Nữ Quan Thượng Dược Không Màng Long Sủng
Chương21: Phượng Vị Chẳng Màng
Cỡ chữ
Gió sớm đầu xuân vẫn còn mang theo hơi giá buốt của những đợt tàn tuyết sót lại từ rặng núi tây bắc xa xăm.
Thập Lý Trường Đình nằm tĩnh mịch bên con đường thiên lý dẫn ra khỏi Thượng Kinh. Màn sương xám nhạt như dải lụa mỏng phủ trùm lên những cành liễu trơ trụi vừa nhú chồi non, làm nhòe đi bóng hình của những cột đá rêu phong đã chứng kiến biết bao cuộc phân ly của chốn kinh kỳ. Nơi đây, từng tấc đất, từng phiến đá đều thấm đượm nỗi niềm tống biệt, nhưng với ta lúc này, mỗi bước chân chạm xuống mặt đường đá thô ráp lại là một nhịp đập hân hoan của sự tái sinh.
Ta khẽ kéo lại tấm áo choàng bằng vải thô màu thanh lam, thở ra một làn khói trắng mỏng manh. Hơi lạnh thấm qua lớp vải mộc thô sơ, phả vào da thịt, nhưng kỳ lạ thay, chưa bao giờ lồng ngực ta lại cảm thấy nhẹ nhõm và thông suốt đến nhường này. Không còn mùi khói đan dược ngột ngạt pha lẫn chu sa thạch tín của Dưỡng Tâm Điện, không còn hương trầm kỳ ảo giả tạo che giấu sát cơ của Cảnh Nhân Cung, và cũng không còn mùi tanh nồng của huyết tinh sau những đêm binh biến kinh hoàng làm rung chuyển hoàng thành. Giờ đây, tràn ngập trong cánh mũi ta là mùi ngai ngái của đất ẩm sau mưa, mùi sương sớm thanh khiết và thoang thoảng đâu đây là hương nhựa thông nồng ấm của cánh rừng bạt ngàn trải dài phía trước.
Ta đưa hai bàn tay lên ngang tầm mắt, chậm rãi co duỗi từng ngón. Mười đầu ngón tay của ta, nơi từng chịu đựng nỗi thống khổ xé thịt nát xương của hình phạt Thập Chỉ Liên Tâm tàn khốc trong Thận Hình Ty, nay đã tháo bỏ toàn bộ những thanh nẹp gỗ cồng kềnh. Dưới sự chăm sóc tỉ mỉ từng ngày bằng thuốc dán hoạt huyết sinh cơ phối ngũ từ huyết kiệt, đương quy và một dược mà ta tự tay điều chế, các khớp xương đã liền lại ngay ngắn. Tuy những vết sẹo hằn sâu nơi đầu ngón vẫn còn đỏ tía và thi thoảng nhói buốt mỗi khi gió mùa thổi qua, nhưng chúng đã lấy lại được sự chuẩn xác tuyệt đối. Đôi bàn tay của người thầy thuốc đã sống lại, sẵn sàng để phân định từng nhánh cỏ cây, cảm nhận từng mạch tượng chìm nổi, và bắt đầu hành trình cứu vớt những số phận khốn cùng nơi thế gian rộng lớn.
“Ngoại thành gió lớn, nàng vào trong xe ngồi đi kẻo nhiễm lạnh.”
Một giọng nói trầm ấm quen thuộc vang lên bên tai, mang theo sự quan tâm dịu dàng dường như đã khắc sâu vào từng nhịp thở. Chu Dịch bước tới, hai tay cẩn thận bưng chiếc gáo gỗ múc nước suối tinh khiết vừa lấy từ khe đá bên đường, đặt lên giá nhỏ cạnh cỗ xe ngựa mộc mạc.
Hôm nay, chàng không còn khoác lên mình bộ triều phục Phụ Chính Vương thêu mãng xà bốn móng dát vàng ròng lộng lẫy, cũng không còn mang bên hông thanh Thượng Phương Bảo Kiếm tượng trưng cho quyền sinh sát tối thượng của hoàng triều Đại An. Chàng chỉ mặc một chiếc trường bào màu nguyệt bạch bằng vải thô giản dị, mái tóc đen nhánh được búi gọn gàng bằng một cây trâm gỗ đào mộc mạc do chính tay chàng gọt đẽo đêm qua. Khuôn mặt tuấn tú từng mang vẻ u ám, xanh xao vì Tằm Hàn Độc nay đã hồng hào nhuận sắc, ánh mắt sắc lạnh như lưỡi kiếm ngàn năm từng khiến văn võ bá quan khiếp vía đã hoàn toàn tan biến, chỉ còn lại vẻ thanh thản, khoáng đạt và ấm áp như ánh nắng sớm mai.
Ta nhìn chàng, khóe môi khẽ cong lên thành một nụ cười trêu chọc:
“Chu công tử, chàng bây giờ đã là một dược đồng mang thân phận thứ dân, sao có thể nuông chiều chưởng quầy của mình như thế? Ta đâu có yếu đuối đến mức không chịu nổi một ngọn gió xuân.”
Chu Dịch cong khóe môi, đáy mắt ánh lên tia cười hóm hỉnh mà những năm tháng chôn mình trong thù hận chàng chưa từng để lộ:
“Chưởng quầy nói phải. Bổn phận của dược đồng là gánh nước, hái thuốc, nhưng nếu để chưởng quầy ngã bệnh thì lấy ai bốc thuốc cứu người? Huống hồ...” Chàng bước lại gần hơn, bàn tay to lớn, ấm áp khẽ phủ lên những ngón tay còn chằng chịt vết sẹo của ta, siết nhẹ với sự trân trọng vô bờ: “Đôi bàn tay này sinh ra là để cứu vớt thiên hạ, ta có trách nhiệm phải che chở cho nó cả đời.”
Trái tim ta khẽ rung lên một nhịp êm đềm. Ta không rút tay lại, mà để mặc cho sự ấm áp từ lòng bàn tay chàng xua tan đi cái lạnh buốt nơi đầu ngón. Một giao ước sinh tử khởi đầu từ những toan tính lạnh lùng nơi Lạc Phù Viện u tối, qua bao phen vào sinh ra tử, cùng nhau nếm trải nhục hình ngục tối và tắm mình trong huyết chiến trước Kim Loan Điện, nay đã kết tinh thành mối tri âm sâu sắc không gì có thể chia cắt. Chúng ta đã bỏ lại sau lưng chiếc lồng son tráng lệ để cùng nhau bước ra khoảng trời tự do mà cả hai hằng khao khát.
Thế nhưng, khoảnh khắc yên bình hiếm hoi ấy bỗng bị phá vỡ bởi những tiếng vó ngựa dồn dập từ phía kinh thành truyền tới.
“Cộc! Cộc! Cộc!”
Tiếng móng sắt nện xuống nền đá hoa cương của con đường thiên lý vang rền như sấm động, xé toạc màn sương sớm bảng lảng. Từ khúc quanh của đại lộ, cát bụi bốc lên mù mịt. Hơn một trăm kỵ binh Cấm quân mặc giáp trụ sáng loáng, tay cầm cờ tiết màu vàng ròng thêu hình rồng bay đang liều mạng thúc ngựa phi nước đại. Dẫn đầu đoàn kỵ mã là cỗ ngự giá lộng lẫy chạm trổ tứ long lóng lánh ánh kim, cùng hai bóng người cưỡi chiến mã cao lớn đang hối hả dẫn đường.
Ta và Chu Dịch cùng dừng lại, đưa mắt nhìn nhau. Một thoáng lặng im trôi qua giữa hai người, không cần lời nói, chúng ta đều hiểu người đến là ai.
Tiểu hoàng đế Chu Duệ đã đuổi tới.
Đoàn xa giá hoàng gia rầm rộ dừng lại trước Thập Lý Trường Đình, tạo thành một vòng cung uy nghiêm chắn ngang con đường thiên lý. Ngay khi cỗ ngự giá vừa dừng hẳn, tấm rèm thêu chỉ vàng còn chưa kịp vén hết, một bóng dáng nhỏ bé mặc long bào màu vàng nhạt đã hấp tấp lao xuống xe.
Chu Duệ không màng đến sự can ngăn của đám thái giám nội thị, chẳng buồn để ý đến vạt long bào quý giá bị bùn đất và sương mai bám vào lem luốc. Đôi hài thêu rồng của đứa trẻ mười tuổi vấp phải phiến đá gập ghềnh khiến nó lảo đảo suýt ngã, nhưng nó vẫn cắm đầu chạy thục mạng về phía chúng ta, hai mắt đỏ hoe, những giọt nước mắt lăn dài trên gò má non nớt.
“Cửu ca! Nhược Lan tỷ tỷ! Hai người... hai người dừng lại!”
Tiếng gào nghẹn ngào của đứa trẻ vang vọng khắp đình vắng, xé nát bầu không khí tĩnh mịch của buổi sớm mai.
Phía sau ấu chúa, Đại Tư Mã Lục Kính Chương trong bộ chiến bào nặng nề và Thái Y Viện Lệnh Cố Hoài Viễn với chòm râu dê rung rung vì th* d*c cũng hớt hải chạy theo. Theo sau họ là hàng chục đại thần đầu triều của các bộ Lại, Hộ, Lễ, Binh, ai nấy đều mang vẻ mặt bàng hoàng, kinh hãi, hơi thở dồn dập vì một chặng đường phi nước đại trong sương tuyết đuổi theo cựu Phụ Chính Vương.
Chu Dịch khẽ thở dài một tiếng, buông tay ta ra, tiến lên phía trước nửa bước, dang rộng hai tay vững chãi đón lấy thân hình nhỏ bé đang lao tới của Chu Duệ.
“Duệ nhi, cẩn thận kẻo ngã.”
Chu Duệ lao thẳng vào lòng Chu Dịch, hai bàn tay nhỏ bé bấu chặt lấy vạt áo vải thô màu nguyệt bạch của chàng, òa khóc nức nở như một đứa trẻ bình thường bị người thân bỏ rơi, hoàn toàn trút bỏ dáng vẻ trang nghiêm của một bậc cửu ngũ chí tôn:
“Cửu ca... đệ không cho phép huynh đi! Triều đình vừa mới yên ổn, nghịch tặc họ Liễu vừa bị dẹp trừ, giang sơn này trăm mối ngổn ngang... Huynh là người thân duy nhất của đệ trên cõi đời này, sao huynh lại nhẫn tâm vứt bỏ đệ mà đi như vậy?”
Chu Dịch cúi đầu, ánh mắt tràn ngập vẻ yêu thương và xót xa, nhưng nét mặt vẫn kiên định như bàn thạch. Chàng vươn tay, nhẹ nhàng lau đi những giọt nước mắt trên gương mặt đẫm lệ của ấu đế:
“Bệ hạ, ngài nay đã là Hoàng đế của Đại An, là chủ nhân của thiên hạ, không thể khóc lóc như con trẻ trước mặt ba quân tướng sĩ và triều thần như thế này được.”
“Trẫm không cần làm Hoàng đế nếu như phải cô độc trên ngai vàng!” Chu Duệ nghẹn ngào hét lên, bờ vai nhỏ bé run rẩy bần bật dưới lớp hoàng bào. “Sáng nay thức giấc, nhìn thấy hai bức tấu biểu từ quan nằm lạnh lẽo trên long án, tim trẫm như vỡ vụn! Ấn Phụ chính và Thượng Phương Bảo Kiếm huynh để lại trẫm không dám đụng vào! Huynh muốn làm Nhiếp Chính Vương trẫm cũng lập tức hạ chiếu, huynh muốn nửa non sông này trẫm cũng chia cho huynh! Cửu ca, đệ xin huynh... đừng bỏ đệ lại chốn Tử Cấm Thành lạnh lẽo ấy...”
Chứng kiến cảnh tượng ruột thịt xé lòng ấy, hàng trăm cấm quân cùng các đại thần phía sau đồng loạt quỳ sụp xuống nền đá hoa cương lạnh buốt.
Đại Tư Mã Lục Kính Chương tiến lên một bước, quỳ một gối, chắp tay trầm giọng nói:
“Điện hạ! Thần Lục Kính Chương cùng văn võ bá quan không quản đường xa đuổi theo, chỉ khẩn cầu Điện hạ nghĩ lại! Giang sơn Đại An sau cơn đại nạn Liễu thị còn vô cùng suy vi, lòng quân chưa hoàn toàn quy phục, biên thùy vẫn còn rình rập hiểm nguy. Tân đế tuổi còn nhỏ dại, nếu không có tài kinh bang tế thế và uy danh lẫy lừng của Điện hạ tọa trấn triều đình, sợ rằng sóng gió ngầm sẽ lại nổi lên! Xin Điện hạ hãy thương lấy giang sơn xã tắc mà hồi cung!”
Tiếng hô của Lục Kính Chương vừa dứt, hàng chục đại thần phía sau liền đồng thanh dập đầu, âm thanh vang dội khắp núi rừng:
“Khẩn cầu Điện hạ hồi cung! Khẩn cầu Điện hạ vì xã tắc Đại An mà ở lại!”
Trước làn sóng thỉnh cầu dồn dập của triều thần, Chu Dịch vẫn đứng sừng sững giữa gió sương, vạt áo mộc bay phần phật. Chàng chỉ đỡ lấy bờ vai của Chu Duệ, ánh mắt nhìn thẳng vào từng vị đại thần đang quỳ dưới đất, bình thản và dứt khoát.
Lúc này, Thái Y Viện Lệnh Cố Hoài Viễn run rẩy tiến lên phía trước. Lão già tóc bạc phơ quỳ xuống trước mặt ta, đôi bàn tay gầy guộc nâng cao một chiếc tráp bằng gỗ đàn hương đỏ thẫm chạm trổ phượng hoàng tinh xảo. Bên trong tráp lót một tấm gấm lụa màu vàng cung đình, đặt một đạo thánh chỉ viết bằng mực son lấp lánh và một bộ phượng bào vương phi bằng lụa vân gấm rực rỡ, đính hàng trăm viên ngọc trai biển sâu cùng những đường thêu kim tuyến lóng lánh ánh kim.
“Tiêu Thượng Dược... à không, nương nương!” Giọng Cố Viện Lệnh nghẹn ngào, run rẩy vì xúc động: “Lão thần phụng mệnh Tân đế và sự đồng thuận của Lục bộ triều đình, mang theo kim sách và phượng bào đến đây. Bệ hạ đã hạ chỉ phong thưởng đặc ân xưa nay chưa từng có: Sắc phong Tiêu Nhược Lan cô nương làm Nhất Phẩm Thượng Dược Vương Phi, ban quyền kiểm soát tối cao đối với toàn bộ Ngự Dược Phòng và Thái Y Viện của mười ba tỉnh, địa vị ngang hàng với Hoàng Hậu nơi hậu đình, muôn đời hưởng vinh hoa phú quý! Nương nương, y thuật của người là báu vật trời ban, công lao cứu giá giải độc cứu hoàng tộc của người cao hơn núi, sâu hơn biển. Xin nương nương hãy nhận lấy phượng bào, cùng Phụ Chính Vương hồi cung, làm chỗ dựa cho bách tính và ngành y Đại An!”
Chu Duệ cũng vội vã quay sang nhìn ta, đôi mắt ngập tràn vẻ khẩn thiết, van nài:
“Nhược Lan tỷ tỷ! Trẫm biết tỷ không màng danh lợi, nhưng tỷ là người hiểu Cửu ca nhất, cũng là người duy nhất có thể khuyên được huynh ấy. Trẫm phong tỷ làm Vương phi tôn quý nhất, phong tỷ làm Quốc mẫu mẫu nghi thiên hạ cũng được! Chỉ cần tỷ bằng lòng ở lại, tỷ muốn bao nhiêu dược liệu quý hiếm trẫm cũng lệnh cho thiên hạ cống nạp, tỷ muốn xây dựng bao nhiêu y viện trẫm cũng mở quốc khố chi viện! Xin tỷ... đừng mang Cửu ca đi mất!”
Không khí nơi Thập Lý Trường Đình bỗng chốc lắng đọng đến nghẹt thở.
Tất cả ánh mắt của ấu đế, của các bậc quyền thần đại thần, của tướng sĩ cấm quân đều đổ dồn về phía ta. Trong mắt họ, ta là chìa khóa duy nhất có thể giữ chân người đàn ông mang ảnh hưởng lớn nhất thiên hạ lúc bấy giờ. Một người phụ nữ xuất thân từ nữ y thất phẩm nhỏ nhoi nơi xưởng sao thuốc, nay đứng trước đỉnh cao danh vọng tột cùng: phượng bào khoác thân, danh vị Vương phi chí tôn, quyền lực định đoạt cả y giới hoàng triều, sống cuộc đời mà hàng vạn nữ nhân chốn nhân gian nằm mơ cũng không dám nghĩ tới.
Ta cúi đầu, nhìn bộ phượng bào rực rỡ trong chiếc tráp gỗ đàn hương. Những sợi chỉ vàng phản chiếu ánh nắng ban mai lấp lánh chói mắt, những viên ngọc trai biển sâu tỏa ra thứ ánh sáng tròn trịa, lạnh lẽo và xa hoa.
Thế nhưng, trong mắt một kẻ mang tâm hồn dược học thực nghiệm như ta, tấm áo gấm ấy không đại diện cho vinh quang, mà chỉ là một chiếc lồng giát vàng tuyệt đẹp nhưng ngột ngạt đến chết người. Ta nhìn thấy trên những sợi chỉ vàng ấy vương vãi dấu vết của những giọt máu oan khiên nơi cung cấm; ta nhìn thấy dưới lớp vải lụa mềm mại ấy là bóng ma của thạch tín thăng hoa, của thủy ngân ngưng tụ trong đan dược đoạt mệnh, của những thủ đoạn hạ độc tàn khốc mà Liễu Quý phi và các phi tần từng dùng để tranh đoạt một chút ân sủng hão huyền. Vinh hoa nơi thâm cung luôn được đánh đổi bằng máu, nước mắt và sự tha hóa của lương tri.
Ta hít một hơi thật sâu, đón lấy luồng không khí thanh sạch của đất trời, rồi chậm rãi bước lên phía trước. Ta đưa hai tay, nhẹ nhàng đỡ lấy Cố Viện Lệnh đứng dậy:
“Cố Viện Lệnh, người mau đứng lên đi. Ngài là bậc tiền bối đức cao vọng trọng trong y giới, Nhược Lan sao dám nhận lễ lạy này của ngài.”
Sau đó, ta xoay người, đối diện với Chu Duệ. Nhìn gương mặt đẫm lệ của vị hoàng đế mười tuổi, lòng ta không khỏi dâng lên một niềm thương cảm chân thành. Ta khẽ quỳ xuống một gối để tầm mắt của mình ngang bằng với ánh mắt của đứa trẻ, giọng nói điềm tĩnh, rành rọt vang lên giữa khoảng trời lộng gió:
“Bệ hạ, xin thứ cho Nhược Lan không thể nhận đạo thánh chỉ này, càng không thể khoác lên mình bộ phượng bào vương vị ấy.”
Chu Duệ sững sờ, đôi môi run rẩy:
“Tại sao... Chẳng lẽ danh vị Vương phi, chẳng lẽ vinh hoa phú quý tột cùng của hoàng triều Đại An vẫn chưa đủ để giữ chân tỷ sao?”
Ta mỉm cười, một nụ cười thanh thản, tự tại tựa mây trôi nước chảy:“Bệ hạ, y thuật của Nhược Lan sinh ra từ cỏ cây đất trời, hấp thụ tinh hoa của nắng gió mưa sương, sứ mệnh của nó từ ngàn đời nay là để chữa bệnh cứu người, xoa dịu nỗi đau của muôn dân trăm họ cùng khổ, chứ không phải để giam cầm nơi bức tường cung cấm vàng son.”
Ta đưa bàn tay mang đầy vết sẹo của mình ra trước mặt Chu Duệ, nhẹ nhàng chỉ về phía những hạt sương mai đọng trên ngọn cỏ ven đường:
“Hoàng cung Đại An quả thực nguy nga tráng lệ, nhưng nơi đó quá chật hẹp đối với một người thầy thuốc. Nơi hậu đình sâu thẳm, dược liệu quý giá ngàn năm thường chỉ được dùng để chế thành thuốc trường sinh vô căn cứ lừa dối quân vương, hay biến thành những loại độc dược tinh vi để phi tần triệt hạ lẫn nhau vì sự đố kỵ. Nếu Nhược Lan nhận lấy bộ phượng bào này, bước vào cung cấm làm Vương phi, thì ngày ngày ta sẽ phải đối mặt với những toan tính tranh quyền đoạt vị, phải cúi đầu trước những quy củ lễ nghi ngột ngạt. Bàn tay này sẽ bị vấy bẩn bởi quyền mưu, khối óc này sẽ bị thui chột bởi những nghi kỵ, và đôi mắt này sẽ không còn nhìn rõ được nỗi thống khổ của bách tính ngoài kia.”
Ta nhìn thẳng vào đôi mắt trong veo của Chu Duệ, từng lời thốt ra đanh thép nhưng chứa chan nhiệt huyết:
“Bách tính ngoài kia, một cơn dịch bệnh tràn qua có thể cướp đi sinh mạng của cả một ngôi làng; một vết thương nhiễm trùng do cày cuốc cũng có thể khiến một trụ cột gia đình phải bỏ mạng vì không có thuốc sát trùng cơ bản. Họ không cần một Thượng Dược nương nương ngồi trong nhung lụa để ban phát vài thang thuốc thừa, họ cần những người thầy thuốc thực thụ dám bước chân vào bùn đất, mang theo những bài thuốc rẻ tiền nhưng hiệu nghiệm, dạy họ cách lọc nước sạch, cách nhận biết độc thảo, cách tự bảo vệ sinh mạng của chính mình. Y đạo chân chính thuộc về nhân gian, không thuộc về ngai vàng.”
Cố Hoài Viễn nghe xong những lời ấy, toàn thân khẽ run lên. Đôi mắt già nua của vị ngự y cả đời luồn cúi nơi cung đình bỗng trào dâng hai hàng lệ nóng. Lão nhìn ta, ánh mắt tràn ngập sự kính cẩn và hổ thẹn:
“Y đạo thuộc về nhân gian... Lão thần sống hơn sáu mươi năm trên đời, bon chen nơi Thái Y Viện suốt mấy chục năm qua, nay mới hiểu hết hai chữ 'y đức' mà Tiêu cô nương vừa nói! Thật là hổ thẹn... hổ thẹn thay cho những kẻ làm ngự y chỉ biết cầu an như chúng ta!”
Chu Duệ ngơ ngác nhìn ta. Đứa trẻ tuy mới mười tuổi nhưng sinh ra trong hoàng tộc, lại trải qua bao biến cố sinh tử, tâm trí vốn đã sớm trưởng thành hơn người thường. Nó dường như đã lờ mờ hiểu ra rằng, bộ phượng bào lộng lẫy kia đối với ta không phải là vinh dự, mà là một sự trói buộc tàn nhẫn.
Lúc này, Chu Dịch chậm rãi bước tới, đứng sóng vai bên cạnh ta. Bàn tay chàng một lần nữa nắm lấy tay ta trước mặt văn võ bá quan, mười ngón tay đan chặt vào nhau không một chút e dè hay ngần ngại.
Chàng nhìn Chu Duệ, ánh mắt kiên định như ngọn núi sừng sững:
“Duệ nhi, những gì Nhược Lan muốn, cũng chính là tâm nguyện cả đời này của Cửu ca.”
Chu Dịch vươn tay, nhẹ nhàng đặt lên vai vị ấu đế:
“Mười năm qua, ta giả điên giả dại, lấy thân mình thử độc, sống trong bóng tối của Lạc Phù Viện u uất chỉ vì một mục đích duy nhất: rửa sạch oan khiên cho mẫu thân và lật đổ nghịch thần họ Liễu. Nay thù lớn đã trả, mối hận năm xưa đã tan biến theo tro bụi. Toàn bộ ấn kiếm và binh quyền ta đã để lại trên long án sáng nay, chính là muốn trả lại quyền lực trọn vẹn cho đệ. Nếu ta tiếp tục ở lại triều đình, nắm giữ danh vị Phụ Chính Vương tối cao, thì lâu dần ta khác gì một Liễu Kính Nghiêm thứ hai? Quyền lực tột đỉnh là thứ thuốc độc ăn mòn tâm can con người nhanh nhất, nó sẽ biến một người lương thiện trở thành kẻ tàn bạo, biến tình huynh đệ ruột thịt trở thành sự nghi kỵ chém giết lẫn nhau.”
Chàng quay sang nhìn Lục Kính Chương và Cố Hoài Viễn, giọng nói sang sảng vang vọng giữa núi rừng:
“Giang sơn Đại An nay đã có Lục thúc nắm giữ quân cơ, bảo vệ biên cương; có các bậc lương thần phụ trách triều chính; có Cố Viện Lệnh chấn hưng y đạo. Bản thân đệ là một đứa trẻ có lòng nhân từ, biết thương xót nỗi khổ của dân nghèo. Đệ hãy nhớ kỹ lời ta: Làm vua một nước, không phải ở chỗ nắm giữ bao nhiêu quân đội hay xây được bao nhiêu cung điện tráng lệ, mà là ở chỗ trong nồi cơm của bách tính có gạo hay không, người ốm đau có được chữa trị hay không. Hãy dùng lòng nhân ái để trị quốc, hãy gần gũi kẻ hiền tài và xa lánh những lời xu nịnh. Đó mới là một minh quân thực thụ!”
Nói rồi, Chu Dịch nhìn Lục Kính Chương, chắp tay khẽ nghiêng mình:
“Lục thúc, Chu Dịch xin giao phó ấu chúa và vận mệnh giang sơn lại cho người. Xin người hãy thay ta bảo bọc đứa trẻ này, phò tá ngài trở thành một vị vua nhân từ của muôn dân.”
Lục Kính Chương run rẩy quỳ rạp xuống, hai mắt vị tướng già dạn dày sương gió nơi sa trường bỗng đỏ hoe. Ông dập đầu thật mạnh xuống nền đá:
“Điện hạ! Lục Kính Chương xin thề trước anh linh của liệt tổ liệt tông và Ôn Từ Hoàng Thái Hậu, dẫu có thịt nát xương tan cũng quyết một lòng phò tá Tân đế, bảo vệ giang sơn Đại An thái bình thịnh trị! Xin Điện hạ hãy yên lòng!”
Chu Dịch mỉm cười thanh thản, gật đầu tạ lễ. Sau đó, chàng quay sang nhìn ta, ánh mắt dịu dàng như làn nước mùa thu:
“Nhược Lan, việc của ta đã dặn dò xong. Còn việc của nàng thì sao?”
Ta mỉm cười hiểu ý. Ta quay lại cỗ xe ngựa, cẩn thận lấy ra từ trong chiếc hòm gỗ một tập bản thảo dày cộp được bọc kỹ bằng nhiều lớp vải dầu chống ẩm. Đó là tâm huyết bao đêm của ta, được đúc kết từ kiến thức dược học lâm sàng hiện đại kết hợp với khảo sát thực nghiệm tại Thái Y Viện suốt thời gian qua.
Ta bước tới trước mặt Cố Hoài Viễn, hai tay cung kính dâng tập bản thảo lên:
“Cố Viện Lệnh, đây là phần bổ sung quan trọng nhất của
Tân Chính Y Thư
mà Nhược Lan đã hứa với ngài trước khi rời cung.”
Cố Hoài Viễn run rẩy đón lấy, đôi bàn tay già nua cẩn thận lật mở từng trang giấy còn thơm nồng mùi mực mới. Đôi mắt lão mở to vì kinh ngạc khi nhìn thấy những dòng chữ nắn nót ghi lại những phương pháp y học chưa từng xuất hiện trong bất kỳ cuốn y thư cổ nào của Đại An:
“Đây... đây là phương pháp chưng cất rượu nồng độ cao để tẩy uế vết thương? Nguyên lý 'vô trùng' trong phẫu thuật bằng cách đun sôi dụng cụ kim loại ở nhiệt độ cao? Phương pháp dùng cồn và giấm thanh để phân tách, chiết xuất hoạt chất tinh khiết từ thảo mộc hoang dã... Còn có cả sơ đồ nhận diện độc tính kim loại nặng và cách cấp cứu ngộ độc cấp tính bằng lòng trắng trứng và than hoạt tính...”
Giọng Cố Hoài Viễn nghẹn lại vì chấn động. Là một danh y cả đời nghiên cứu y lý cổ truyền, lão lập tức nhận ra giá trị vô giá của tập tài liệu này. Nó không dựa trên những suy đoán huyền ảo về âm dương ngũ hành vô căn cứ, mà hoàn toàn dựa trên những quy luật thực nghiệm chặt chẽ, rõ ràng và có thể kiểm chứng được.
“Tiêu cô nương... tập bản thảo này... là thần thư cứu mạng muôn dân! Lão thần... lão thần thay mặt toàn thể ngự y và bách tính thiên hạ, bái tạ ân đức trời biển của cô nương!”
Nói đoạn, Cố Hoài Viễn ôm chặt tập sách vào ngực, run rẩy định quỳ lạy lần nữa nhưng ta đã kịp thời ngăn lại:
“Viện Lệnh, ngài không cần đa lễ. Nhược Lan chỉ có một thỉnh cầu duy nhất: Xin ngài hãy dùng uy tín của Thái Y Viện để sao chép tập y thư này thành hàng ngàn bản, gửi đến tất cả các y quán, y viện tại mười ba tỉnh của Đại An. Hãy dạy cho các y sinh trẻ tuổi phương pháp thực nghiệm khoa học, dạy họ cách cứu chữa người nghèo mà không tốn kém bạc vàng. Đừng để những kiến thức này bị chôn vùi trong những ngăn kéo phủ bụi nơi hoàng thành.”
“Lão thần xin ghi tâm khắc cốt! Dẫu có phải dốc cạn sức tàn của những năm tháng cuối đời, lão thần nhất định sẽ biến
Tân Chính Y Thư
thành y điển gối đầu giường của mọi thầy thuốc trên cõi đời này!” Cố Hoài Viễn dõng dạc tuyên thệ, từng giọt nước mắt rơi lã chã xuống trang giấy trắng.
Lúc này, Chu Duệ đứng lặng im nhìn ta và Chu Dịch. Đứa trẻ cắn chặt môi đến bật máu, những ngón tay nhỏ bé nắm chặt rồi lại thả lỏng. Cuối cùng, nó hít một hơi thật sâu, lau khô những giọt nước mắt trên mặt, ngẩng cao đầu lên.
Trong khoảnh khắc ấy, nét non nớt yếu đuối của đứa trẻ mười tuổi dường như đã biến mất hoàn toàn, nhường chỗ cho khí phách và sự trầm tĩnh của một vị hoàng đế trẻ tuổi. Nó hiểu rằng, chim ưng thuộc về bầu trời bao la, mãnh hổ thuộc về rừng sâu thăm thẳm; cung cấm tráng lệ này vĩnh viễn không thể giam giữ được hai linh hồn tự do và cao quý ấy.
Chu Duệ lùi lại ba bước, chỉnh đốn lại vạt long bào ngay ngắn, rồi chắp hai tay trước ngực, cúi gập người hành một đại lễ trang trọng nhất đối với Chu Dịch và ta:
“Cửu ca, Nhược Lan tỷ tỷ... Duệ nhi hiểu rồi. Duệ nhi sẽ không ép hai người nữa. Duệ nhi xin hứa trước mặt hai người, đời này sẽ làm một vị hoàng đế thương dân như con, sẽ bảo vệ giang sơn thái bình để hai người có thể yên tâm ngao du khắp chốn nhân gian cứu độ thế nhân.”
Nhìn đứa trẻ hiểu chuyện và kiên cường như vậy, hốc mắt ta bỗng cay xè, một giọt nước mắt ấm áp khẽ lăn dài trên má. Chu Dịch cũng xúc động sâu sắc, chàng mỉm cười, khẽ gật đầu:
“Được! Đó mới thực sự là đệ đệ của Chu Dịch ta!”
Trước sự chứng kiến của toàn thể triều thần và ba quân tướng sĩ, Chu Dịch dứt khoát tháo bỏ chiếc áo choàng bằng gấm lụa vương giả cuối cùng còn vắt trên vai, buông tay để nó rơi xuống nền đất bụi bặm. Chàng quay lưng lại với kinh thành Thượng Kinh, nắm lấy tay ta, cùng ta bước từng bước vững chãi về phía cỗ xe ngựa mộc mạc.
Phía sau lưng chúng ta, tiếng hô vang trời dậy đất của hàng trăm tướng sĩ và văn võ bá quan đồng loạt cất lên, vang vọng khắp núi non ngút ngàn:
“Cung tiễn Cửu Vương gia! Cung tiễn Thượng Dược đại nhân!”
“Cầu chúc hai vị một đời bình an, tự tại tiêu dao!”
Chu Dịch đỡ ta bước lên thùng xe bằng gỗ thông mộc mạc, sau đó chàng nhảy lên ghế đánh xe phía trước. Chàng quay đầu lại nhìn ta qua khung cửa sổ nhỏ không có rèm lụa che chắn, ánh mắt rạng rỡ ngập tràn niềm vui sướng thuần khiết:
“Chưởng quầy, chúng ta đi thôi chứ?”
“Đi thôi, Chu dược đồng!” Ta mỉm cười đáp lại, nụ cười rạng rỡ như gom trọn cả mùa xuân.
“Gió lên rồi!” Chu Dịch khẽ vung ngọn roi ngựa trong không trung, một tiếng “chát” giòn giã vang lên xua tan màn sương sớm còn sót lại.
Hai con tuấn mã hí vang một tiếng dài đầy phấn khích, cất bước kéo cỗ xe chuyển động. Những bánh xe bằng gỗ thô ráp bắt đầu chầm chậm lăn bánh trên con đường thiên lý gồ ghề, phát ra những tiếng “lộc cộc, lộc cộc” đều đặn, nhịp nhàng.
Ta tựa lưng vào thành xe mộc, đưa tay vén tấm màn vải thô nhìn ra phía sau.
Dưới ánh nắng ban mai rực rỡ vừa ló rạng từ rặng núi phía đông, những bức tường thành cao ngất màu đỏ son của Tử Cấm Thành, những mái ngói lưu ly vàng rực tượng trưng cho vương quyền và tham vọng của kinh thành Thượng Kinh đang dần dần thu nhỏ lại, rồi chìm dần vào màn sương khói mờ ảo phía chân trời xa xôi. Toàn bộ những mưu mô toan tính, những đan dược đoạt mệnh, những âm mưu phế lập đẫm máu và cả ngôi vị phượng bào chí tôn mà người đời thèm khát... tất cả đã bị bỏ lại sau lưng như một giấc mộng dài u tối vừa tan biến.
Bánh xe gỗ chầm chậm lăn về phía chân trời vô tận, rũ sạch mọi bụi trần quyền mưu và huyết tinh cung cấm; song vùng đất biên ải Thanh Bình xa xôi liệu có thực sự đón chờ họ bằng những tháng ngày bình yên như nguyện ước?
, , vn, live
,
vn
Bình luận (0)
Đang tải bình luận...