Nữ Quan Thượng Dược Không Màng Long Sủng
Chương22: Cứu Thế Y Quán
Cỡ chữ
Gió mùa xuân từ rặng núi Thiên Sơn xa xôi thổi qua bình nguyên, mang theo hơi thở mát lạnh của tuyết tan hòa cùng mùi đất ẩm nồng nàn. Tại trấn Thanh Bình – mảnh đất biên thùy giáp ranh giữa Đại An và các bộ tộc tây bắc, tiết trời tháng Ba chưa bao giờ dễ chịu đến thế. Nắng sớm rải một lớp mật vàng óng ả lên những mái ngói rêu phong, làm bốc lên một mùi hương vô cùng đặc trưng mà bất cứ ai đi qua con phố chính cũng đều nhận ra: mùi the mát của bạc hà, vị ngai ngái ấm áp của sài hồ, cùng hương thơm ngọt lành, tinh khiết của những đóa kim ngân hoa đang độ nở rộ.
Đó là mùi của “Cứu Thế Y Quán”.
Ngôi y quán ba gian được dựng bằng gỗ thông vững chãi, phía trước là khoảng sân rộng rải sỏi trắng tinh, xếp ngay ngắn hàng chục chiếc nia tre lớn phơi đầy các loại rễ cây, vỏ củ và lá thuốc đã qua sơ chế. Trên tấm biển gỗ mộc treo trước hiên nhà, bốn chữ “Cứu Thế Y Quán” được khắc bằng nét bút cứng cỏi, phóng khoáng như rồng bay phượng múa, không thếp vàng dát ngọc nhưng toát lên một vẻ thanh cao, trầm tĩnh lạ thường.
Ba năm. Thấm thoát đã ba năm trôi qua kể từ buổi sớm mai chúng ta rời bỏ kinh thành Thượng Kinh.
Ba năm không còn tiếng chuông cung đình báo hiệu canh năm, không còn mùi trầm hương u uất ngột ngạt nơi tẩm điện Dưỡng Tâm, và càng không còn những ánh mắt dò xét, toan tính hay những chén trà tẩm độc đoạt mệnh nơi thâm cung. Đôi bàn tay ta, nơi từng chịu nhục hình dập nát dưới ngục tối Thận Hình Ty, giờ đây đã hoàn toàn bình phục. Mười đầu ngón tay thon dài, tuy vẫn còn vài vết sẹo mờ nhạt nơi khớp xương như chứng tích của giông bão quá khứ, nhưng đã lấy lại trọn vẹn sự linh hoạt và mẫn cảm tuyệt đối của một người thầy thuốc.
“Tiêu đại phu! Tiêu đại phu ơi, cứu mạng với!”
Một tiếng kêu thất thanh từ ngoài cổng tre cắt đứt dòng suy tưởng của ta. Hai người lính biên phòng mặc giáp nhẹ bằng da thuộc đang khiêng một chiếc cáng tre vội vã chạy vào sân, theo sau là một phụ nhân trung niên vừa đi vừa khóc nức nở.
Ta lập tức buông chiếc quạt nan đang dùng để kiểm tra độ khô của mộc thông, đứng dậy bước nhanh ra đón:
“Mau khiêng vào sảnh tây, đặt bệnh nhân nằm nghiêng sang một bên!”
Bệnh nhân là một thanh niên trạc hai mươi tuổi, con trai của người phụ nhân kia, cũng là lính thú đồn trú nơi hẻm núi cách trấn ba mươi dặm. Sắc mặt người lính trẻ tái nhợt như tro tàn, môi thâm tím, toàn thân run rẩy dữ dội đến mức răng va vào nhau lập cập phát ra tiếng kêu “cốp cốp”, dẫu trên người đang đắp hai lớp chăn bông dày sụ. Thế nhưng, khi ta áp mu bàn tay vào trán và cổ chàng ta, nhiệt độ lại nóng rẫy như lửa đốt.
“Con ta bị tà khí trong rừng sâu ám rồi!” Người mẹ quỳ sụp xuống đất, nắm lấy vạt áo vải thô màu xanh nhạt của ta mà van lạy. “Hôm qua nó đi tuần tra trong khe núi nhiều sương ẩm, chiều về liền phát lạnh thấu xương, run rẩy nửa canh giờ rồi lại sốt cao mê sảng, nôn thốc nôn tháo. Người trong thôn bảo đây là bị chướng khí rừng thiêng quỷ ám, phải mời thầy cúng về trừ tà... nhưng ta sợ nó không qua khỏi trưa nay!”
“Bác gái mau đứng lên, không có tà ma nào ở đây cả.” Ta đỡ bà dậy, giọng nói trầm tĩnh và dứt khoát như một liều thuốc an thần rót vào lòng người mẹ đang hoảng loạn. “Đây là bệnh ‘ngã nước’, đông y gọi là chướng ngược, dân gian hay gọi là sốt rét. Tà khí không phải ma quỷ, mà là thứ độc trùng li ti sinh sôi từ những vũng nước tù đọng nơi ẩm thấp, truyền qua vết đốt của loài muỗi rừng vào trong máu.”
Ta vừa nói vừa nhanh chóng lật mí mắt của người lính trẻ lên kiểm tra: kết mạc mắt nhợt nhạt, có dấu hiệu tán huyết nhẹ; sờ nắn vùng hạ sườn trái thấy lách đã sưng to và đau; hơi thở gấp gáp, mồ hôi bắt đầu vã ra như tắm khi cơn sốt bước vào giai đoạn hạ nhiệt cục bộ.
Rõ ràng là sốt rét ác tính do ký sinh trùng phát triển theo chu kỳ. Nếu ở thời hiện đại, chỉ cần vài viên Artemisinin phối hợp là có thể đẩy lùi bệnh cảnh trong vài ngày. Nhưng ở thời đại này, nếu cứ theo lối mòn của các ngự y cổ hủ dùng đan dược chu sa hay cho uống nước tro bùa chú, bệnh nhân chắc chắn sẽ tử vong vì suy tạng hoặc vỡ lách.
“Bạch Chỉ... à không, Chu dược đồng đâu rồi?” Ta theo thói quen suýt gọi tên cô tỳ nữ cũ, rồi lập tức cất tiếng gọi ra phía hậu viện.
“Có ta đây.”
Một giọng nói trầm ấm, quen thuộc vang lên từ phía cửa nách. Chu Dịch bước vào, trên tay bưng một chiếc khay đồng đựng khăn vải sạch và nước sôi để nguội.
Chàng lúc này không còn là vị Cửu hoàng tử ốm yếu năm nào giấu mình trong góc tối Lạc Phù Viện, cũng chẳng còn là Phụ Chính Vương quyền uy khuynh đảo triều dã trong bộ triều phục thêu mãng xà uy nghiêm. Chàng mặc một bộ áo ngắn bằng vải thô màu lam sẫm, ống tay áo xắn cao để lộ cánh tay rắn chắc, khỏe mạnh với làn da đã ngăm đen vì nắng gió thảo nguyên. Khí sắc chàng hồng hào, ánh mắt sáng ngời như sao đêm, tràn đầy sinh lực của một người đàn ông hoàn toàn rũ sạch kịch độc Tằm Hàn.
Nhìn thấy chàng, trái tim ta luôn dấy lên một cảm giác an định tuyệt đối. Chỉ bằng một ánh mắt giao nhau, chàng đã hiểu ngay ta cần gì.
“Chu dược đồng, lấy cho ta ba lạng Thanh hao tươi vừa hái sáng nay trong vườn thuốc phía sau, nhớ là chỉ lấy phần lá non và ngọn hoa vàng. Rửa sạch bằng nước muối loãng, sau đó dùng cối đá giã nát, vắt lấy nước cốt đặc, tuyệt đối không được đun qua lửa nóng.” Ta dặn dò rành rọt.
“Tuân lệnh chưởng quầy.” Chu Dịch khẽ mỉm cười, trong khóe mắt ánh lên nét cưng chiều và hóm hỉnh. Chàng xoay người bước nhanh ra vườn thuốc.
Người mẹ ngơ ngác nhìn ta:
“Tiêu đại phu... thuốc không sắc lên lửa sao? Từ trước tới nay ta chỉ thấy các thầy lang bốc thuốc đun sôi ba bát lấy một bát, uống nước lạnh như vậy liệu có phạm vào hàn khí không?”
Ta kiên nhẫn giải thích trong khi dùng khăn sạch lau mồ hôi cho người bệnh:
“Bác gái không biết đó thôi. Vị thuốc Thanh hao này có tính hàn, thanh nhiệt giải thử, nhưng tinh chất quý giá nhất để diệt trừ mầm bệnh sốt rét trong đó lại vô cùng nhạy cảm với nhiệt độ. Nếu đun sôi trên lửa quá lâu, dược chất sẽ bay hơi và phân hủy hoàn toàn, bã thuốc chẳng còn lại bao nhiêu công hiệu. Trong cổ thư
Trửu Hậu Bị Cấp Phương
từng viết: ‘Thanh hao nhất ác, dĩ thủy nhị thăng giảo, giảo thủ trấp, tận phục chi’ – chính là dùng nước cốt tươi giã sống. Đó mới là phép trị tận gốc.”
Chỉ một lát sau, Chu Dịch đã bưng vào một bát sứ lớn chứa nước cốt Thanh hao màu xanh lục thẫm, tỏa ra mùi the đắng đặc trưng. Nhờ nội lực thâm hậu năm xưa, chàng dùng chày đá giã nát thảo dược mịn màng và vắt kiệt từng giọt tinh chất chỉ trong chớp mắt.
Ta đỡ người lính dậy, cẩn thận dùng thìa bón từng ngụm nước thuốc vào miệng chàng ta. Vị đắng gắt khiến gương mặt chàng thanh niên nhăn nhúm lại, nhưng nhờ sự ức chế co thắt dạ dày bằng vài lát gừng tươi ta xoa nơi huyệt Nội Quan trước đó, chàng ta đã uống cạn không sót một giọt.
“Uống xong bát này, trong vòng hai canh giờ tới cơn sốt sẽ dần lui.” Ta đứng thẳng người, viết một toa thuốc bổ khí dưỡng huyết đưa cho Chu Dịch. “Sau đó, mỗi ngày uống hai lần nước cốt Thanh hao này vào buổi sáng và chiều, liên tục trong năm ngày để quét sạch mầm bệnh ẩn sâu trong tủy cốt. Đồng thời, dùng thêm bài thuốc Hoàng kỳ, Đương quy sắc nhẹ để bồi hoàn nguyên khí bị hao tổn do tán huyết.”
Người mẹ mừng rỡ dập đầu cảm tạ, run rẩy rút từ trong túi vải ra vài đồng tiền đồng sứt mẻ và một bọc trứng gà rừng còn vương rơm rạ:
“Nhà ta nghèo quá, chỉ có chừng này... xin Tiêu đại phu nhận cho.”
Chu Dịch tiến lên một bước, nhẹ nhàng đỡ bà cụ đứng dậy, mỉm cười lắc đầu:
“Bác gái giữ lại số tiền đồng này để mua thêm gạo thịt bồi dưỡng cho chất tử. Y quán chúng ta có quy định: quân nhân trấn giữ biên ải và bách tính nghèo khổ đến khám chữa chỉ thu nhận sản vật tấm lòng. Số trứng gà này, chúng ta xin nhận.”
Đôi mắt người mẹ đỏ hoe, nghẹn ngào không nói nên lời. Những người lính biên phòng cùng đi cũng xúc động cúi đầu chào từ biệt, cẩn thận khiêng người đồng đội đã bắt đầu thở đều đặn, hạ sốt trở về doanh trại.
Tiễn bệnh nhân ra đến cổng, ta quay lại nhìn khoảng sân nắng, hít một hơi thật sâu lồng ngực đầy ắp phong vị khoáng đạt của đất trời.
“Hôm nay là ca sốt rét thứ tư trong tháng rồi.” Ta nhìn Chu Dịch, khẽ nhíu mày suy ngẫm. “Mùa xuân băng tan, nước đọng thành ao tù nơi các thung lũng, muỗi rừng sinh sôi quá nhanh. Nếu chỉ ngồi ở y quán chờ người bệnh đến thì trị không xuể. Chiều nay, chúng ta phải cùng lý trưởng triệu tập dân làng và binh lính trong trấn lại.”
Chu Dịch bước đến bên cạnh ta, đưa tay đón lấy chiếc khay đồng trên tay ta đặt sang một bên, ánh mắt tràn đầy sự tán đồng:
“Nàng lại muốn phổ biến phép ‘Vệ sinh phòng dịch’ trong
Tân Chính Y Thư
chứ gì? Khai thông mương rãnh, rải vôi sống khử trùng những nơi ẩm thấp, và phát túi thơm tinh dầu sả, tràm đuổi muỗi?”
“Chàng đúng là hiểu ta nhất.” Ta ngước nhìn chàng, khóe môi khẽ cong lên. “Trị bệnh khi chưa phát bệnh mới là thượng sách của y đạo. Dạy cho bách tính biết cách phòng ngừa, giữ gìn nguồn nước sạch, ăn chín uống sôi, ngủ phải buông màn tẩm thảo dược xua trùng... như vậy một người thầy thuốc mới có thể cứu được vạn người.”
“Được, chiều nay ta sẽ đích thân dẫn một đội tráng đinh lên rừng đốn gỗ tràm và hái sả dại về chưng cất tinh dầu.” Chu Dịch đưa bàn tay ấm áp nắm lấy tay ta, những ngón tay đan chặt vào nhau. “Chỉ cần là việc nàng muốn làm, Chu dược đồng này nguyện đem hết sức lực phụng sự.”
Giữa lúc ấy, tiếng vó ngựa dồn dập từ đầu con phố vọng lại, phá tan bầu không khí thanh tĩnh. Một kỵ sĩ mặc cẩm y màu xám tro, phong trần mệt mỏi, trên lưng đeo một hộp thư bằng gỗ đàn hương niêm phong sáp đỏ cẩn mật phi thẳng vào trước cửa y quán.
Nhìn thấy dấu hiệu phi ưng khắc chìm trên thắt lưng của kỵ sĩ, ánh mắt Chu Dịch hơi ngưng lại. Đó là mật lệnh chuyển phát hỏa tốc của “Phong Nhận” – mạng lưới tình báo ngầm mà chàng từng gầy dựng mười năm trước, nay đã được chuyển giao một phần cho triều đình nhưng vẫn duy trì một nhánh nhỏ trung thành tuyệt đối chỉ để làm nhiệm vụ liên lạc riêng cho hai chúng ta.
Kỵ sĩ nhảy xuống ngựa, quỳ một gối hành lễ:
“Thuộc hạ tham kiến Chủ thượng, tham kiến Tiêu đại nhân!”
“Đứng lên đi.” Chu Dịch phất tay, giọng nói khôi phục vẻ uy nghi nhưng điềm đạm. “Ở đây không có Chủ thượng hay Tiêu đại nhân nào cả, chỉ có Chu chưởng quầy và Tiêu đại phu. Từ Thượng Kinh xa xôi ngàn dặm, có tin tức gì gấp gáp sao?”“Dạ bẩm, đây là thư nhà và tấu báo từ kinh thành gửi tới, do chính tay Bạch Chỉ cô nương và Lục Đại Tư Mã chuyển giao!”
Kỵ sĩ cung kính dâng lên chiếc hộp gỗ. Chu Dịch nhận lấy, khẽ gật đầu cho phép người đó lui ra hậu viện nghỉ ngơi và dùng cơm nước.
Chúng ta mang chiếc hộp vào gian phòng thuốc phía sau. Bên trong hộp gỗ, ngoài một phong thư niêm phong long ấn hoàng gia của Hoàng đế Chu Duệ, còn có một tập thư dày cộp phủ đầy nét chữ quen thuộc, có phần tròn trịa, tinh nghịch của Bạch Chỉ, cùng một bản sao chép tấu chương tổng kết của Thái Y Viện Lệnh Cố Hoài Viễn.
Ta ngồi xuống chiếc ghế mây bên khung cửa sổ ngập tràn ánh nắng, mở bức thư của Bạch Chỉ ra đọc trước. Vừa mở ra, một nhánh hoa ngọc lan khô ép phẳng rơi ra, thoang thoảng mùi hương cố thổ.
“Tiểu thư kính yêu của em!
Khi bức thư này đến được tay người, chắc hẳn trấn Thanh Bình đã vào độ hoa nở đẹp nhất rồi nhỉ? Ở Thượng Kinh dạo này mưa xuân nhiều lắm, mỗi lần đi qua Dược Khố Nội Đình hay ngự uyển, em lại nhớ tiểu thư đến phát khóc.
Em muốn báo cho tiểu thư một tin mừng lớn: Khoa Nữ Y Quan của Thái Y Viện do em phụ trách theo di huấn và phương pháp của người nay đã tuyển chọn được khóa thứ ba với hơn sáu mươi nữ y sinh! Các nàng ấy đều được học cách dùng kính phóng đại thô sơ quan sát cặn nước, học cách tiệt trùng dao kéo bằng lửa và rượu mạnh, học cách đỡ đẻ khoa học và xử lý băng huyết bằng thảo dược chiết xuất. Tỷ lệ sản phụ và trẻ sơ sinh tử vong tại kinh kỳ trong năm qua đã giảm hơn bảy phần! Cố Viện Lệnh bảo, đây là công đức vô lượng mà tiểu thư đã để lại cho muôn đời phụ nữ Đại An.
À, còn một chuyện này nữa, em và Lục thống lĩnh... à không, là Lục tướng quân thuộc hạ của Lục Đại Tư Mã, tháng sau sẽ thành hôn đấy ạ! Chàng ấy rất tốt, hứa sau này sẽ không ngăn cản em tiếp tục làm việc tại Thái Y Viện. Giá như tiểu thư và Cửu gia có thể về dự thì tốt biết bao... nhưng em biết, bầu trời bao la ngoài kia mới thực sự thuộc về hai người. Tiểu thư hãy sống thật hạnh phúc nhé, Bạch Chỉ ở đây sẽ thay người trông nom ngọn lửa của y đạo thực nghiệm!”
Đọc từng dòng chữ chân thành của cô bé tỳ nữ năm xưa nay đã trưởng thành, tự tin đứng vững giữa đời, khóe mắt ta bỗng cay xè vì xúc động. Một hạt giống nhân ái và văn minh mà ta gieo xuống mảnh đất cằn cỗi của phong kiến hủ bại, nay đã nảy mầm xanh tốt và đơm hoa kết trái rực rỡ.
Chu Dịch ngồi xuống bên cạnh ta, chàng mở phong thư mang long ấn. Đó là bức thư viết tay của Hoàng đế Chu Duệ – cậu bé mười tuổi năm nào cắn chặt môi tiễn biệt chúng ta tại Thập Lý Trường Đình, nay đã là một thiếu niên mười ba tuổi đĩnh đạc, anh minh.
Nét chữ của Duệ nhi cứng cáp, chững chạc hơn trước rất nhiều:
“Cửu ca, Nhược Lan tỷ tỷ kính thương.
Trẫm ở nơi thâm cung sâu thẳm, ngày đêm đều ghi nhớ lời căn dặn của hai người. Ba năm qua, nhờ có Lục thúc phụ phò tá nơi triều chính, giang sơn Đại An mưa thuận gió hòa, biên cương yên định, bách tính an cư lạc nghiệp. Án cũ của Liễu thị đã hoàn toàn lắng xuống, những chính sách giảm tô thuế, khuyến khích canh nông và chấn hưng y tế đều được thực thi triệt để.
Tập ‘Tân Chính Y Thư’ mà Nhược Lan tỷ tỷ trao lại trước khi đi, Cố Viện Lệnh đã cho khắc ván in hơn hai vạn bản, phát chẩn đến tận từng huyện nha, dịch trạm tại mười ba tỉnh thành. Tháng trước, tại vùng duyên hải phía Đông bùng phát dịch tả do bão lũ, nhờ áp dụng triệt để phương pháp cách ly, uống nước đun sôi và dùng than hoạt tính kết hợp gừng tươi, cam thảo cấp cứu ngộ độc đường ruột mà dịch bệnh đã bị dập tắt chỉ trong vòng nửa tháng, cứu sống hơn mười vạn sinh linh! Toàn thể triều thần và lê dân trăm họ đều hướng về phương Bắc mà tạ ơn thần y.
Trẫm biết Cửu ca và tỷ tỷ không màng danh lợi, không thích vàng bạc châu báu chốn hoàng cung. Vì vậy, theo đoàn dịch mã này, Trẫm chỉ mạn phép gửi tặng hai người mười hòm hạt giống thảo dược quý hiếm do các thuyền buôn Nam Dương và Tây Vực tiến cống, cùng một trăm cân trà búp thượng hạng vùng Giang Nam mà tỷ tỷ thích nhất. Nguyện cầu trời cao che chở cho Cửu ca và tỷ tỷ một đời an yên, tiêu dao tự tại!”
Gấp lại bức thư của tân đế, Chu Dịch khẽ thở dài một hơi nhẹ nhõm, nụ cười rạng rỡ nở trên môi chàng:
“Duệ nhi đã thực sự trở thành một vị minh quân. Giang sơn Đại An trao vào tay đứa trẻ ấy, ta đã có thể hoàn toàn yên lòng nhắm mắt tạ tội với phụ hoàng và mẫu phi nơi chín suối.”
“Chàng không tiếc nuối sao?” Ta nghiêng đầu nhìn chàng, khẽ trêu chọc. “Ngôi vị Phụ Chính Vương quyền bính tột đỉnh, dưới một người trên vạn người, chỉ cần chàng gật đầu là có thể hô phong hoán vũ. Rời bỏ tất cả để đến chốn biên thùy heo hút này, ngày ngày cùng ta lên núi hái thuốc, xuống suối rửa củ, làm một chân dược đồng sai vặt... chàng chưa từng hối hận dù chỉ một thoáng?”
Chu Dịch không trả lời ngay. Chàng đứng dậy, đi tới bên giá sách bằng gỗ thông, nơi chất đầy những bản thảo dày cộp do chính tay ta và chàng cùng nhau biên soạn trong ba năm qua. Đó là cuốn
Thực Nghiệm Bản Thảo
– thiên y thư đúc kết hàng trăm loại dược thảo bản địa vùng biên cương, ghi chép tỉ mỉ về hoạt chất, tính vị, độc tính học, ngưỡng liều lượng an toàn và các phương pháp chiết xuất phân đoạn mà ta truyền thụ lại.
Chàng đưa tay v**t v* những trang giấy Tuyên thành phẳng phiu thơm mùi mực mới, rồi quay lại nhìn ta. Ánh mắt chàng sâu thẳm như đại dương, nhưng ngập tràn sự dịu dàng và kiên định không gì lay chuyển nổi:
“Nhược Lan, nàng có biết mười năm ta sống trong hoàng cung tăm tối ấy là chuỗi ngày như thế nào không? Quanh năm giam mình trong Lạc Phù Viện, mỗi ngày mở mắt ra đều phải tính toán xem kẻ nào muốn giết mình, mỗi chén thuốc nuốt vào cổ họng đều chứa kịch độc Ô đầu cào xé ruột gan. Giang sơn, quyền lực, ngai vàng... đối với người đời là đỉnh cao vinh hoa, nhưng đối với ta, nó chỉ là một chiếc lồng son rỉ máu, nơi con người ta chém giết lẫn nhau vì những hư danh phù phiếm.”
Chàng bước lại gần, ngồi xuống chiếc ghế đối diện, nắm lấy đôi bàn tay ta đặt lên ngực mình. Nơi lồng ngực vững chãi ấy, trái tim chàng đang đập từng nhịp mạnh mẽ, trầm ổn và bình an.
“Chính nàng là người đã bước vào góc tối ấy, dùng y thuật và sự kiên định của mình kéo ta ra khỏi bờ vực của cái chết. Nàng cho ta hiểu thế nào là sinh mệnh, thế nào là tự do, và thế nào là một tình cảm thuần khiết không vướng bụi trần toan tính. Được ở bên nàng, cùng nàng cứu người, cùng nàng viết nên những trang sách để lại điều tốt đẹp cho nhân gian... Chu Dịch ta đã có được báu vật trân quý nhất thiên hạ này rồi. Một ngôi vị hoàng đế tầm thường, làm sao có thể sánh bằng một nụ cười an nhiên của nàng?”
Những lời bộc bạch mộc mạc mà sâu sắc như khắc cốt ghi tâm khiến lồng ngực ta dâng lên một luộc nhiệt lưu ấm áp lạ kỳ.
Ta nhớ lại ngày đầu tiên tỉnh dậy ở thế giới này trong thân xác Tiêu Nhược Lan – một nữ y quan thất phẩm nhỏ bé, cô độc giữa chốn hoàng thành đầy rẫy cạm bẫy và độc dược. Khi ấy, ta chỉ khao khát giữ lấy mạng sống, ẩn giấu tài năng, mong mỏi một ngày gom đủ ngân lượng để trốn chạy. Nhưng bánh xe số phận đã đẩy ta vào vòng xoáy của thời cuộc, buộc ta phải đứng lên dùng tri thức khoa học làm vũ khí, đối đầu với những mưu mô tàn độc nhất.
Và trên con đường chông gai đẫm máu ấy, ta đã gặp được chàng. Một người hiểu được sự cô độc của ta, tôn trọng lý tưởng của ta, sẵn sàng đứng trước mũi tên độc đỡ thay ta một mạng, và cũng sẵn sàng vứt bỏ vương quyền vạn trượng chỉ để cùng ta đi đến chân trời góc bể.
Tình yêu của chúng ta không cần đến những lời thề non hẹn biển sáo rỗng, không cần đến long bào hay phượng vị làm minh chứng. Nó được tôi luyện qua ngục tối Thận Hình Ty, qua từng giọt nước lọc sạch nguồn độc nơi Tử Cấm Thành, và kết tinh thành sự thấu hiểu tuyệt đối của hai tâm hồn tri âm bình đẳng.
“Được rồi, Chu dược đồng.” Ta mỉm cười, đôi mắt lấp lánh ánh lệ nhưng khóe môi rạng rỡ niềm vui. “Lời nói ngọt ngào này ta tạm thời ghi nhận. Nhưng công việc chiều nay vẫn không được trốn tránh đâu đấy. Mười hòm hạt giống thuốc Nam Dương mà Duệ nhi gửi tới, chúng ta phải phân loại ngay. Ta muốn thử nghiệm thuần hóa cây Canh-ki-na và một số giống thảo dược hạ nhiệt vùng nhiệt đới trên vùng đất biên cương này, xem khả năng thích nghi của chúng ra sao.”
“Tuân lệnh nương tử!” Chu Dịch cười lớn, hào sảng đáp lại.
Chàng khẽ cúi người, bất ngờ bế bổng ta lên khỏi chiếc ghế mây trong một vòng tay rắn rỏi. Ta khẽ kêu lên một tiếng kinh ngạc rồi bật cười, hai tay vòng qua cổ chàng, mặc cho chàng đưa ta bước ra phía khoảng sân ngập nắng.
Chiều tà buông xuống thị trấn Thanh Bình.
Ánh hoàng hôn nhuộm đỏ rực những ngọn núi tuyết xa xăm, rải một dải lụa màu hồng ngọc lên khắp thung lũng bình yên. Dưới mái hiên y quán, giàn hoa kim ngân sau ba năm được chăm sóc tỉ mỉ nay đã leo kín cả một khoảng sân, đan kết thành một chiếc vòm xanh mướt điểm xuyết hàng ngàn đóa hoa trắng vàng xen lẫn. Hương hoa thơm ngát, thanh khiết và dịu ngọt lan tỏa trong không gian tĩnh lặng, xua tan mọi mỏi mệt của một ngày dài bận rộn.
Tiếng chày giã thuốc nơi góc sân của mấy người học việc trẻ tuổi vang lên đều đặn, nhịp nhàng như một khúc nhạc điền viên êm ả. Phía xa xa ngoài đầu ngõ, tiếng cười đùa của lũ trẻ con tan học hòa cùng tiếng lục lạc ngựa lách cách của những đoàn lữ khách qua đường ghé vào xin nước chè thuốc thanh nhiệt.
Chu Dịch đặt ta ngồi xuống chiếc xích đu bằng gỗ dưới giàn hoa kim ngân. Chàng ngồi xuống chiếc ghế đá bên cạnh, cúi đầu chăm chú cùng ta phân loại từng túi hạt giống thảo dược. Nắng chiều rọi lên sườn mặt tuấn tú, góc cạnh của chàng, mạ lên mái tóc đen nhánh buộc gọn bằng một dải lụa thô một quầng sáng ấm áp.
Chàng bỗng ngừng tay, nghiêng đầu nhìn ta, ánh mắt tràn ngập vẻ suy tư nhưng vô cùng hạnh phúc:
“Nhược Lan, nàng có nhớ đêm rằm tháng Giêng năm ấy trên lầu Vọng Cảnh ở kinh thành không? Đêm mà ta đã nói rằng, thiên hạ này rộng lớn vô cùng, chỉ mong cùng nàng đi xem giang sơn vạn dặm.”
“Ta nhớ.” Ta khẽ đáp, ánh mắt hướng về rặng núi biếc phía xa. “Khi ấy ta còn nghĩ chàng chỉ nói lời khách khí để dụ dỗ một thầy thuốc giỏi theo mình thôi.”
Chu Dịch khẽ bật cười, nụ cười trầm ấm vang vọng trong gió chiều. Chàng buông túi hạt giống xuống, vươn tay nắm lấy bàn tay ta.
Những ngón tay chàng mạnh mẽ, thô ráp vì sương gió và việc đồng áng, nhưng khi chạm vào da thịt ta lại vô cùng dịu dàng, nâng niu. Chàng khẽ v**t v* vết sẹo mờ nhạt nơi khớp ngón trỏ của ta – vết tích của chiếc kẹp gỗ Thập Chỉ Liên Tâm năm xưa trong ngục tối, rồi cúi đầu, đặt lên đó một nụ hôn nhẹ tựa lông hồng nhưng nóng bỏng tình cảm chân thành.
“Đời này của Chu Dịch ta, lời nói ra có thể gạt cả thiên hạ, gạt cả hoàng đế và nghịch thần, nhưng vĩnh viễn không bao giờ lừa dối Tiêu Nhược Lan nửa lời.” Chàng ngước mắt nhìn ta, từng chữ thốt ra đều mang nặng ân tình sâu thẳm. “Cung cấm ngột ngạt giam giữ người ta bằng tham vọng và sợ hãi. Nhưng ở đây, dưới bầu trời này, ta mới thực sự được sống. Nhờ có nàng, ta mới tìm thấy cố hương của linh hồn mình.”
Gió xuân lại thổi qua, làm những cánh hoa kim ngân trắng muốt khẽ rung rinh rồi rụng xuống, vương nhẹ lên mái tóc xõa ngang vai của ta và bờ vai áo thô của chàng.
Ta không nói gì thêm, chỉ khẽ nghiêng đầu tựa vào bờ vai vững chãi của chàng, siết chặt lấy bàn tay ấm áp đang bao bọc lấy tay mình. Mùi hương thảo mộc thanh sạch, vị đắng ngọt của đất trời và hơi ấm từ người tri kỷ bên cạnh hòa quyện vào nhau, tạo nên một sự tĩnh lặng viên mãn tuyệt đối.
Không còn tranh đoạt long sủng, không còn huyết chiến quyền mưu.
Y đạo sinh ra từ lòng đất mẹ, cuối cùng đã trở về với nhân gian cần lao; còn hai linh hồn từng trải qua muôn vàn giông bão sinh tử, cuối cùng đã tìm thấy bến đỗ bình yên giữa đất trời tự do rộng lớn.
, , vn, live
,
vn
Bình luận (0)
Đang tải bình luận...