bàn gỗ xoan, mái tóc dài chải mượt mà, sau gáy cài chiếc lược mun đen nhánh mà anh vừa trao tặng ban chiều. Chiếc lược như một dấu ấn kiêu hãnh của phẩm giá, khiến dáng vẻ mảnh mai của cô toát lên vẻ trang nghiêm, đĩnh đạc lạ thường. Trước mặt Thu lúc này không phải là quang gánh hay rổ rá bánh kẹo, mà là một chiếc túi vải thô bạc màu được tận dụng may từ vỏ bao lương thực cũ. Đôi bàn tay nhỏ nhắn của cô đang cẩn trọng miết thẳng từng nếp gấp, xếp ngay ngắn từng mẩu giấy nhỏ vào trong lòng túi. Hùng bước chậm rãi lại gần chiếc bàn, hạ ngọn đèn bão xuống sàn gỗ. Anh đưa mắt nhìn những mẩu giấy xếp chồng lên nhau. Đó chẳng phải là những văn bản hành chính uy nghiêm hay giấy phép mậu dịch đóng dấu đỏ chót. Đó là những mảnh giấy xi măng thô ráp sờn mép, những mẩu giấy gói hàng màu vàng ố, thậm chí là những mẩu vỏ bao thuốc lá Tam Đảo được xé phẳng phiu. Trên từng mảnh giấy vụn ấy, những nét chữ nguệch ngoạc viết bằng bút chì hay mực tím hiện lên rõ mồn một: “Tôi là Nguyễn Văn Tám, xóm chài Vạn Cát. Ngày 12 tháng Chạp, nhà hết gạo, con ốm, được cô Thu cho đổi hai phong kẹo lạc và mười chiếc bánh đa lấy một gánh củi khô để chống đói qua ngày...” “Tôi là Trần Thị Mận, xã viên đội 3. Giáp hạt tháng Mười, cô Thu cho vay ba mươi chiếc bánh đa đổi lấy rổ sắn luộc nuôi bốn đứa con thơ, không tính lãi một đồng...” “Tôi là thương binh Lê Văn Thắng, bạn chiến đấu của anh Hùng. Gia đình gặp hoạn nạn, được quán nước bến đò cưu mang bát chè ấm, gói kẹo nghĩa tình...” Hàng chục, hàng trăm mảnh giấy nát như thế – những chứng tích sống động về tình làng nghĩa xóm, về sự sẻ chia bát cơm manh áo giữa những con người cùng khổ trong cơn biến động giá cả, tiền nong khốc liệt năm ấy – được Thu vuốt phẳng từng góc mép, nâng niu như báu vật. Nhìn từng dòng chữ mộc mạc ấy, lồng ngực Hùng trào dâng một niềm xúc động và kính phục khôn xiết. Người con gái mồ côi từng run rẩy trước những lời nạt nộ của đội kiểm soát năm nào, giờ đây đã chuẩn bị cho cuộc đối đầu này bằng thứ vũ khí mạnh mẽ nhất: lương tri và ân nghĩa của nhân dân. Thu cẩn thận thắt nút dây rút miệng chiếc túi vải thô, rồi gài chiếc khuy gỗ ngoài cùng lại cho chắc chắn. Cô ôm chiếc túi vào lòng, ngước nhìn lên và bắt gặp ánh mắt thâm trầm, ấm áp của Hùng đang dõi theo mình. Bốn mắt nhìn nhau giữa không gian tĩnh lặng của chòi gỗ. Không cần một lời nói khách sáo, Hùng bước thêm một bước, chìa bàn tay thô ráp đầy vết chai sần của người thợ mộc về phía cô. Thu mỉm cười, một nụ cười rạng rỡ và thanh thản như hoa bưởi đầu mùa xua tan mọi bóng ma sợ hãi. Cô đứng dậy, khoác chiếc túi vải thô lên vai, rồi đặt bàn tay nhỏ bé của mình trọn vẹn vào lòng bàn tay ấm áp của anh. Hùng siết nhẹ lấy những ngón tay gầy guộc của Thu, cảm nhận hơi ấm vững chãi truyền qua da thịt. Anh nhấc chiếc đèn bão lên, xoay người đẩy cánh cửa chòi. Hai bóng người – một thương binh tập tễnh và một cô gái bến đò – sánh bước bên nhau bước ra ngoài triền đê lộng gió, hiên ngang tiến về phía quầng sáng đèn măng-sông đang hắt lên rực trời nơi sân đình làng Yên Sa. Giông bão lớn nhất của cuộc đời họ đã mở màn, nhưng họ biết, không có sức mạnh bạo tàn nào có thể bẻ gãy được sự thật và tình yêu chân phương bắt rễ từ lòng nhân ái. , , vn, live , vn

Bạn cũng là tác giả hoặc dịch giả?

Đăng sáng tác hoặc bản dịch của riêng bạn lên Say Truyện — miễn phí, chỉ mất vài phút.

Đăng truyện ngay

Bình luận (0)

Đang tải bình luận...