Quán Nước Bên Bến Đò Năm Ấy
Chương14: Lửa đỏ trong lò mới
Cỡ chữ
Cả một đêm hăm bảy tháng Chạp dài tựa một thế kỷ.
Thu ngồi co ro bên góc chòi nước bến Vạn Cát, chiếc chăn chiên Nam Định rách gấu trùm kín đôi vai gầy guộc. Ngoài sông Hồng, gió bấc thổi thông thốc rít qua từng kẽ nứa, quất từng đợt sóng đục ngầu phù sa vỗ bồm bộp vào mép thuyền chài cụ Vấn. Đôi bàn tay Thu rấm rứt đau buốt; những vết phỏng rộp do bốc than dập lửa cứu mẻ bánh đêm trước đã được Hùng rửa bằng nước chè tươi đặc và bọc kín trong mảnh khăn rằn bộ đội, giờ cứ giật từng cơn theo nhịp tim thắc thỏm.
Nửa đêm qua, tiếng chó sủa ran từ xóm Mộc rồi vẳng ra tận mặt đê khiến ruột gan cô như có muối xát. Thu biết tiếng búa đập sắt, tiếng bễ lò rèn của bác Thược dẫu có che chắn bằng bao tải ướt cũng khó lòng giấu nổi đôi tai cú vọ của Lê Tiến Bền. Cứ mỗi lần nghe tiếng gậy tre gõ cồm cộp hay tiếng quát tháo đằng xa trên triền dốc, tim Thu lại thắt lại, chỉ sợ bóng dáng người lính tập tễnh và đứa em gái nhỏ bị giải lên ủy ban xã vì cái tội dám gom sắt vụn, đỏ lửa lò rèn giữa đêm hôm khuya khoắt.
May thay, trời vừa hé rạng thì Thắm đã thoăn thoắt tụt dốc đê xuống chòi, mặt mũi dù phờ phạc vì mất ngủ nhưng ánh mắt lại sáng rực. Cô bé thì thầm kể lại màn kịch thót tim đêm qua: khi gã Bền xộc vào lò rèn đòi khám xét, bác Thược đã nhanh trí gác thanh sắt đang nung dở làm thành chiếc lưỡi cày tập thể của đội sản xuất số hai, còn khung máy và tôn xác máy bay đã được Hùng vùi sâu dưới đống rơm khô ủ phân trâu từ trước. Bền tức tối soi mói từng góc nhà, hạch họe không bắt bẻ được gì đành hậm hực rút quân, nhưng không quên buông lại lời đe dọa sẽ lùng sục ráo riết mọi ngả đường ra bến đò.
Và giờ đây, khi màn sương muối mùa đông bắt đầu tan dần trên bãi ngô trơ cuống rạ, điều kỳ diệu đã xuất hiện trước mắt Thu.
Một tiếng lách cách kim khí quen thuộc vang lên trên con dốc lát đá mòn dẫn xuống bến. Hùng chống chiếc gậy tre đi trước, bước chân khập khiễng nhọc nhằn ghìm lại từng nhịp trên mặt đất trơn ướt sương giá. Phía sau anh, bác Thược lực lưỡng cùng anh lái đò xóm chài đang khiêng một cỗ máy kỳ lạ đặt trên chiếc càng xe bò cải tiến.
“Đặt... khẽ tay thôi! Coi chừng lệch cữ mộng!” Bác Thược thở phì phò qua kẽ răng, cẩn trọng hạ cỗ máy xuống khoảng đất nện ngay gian chái của chòi gỗ.
Thu vội vã đứng bật dậy, chiếc chăn chiên tuột khỏi vai rơi xuống chõng. Đôi mắt đen láy của cô mở to, ngỡ ngàng nhìn khối đồ vật sừng sững vừa được đặt vững chãi dưới bóng cây đa cổ thụ.
Đó là một cỗ máy chưa từng có trong ký ức của bất kỳ người dân nào ở bến Vạn Cát này.
Bộ khung của nó làm bằng gỗ xoan ngâm đỏ au, các mộng mang cá và mộng én được đục khít khao đến mức không lọt nổi một sợi tóc, bốn chân choãi ra hình thang vững chãi như bàn thạch để triệt tiêu mọi rung lắc. Phần thân lò được bọc bằng những tấm tôn duralumin màu xám bạc gò cong vòng cung—thứ kim loại chịu nhiệt lấy từ xác thùng xăng máy bay mà Thắm đã phải bới tìm trong đống phế liệu. Bên hông khung gỗ, chiếc đĩa xích và bộ líp xe đạp Thống Nhất sáng loáng dầu hỏa được gắn liền với một trục láp sắt tròn, truyền động thẳng vào một lồng nướng hình trụ nhiều ngăn đặt kín bên trong buồng nhiệt. Phía dưới buồng đốt là một phễu chứa bằng đất nung pha xỉ than chịu lửa, nối liền với một ống dẫn khói bằng tôn chạy chếch ra ngoài mái hiên.
“Anh Hùng... bác Thược... cỗ máy này...” Giọng Thu run rẩy, nghẹn lại nơi cuống họng.
Hùng dừng lại bên cạnh cô, lau vội vệt mồ hôi đang túa ra hai bên thái dương dù ngọn gió bấc vẫn thổi buốt thấu xương. Khuôn mặt góc cạnh sạm đen vì bồ hóng than đá của anh giãn ra một nụ cười hiền từ, ánh mắt thâm trầm dừng lại trên đôi bàn tay còn băng kín khăn rằn của Thu.
“Đây là lò nướng đối lưu đạp chân.” Hùng cất giọng trầm ấm, khàn đặc vì ba đêm liền thức trắng. “Tôi và bác Thược tính kỹ rồi. Nhiệt từ trấu và mùn cưa bên dưới bốc lên sẽ được buồng tôn duralumin giữ kín, ống dẫn gió sẽ điều hướng nhiệt cuộn tròn trong lồng nướng. Cô chỉ việc ngồi bấm kẹp bánh, chân đạp nhẹ pê-đan xe đạp là lồng tự quay đều quanh trục lửa. Bánh chín bằng hơi nóng tuần hoàn, tuyệt đối không bao giờ dính một hạt bụi tro, lại không phải cúi mặt quạt than đến phỏng rộp tay nữa.”
Thu đưa bàn tay còn lành lặn khẽ chạm vào lớp tôn mát lạnh. Từng đường búa gò mép, từng con ốc tán thủ công bằng sắt vụn đều hằn in sự nhẫn nại phi thường và mồ hôi nước mắt của những con người đã dốc cạn tâm can vì cô. Một đợt sóng ấm áp trào dâng trong lồng ngực, xua tan đi cái lạnh tê tái của buổi sáng mùa đông.
Chưa dừng lại ở đó, Hùng cúi xuống chiếc sọt tre mang theo bên mình, cẩn thận nhấc ra một bọc bao tải gai. Anh mở từng lớp vải thô, để lộ một khối gỗ màu nâu sẫm, vân gỗ chằng chịt nổi lên như những thớ thép nguội.
“Còn cái này cho cô nữa.” Hùng đặt nó lên mặt bàn gỗ xoan.
Đó là một chiếc bàn cối ép và cắt kẹo lạc được gia công từ một súc gỗ nghiến nguyên khối. Mặt bàn phẳng lì, nhẵn thín như gương soi nhờ được đánh bóng bằng sáp ong và lá chuối khô. Hai bên mép bàn là hai thanh cữ gỗ có khắc các rãnh thẳng tắp, đều đặn cách nhau đúng hai đốt ngón tay. Đi kèm với bàn cối là một con lăn gỗ tròn đặc có hai tay cầm và một thanh dao sắt dài được bác Thược mài vát lưỡi từ một thanh thép nhíp xe Zin-130 cũ, lắp vừa khít vào các rãnh cữ.
“Hôm trước thấy cô dùng con dao bài cùn cắt kẹo nóng, mép kẹo vừa nát vụn vừa không đều, lại dễ đứt tay.” Hùng khẽ gãi đầu, ánh mắt bối rối nhìn sang vạt áo Thu. “Có chiếc cối ép này, khi đổ mật lạc ra, cô dùng trục lăn cán phẳng một lượt theo mép cữ gỗ, rồi đặt dao vào rãnh gạt phập một nhát. Một trăm miếng kẹo sẽ vuông vắn tăm tắp như một, sắc cạnh mà không sứt mẻ một góc nào.”
Cụ Vấn chống cây sào đò đứng tựa bên mép nước, chiếc miệng nhai trầu móm mém cười rung rinh:
“Tổ sư cái thằng lính chiến! Cái hoa tay nhà họ Đặng giấu kỹ đến thế là cùng! Đóng cả cỗ lò nướng với cối ép kẹo thế này thì đến thợ mậu dịch nhà nước cũng phải ngả mũ chào thua đấy con ạ!”
Bác Thược cười ha hả, vỗ bồm bộp vào đôi vai rộng của Hùng:
“Gớm, cụ cứ khen làm thằng bé nó ngượng! Cả đêm qua nó nắn từng cái nan kẹp bánh, sợ làm xước tay cô Thu nên lấy giấy ráp mài nhẵn thín từng cái góc sắt đấy! Nào, con bé Thu, mau nhóm lửa lên xem cỗ máy của lính công binh có đánh thắng được giặc dốt nướng bánh không!”
“Dạ... vâng!” Thu khẽ giật mình, vội vàng gật đầu, hai má ửng hồng sau lớp khăn che mặt.
Thu thoăn thoắt đi gom một rổ trấu khô và hai bơ mùn cưa gỗ xoan mịn tắp từ góc chòi. Đây là thứ phế phẩm bỏ đi của xóm Mộc, không tốn lấy một xu đổi tem phiếu như than đá mậu dịch, nhưng lại là nguồn nhiệt âm ỉ và đượm nhất nếu biết cách ủ. Thu đặt chiếc bùi nhùi rơm vào họng lò dưới đáy buồng tôn, châm đóm lửa. Ngọn lửa vàng l**m nhanh qua mớ rơm khô, rồi từ từ bén vào lớp trấu rải đều bên trên.
Hùng bước tới, bước chân tập tễnh vững chãi dừng lại bên chiếc bàn đạp xe đạp. Anh ngồi lên chiếc đẩu gỗ xoan ngâm đóng từ năm ngoái, đặt bàn chân phải lành lặn lên pê-đan.
“Thắm! Mang mẻ bánh sống ra đây!” Hùng cất giọng chỉ huy như một người lính trên trận địa.
Thắm nhanh nhảu bưng chiếc mẹt tre lớn, trên xếp ngay ngắn những chiếc bánh đa bột nếp cái hoa vàng pha sắn luộc mà hai chị em đã thức tráng từ chiều hôm qua, rắc kín vừng đen óng ánh.
Thu hít một hơi thật sâu. Lồng ngực cô đập rộn ràng. Đôi bàn tay còn quấn băng vải thô khẽ run run khi nhấc chiếc bánh đa sống đầu tiên. Hùng nghiêng người mở nắp buồng tôn, để lộ lồng quay sắt bên trong. Chiếc nan kẹp bằng tôn duralumin bật mở bằng một lẫy lò xo nhỏ làm từ nan hoa xe thồ. Thu nhẹ nhàng đưa miếng bánh mềm vào giữa hai thanh kẹp, chiếc kẹp khép lại êm ru, giữ chặt chiếc bánh ở tư thế dựng đứng mà không hề làm rách mép bột.
“Xong một chiếc!” Thu reo khẽ.
“Tiếp chiếc thứ hai, thứ ba, thứ tư!” Hùng tiếp lời, ánh mắt tập trung cao độ. “Lồng nướng này chia làm bốn khoang đối xứng, mỗi mẻ nướng được đúng bốn chiếc một lúc.”
Thu thoăn thoắt tra đủ bốn chiếc bánh vào bốn khoang lồng. Hùng hạ nắp đậy buồng tôn bằng duralumin xuống. Nắp hộp đóng khít khao nhờ một gờ mộng gỗ bọc nỉ gai ướt, ngăn hoàn toàn khói và nhiệt thất thoát ra ngoài.
“Bác Thược! Kéo bễ phụ một nhịp!” Hùng hô lớn.
Bác Thược dùng chân đạp chiếc ống thụt khí phụ chế từ da trâu. Luồng dưỡng khí lùa thẳng vào lòng trấu đang ủ. Chỉ trong chớp mắt, từ lớp trấu mùn cưa, ngọn lửa đỏ cam rực rỡ bùng lên âm ỉ dưới đáy lò. Nhiệt lượng tỏa ra hầm hập, làm nóng rực lớp vỏ tôn duralumin nhưng không hề có một tia khói đen nào bốc lên mặt buồng trên; toàn bộ khói trấu đã theo ống xả bằng sắt dẫn thẳng ra ngoài trời, bay là là tan vào sương sông.
Hùng bắt đầu đạp pê-đan.
“Tách... tách... tách...”
Tiếng líp xe đạp Thống Nhất kêu lên giòn tan, nhịp nhàng. Bánh xích quay đều, truyền lực qua dây xích tải đưa trục láp quay chầm chậm. Bên trong buồng nhiệt đóng kín, lồng sắt chứa bốn chiếc bánh đa bắt đầu xoay tròn đều đặn chung quanh luồng nhiệt đối lưu nóng bỏng.
Thu nín thở, hai bàn tay đan chặt vào nhau trước ngực. Đôi mắt cô dán chặt vào khe quan sát nhỏ xíu được che bằng một mảnh kính mỏng gắn trên nắp buồng đốt.
Qua lớp kính mờ hơi nước, một cảnh tượng kỳ ảo hiện ra.
Dưới luồng khí nóng cuộn tròn đều đặn không ngắt quãng, bề mặt chiếc bánh đa nếp bắt đầu rung rinh. Những hạt vừng đen li ti bám trên nền bột trắng sữa bắt đầu nhảy múa. Rồi như có một bàn tay vô hình thổi phồng, từng mảng bột nếp cái hoa vàng gặp nhiệt đối lưu bỗng rộp lên, phồng căng như cánh hoa bưởi nở bung trong nắng sớm.
“Lách tách! Tách... tách!”
Tiếng những hạt vừng nổ tí tách vui tai hòa cùng tiếng líp xe đạp rộn rã. Mùi thơm ngào ngạt bốc lên ngùn ngụt, xuyên qua lớp roăng nỉ bay tỏa khắp gian chòi bến đò. Đó không phải là mùi khói than hoi nồng gây ngạt thở như mọi khi, mà là mùi thơm tinh khiết, ngọt lịm của gạo nếp mùa mới quyện với vị bùi ngậy béo ngót của vừng đen và hương thơm thoang thoảng của trấu ủ đồng quê.
“Chín rồi! Lật lẫy!” Hùng gạt cần hãm.
Líp xe dừng lại đúng khớp. Hùng dùng tay kéo chiếc chốt gỗ cách nhiệt mở toang nắp buồng đốt. Một luồng hơi nóng rực thơm lừng ùa ra làm bừng sáng cả không gian ảm đạm của bến sông.
Bốn chiếc bánh đa bung ra khỏi kẹp lồng.
Thu đưa đôi đũa cả tre đón lấy từng chiếc bánh. Trời đất ơi! Bốn chiếc bánh đa nở tròn vành vạnh, phồng rộp đều tăm tắp từ tâm bánh ra tận viền ngoài. Màu bánh vàng ươm như mật ong rừng, từng bóng khí phồng lên căng mọng, giòn rụm mà tuyệt nhiên không hề có lấy một vệt cháy sém hay một hạt bụi tro nào bám vào.
“Trời phật phù hộ! Bánh phồng đẹp quá anh Hùng ơi!” Thắm nhảy cẫng lên reo hò, túm lấy tay áo Thu lắc mạnh.
Cụ Vấn run run đón lấy một chiếc bánh nóng hổi vừa ra lò. Chiếc bánh đa mỏng manh nhưng xốp nhẹ như mây. Cụ đưa tay bẻ nhẹ một góc.
“Rôm... rốp!”
Một tiếng gãy giòn tan vang lên đanh gọn giữa bầu không khí tĩnh mịch của bến đò. Cụ Vấn bỏ miếng bánh vào miệng nhai chậm rãi. Đôi mắt già nua của cụ bỗng long lanh ngấn nước:
“Giòn tan trong miệng... không cứng, không khét mùi than đá, lại xốp mềm hương nếp cái hoa vàng. Cả đời chèo đò sông Hồng của bu chưa từng thấy cái bánh đa nào nướng khéo đến bực này! Cái lò này đúng là của báu rồi các con ơi!”
Bác Thược nhìn chiếc đồng hồ Liên Xô cũ kỹ đeo trên cổ tay, reo to:
“Chưa đầy ba phút! Đúng hai phút bốn mươi giây một mẻ bốn chiếc! Mọi hôm cô Thu hì hục quạt than mỏi rã cánh tay, mười phút mới xong một chiếc mà còn cháy góc này sống góc kia! Nhanh gấp bốn, gấp năm lần chứ chả chơi!”Thu nghẹn ngào nhìn bốn chiếc bánh vàng ươm tỏa khói nghi ngút trên chiếc mẹt tre. Nỗi lo âu đè nặng ngực cô suốt ba ngày qua như tảng đá ngàn cân bỗng chốc vỡ òa, tan biến vào hư không. Đơn hàng một trăm sáu mươi chiếc bánh đa cho chuyến buôn Tết qua sông tưởng chừng đã tuyệt vọng sau đêm vỡ lò đất, giờ đây bỗng hóa thành một mục tiêu nằm trọn trong tầm tay!
“Nhanh lên chị Thu! Mật mía sôi bồng rồi kìa!” Tiếng Thắm giục giã kéo Thu trở về thực tại.
Trên chiếc kiềng sắt ba chân góc chòi, chảo mật mía hoa cau nấu cùng gừng giã nhỏ đã sôi sủi bọt mắt cua, tỏa ra mùi thơm cay nồng nàn ấm áp. Thu lấy lại sự bình tĩnh của người thợ lành nghề. Cô thoăn thoắt đổ mớ lạc sẻ đã rang vàng giòn, sẩy sạch vỏ lụa vào chảo mật, dùng chiếc đũa cả lớn đảo đều tay. Từng hạt lạc bóng nhẫy quyện chặt lấy lớp mật mía quánh đặc màu cánh gián.
Khi mật kéo thành sợi óng ả, Thu nhanh tay nhấc chảo đổ toàn bộ khối kẹo nóng hổi lên mặt bàn cối gỗ nghiến mà Hùng vừa đóng.
Chiếc bàn cối phát huy tác dụng thần kỳ. Thu rắc một lớp vừng trắng rang thơm xuống đáy, đổ kẹo lên rồi cầm chiếc trục lăn bằng gỗ nghiến lăn mạnh. Nhờ hai thanh cữ chuẩn xác hai bên, khối kẹo lạc được cán phẳng lì, dày đều tăm tắp đúng một phân, mặt kẹo phẳng bóng như gương lụa.
Ngay khi kẹo còn đang dẻo ấm, Thu đặt lưỡi dao thép nhíp xe Zin vào từng rãnh cữ gỗ, ấn mạnh một nhát dứt khoát.
“Phập! Phập! Phập!”
Những tiếng cắt gọn gàng, sắc lẹm vang lên. Từng thanh kẹo lạc tách rời nhau tăm tắp, vuông vức từng góc cạnh, dài đúng ba đốt ngón tay, rộng đúng một đốt. Không một hạt lạc nào bị vỡ nát, không một mép mật nào bị nham nhở. Thắm nhanh tay rải kẹo ra nia cho nguội rồi gói vào từng lớp lá chuối khô đã lau sạch bóng, bọc ngoài bằng những vuông giấy báo cắt sẵn.
Gian chòi gỗ bến Vạn Cát bỗng chốc biến thành một công xưởng rộn ràng, nhịp nhàng như một bản hòa tấu lao động giữa ngày giáp Tết.
Tiếng líp xe đạp
tách... tách... tách
của Hùng đạp lò nướng hòa cùng tiếng xích sắt quay đều; tiếng bẻ trấu nổ lách tách trong buồng lửa duralumin; tiếng dao cắt kẹo
phập phập
dứt khoát trên thớ gỗ nghiến; tiếng quạt mát sột soạt của Thắm và tiếng cười giòn tan của bà con xóm chài kéo sang xem lò mới.
Khách sang đò buổi sáng mùa đông dừng chân ghé quán đông như trẩy hội. Mùi thơm của bánh nướng đối lưu và kẹo gừng mật mía theo ngọn gió bấc bay xa tít tắp dọc theo triền đê phù sa, kéo theo những người đi chợ sớm, những anh lái xe thồ cồng kềnh ghé vào trú rét. Ai nấy đều tròn mắt kinh ngạc trước cỗ máy kỳ lạ đạp bằng chân của anh thương binh cụt chân họ Đặng và sự khéo léo phi thường của cô gái mồ côi quán nước.
“Cho tôi ba chiếc bánh đa mang sang sông cúng tất niên!”
“Bán cho tôi năm phong kẹo lạc về làm quà cho các cháu, nhìn thanh kẹo vuông vức bóng bẩy thế kia ai nỡ chối từ!”
Bát nước chè xanh gừng sóng sánh bốc khói ngùn ngụt trao tay khách bộ hành; từng phong kẹo gói lá chuối khô và từng chiếc bánh đa vàng ươm giòn rụm được chuyền đi thoăn thoắt. Tiền hào, tiền xu lẻ leng keng rơi vào chiếc hộp tôn của mẹ Thu để lại.
Từ sáng tinh mơ cho đến quá trưa, ngọn lửa trấu trong buồng lò duralumin chưa một lần tắt ngấm. Hùng miệt mài đạp từng nhịp pê-đan, chiếc chân tật nguyền gác tạm lên thanh gỗ đỡ, chỉ dùng chiếc chân lành lặn phát lực nhưng đều đặn như một cỗ máy vĩnh cửu. Mồ hôi thấm đẫm chiếc áo bông cũ sờn vai của anh, chảy ròng ròng qua trán, lem nhem những vệt bồ hóng than đá. Thu thoăn thoắt tra bánh, nướng bánh, cán kẹo, cắt kẹo không một phút ngơi nghỉ. Đôi bàn tay phỏng rộp của cô dường như đã quên hết mọi đau đớn thể xác, chỉ còn lại sự thăng hoa của tình yêu lao động và khát vọng sống mãnh liệt.
Đúng ba giờ chiều, mẻ bánh cuối cùng bật ra khỏi kẹp lò nướng.
Thu cẩn thận đếm lại từng chồng bánh đa được xếp ngay ngắn trong hai chiếc sọt tre lớn lót lá chuối khô và che kín bằng tấm nilông đi mưa.
Đủ một trăm sáu mươi chiếc bánh đa phồng xốp vàng ươm!
Ở góc chõng tre bên cạnh, tám mươi phong kẹo lạc vuông vức, thơm lừng mùi gừng cay và mật mía hoa cau cũng đã được buộc bằng những sợi lạt giang nhuộm phẩm đỏ trang trọng, sẵn sàng cho mâm cỗ Tết.
Toàn bộ đơn hàng khổng lồ tưởng như bất khả thi đã được hoàn thành trọn vẹn, sớm hơn dự kiến nửa ngày trời!
“Xong rồi... Chúng ta làm được rồi anh Hùng ơi...” Thu thì thào, giọng cô run lên vì xúc động ngập tràn.
Bà con lối xóm và cánh thợ đò vỗ tay rầm rộ, những tiếng xuýt xoa, thán phục vang rộn cả khúc sông:
“Khéo quá! Đúng là trời không phụ lòng người hiền lành!”
“Cái lò này mà nhân rộng ra cho hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp thì khéo cả làng Yên Sa hết cảnh đói giáp hạt!”
Bác Thược lau mồ hôi trán, cười sảng khoái rồi cùng bà con xóm chài tản dần về bến để chuẩn bị cho những chuyến đò chiều. Cụ Vấn cũng quay lại thuyền chài chuẩn bị ấm nước vối cho khách qua sông, để lại khoảng không gian bình yên tĩnh lặng dưới mái chòi gỗ bên gốc đa cổ thụ.
Lúc này, Hùng mới buông chân khỏi pê-đan xe đạp. Anh ngồi tựa lưng vào cột gỗ xoan, th* d*c vì kiệt sức. Cả ba ngày đêm thức trắng rèn sắt cùng hàng giờ đồng hồ đạp lò nướng liên tục đã vắt kiệt sức lực của người thương binh. Khớp gối trái của anh sưng tấy lên sau lớp vải quần bộ đội, run rẩy từng cơn đau nhức nhối khi cơn gió chiều bắt đầu trở lạnh.
Thu rót một bát nước chè xanh nóng hổi còn bốc khói nghi ngút, rón rén bước lại gần anh.
Nhìn người đàn ông cao lớn đang ngồi nép bên cột gỗ, khuôn mặt góc cạnh sạm đen bụi than, khóe mắt trũng sâu vì mất ngủ nhưng ánh nhìn vẫn ngời lên vẻ kiên cường và bao dung vô bờ bến, sống mũi Thu cay xè. Vì cô, vì một gánh hàng kẹo mộc mạc và món nợ nghĩa tình của cha mẹ cô, mà anh đã bất chấp vết thương chiến trường, bất chấp sự ngăn cấm của gia đình và cả sự rình rập đe dọa của chính quyền xã để dốc cạn sức lực tạo nên cỗ máy này.
“Anh Hùng... anh uống bát nước cho ấm dạ.” Thu quỳ một bên gối xuống nền đất nện bên cạnh anh, hai tay dâng bát nước chè tươi.
Hùng ngẩng đầu lên, đón lấy bát nước bằng đôi bàn tay thô ráp đầy những vết chai sần và vết xước mới do phoi sắt cứa vào. Anh nhấp một ngụm nhỏ, hơi ấm của chè xanh và vị cay nồng của lát gừng tươi như xua tan đi sự mệt mỏi rã rời trong từng mạch máu.
“Bánh nướng đẹp lắm.” Hùng nhìn Thu, giọng anh ấm áp lạ thường. “Tay cô... có còn đau buốt lắm không?”
Thu khẽ lắc đầu, những lọn tóc mai vương hương hoa bưởi thoang thoảng khẽ lay động trước gió bấc. Cô nhìn thấy trên trán anh, nơi vầng trán rộng cương nghị, một vệt bồ hóng đen sì đang nhòe đi cùng những giọt mồ hôi túa ra chưa kịp khô.
Không kìm được lòng mình, Thu đánh bạo đưa vạt áo bà ba màu nâu sồng đã sờn chỉ của mình lên. Bàn tay nhỏ bé, ngập ngừng của cô khẽ chạm vào vầng trán Hùng.
Hùng thoáng giật mình, toàn thân anh khựng lại. Ánh mắt hai người bất chợt chạm nhau ở khoảng cách thật gần.
Trong đôi mắt thâm trầm của người lính phục viên, Thu nhìn thấy hình bóng của chính mình—một cô gái nhỏ nhắn nhưng kiên cường đang phản chiếu trọn vẹn trong đáy mắt anh. Còn Hùng, anh cảm nhận được sự mềm mại, ấm áp và run rẩy từ những ngón tay của người con gái đang cẩn trọng chấm từng giọt mồ hôi trên gò má sương gió của mình.
Mùi hương hoa bưởi dịu dàng từ mái tóc Thu quyện với mùi mật mía ngào ngạt và mùi khói trấu ủ ấm nồng tạo nên một thứ phong vị bình yên đến nao lòng giữa mùa đông loạn lạc. Không một lời thề thốt sáo rỗng, không một câu hẹn ước hoa mỹ, nhưng giữa gian chòi gỗ mộc mạc bên triền sông Hồng cuộn sóng phù sa, hai trái tim từng chịu nhiều vết thương rách nát của chiến tranh và nghèo khó đã hòa chung một nhịp đập, gắn kết keo sơn qua từng giọt mồ hôi và thành quả lao động nhọc nhằn mà vinh quang.
“Từ nay... cô không phải sợ cái lò đất nứt vỡ nữa.” Hùng cất tiếng thì thầm, bàn tay to bản thô ráp của anh khẽ chạm nhẹ vào mép dải băng khăn rằn quấn quanh bàn tay Thu. “Có cỗ máy này, cô sẽ giữ được chữ tín với người ta, sẽ trả hết nợ nần... và sống một đời ngẩng cao đầu.”
Nước mắt Thu lăn dài trên má, rơi xuống mu bàn tay chai sần của Hùng, ấm nóng:
“Ơn này của anh... cả đời này em không biết lấy gì đền đáp...”
“Đừng nói lời ơn huệ.” Hùng lắc đầu, ánh mắt kiên định. “Bát nước chè xanh chiều đông năm ấy cô trao cho tôi bên bờ sông cạn... đã cứu sống cả cuộc đời tôi rồi.”
Niềm hạnh phúc ngọt ngào, ấm áp vừa mới chớm nở như một nụ mầm vượt qua mùa đông buốt giá thì đột nhiên, một chuỗi âm thanh hỗn loạn vang lên từ phía triền đê.
“Chị Thu ơi! Anh Hùng ơi! Chết dở rồi!”
Tiếng Thắm thở không ra hơi, hốt hoảng hét lên từ dốc đá. Cô bé chạy thục mạng xuống bến đò, đôi dép nhựa Tiền Phong sút cả quai, tà áo hoa rách một vệt bên sườn vì vấp phải bụi gai mây ven đường.
Thu giật mình rụt tay lại, vội vã đứng bật dậy. Hùng cũng chống gậy đứng thẳng người, khuôn mặt anh lập tức đanh lại, lấy lại vẻ cảnh giác sắc bén của người lính trinh sát:
“Có chuyện gì thế Thắm? Bình tĩnh nói xem nào!”
Thắm chống hai tay vào đầu gối, th* d*c từng cơn, mặt mũi tái mét cắt không còn giọt máu:
“Bác lái buôn... người đặt một trăm sáu mươi chiếc bánh đa với tám mươi phong kẹo... vừa bí mật cho người sang sông báo tin khẩn!”
“Sao cơ? Bác ấy hủy hẹn à?” Tim Thu thót lại một nhịp, mặt cô biến sắc.
“Không phải hủy!” Thắm lắc đầu lia lịa, giọng đứt quãng vì sợ hãi. “Chuyến đò chở hàng đường dài của họ dưới xuôi lên bị sự cố máy ở bến Chèm, họ phải nhổ neo đi gấp ngay trong đêm nay để kịp phiên chợ Tết sớm bên huyện Đông! Bác ấy bảo... nếu không thồ hàng sang sông giao đủ trước mười hai giờ đêm nay thì họ sẽ hủy toàn bộ hợp đồng, lấy mối bánh khác ở mậu dịch và bắt mình đền gấp đôi tiền cọc!”
Thu bàng hoàng lùi lại một bước, ngước nhìn lên bầu trời mùa đông đang sụp tối nhanh như một màn nhung đen kịt.
Muốn giao hàng trước mười hai giờ đêm sang bên kia sông, chỉ có duy nhất một con đường: phải thồ hai sọt hàng lớn này ngược lên đê Yên Sa, đi qua quãng đường vắng dài hơn bảy cây số để đến ngã ba bến phà phụ.
Nhưng trong đêm tối mịt mùng rét buốt này, trên con đê độc đạo ấy, chiếc barie tre của trạm kiểm soát do Lê Tiến Bền chỉ huy đã hạ xuống từ lúc chập tối, rải kín những cặp mắt cú vọ rình bắt tội “vận chuyển nông sản tiểu thủ công nghiệp trái phép”.
, , vn, live
,
vn
Bình luận (0)
Đang tải bình luận...