Hương Bưởi Bên Cầu Phù Sa

Chương9: Lòng người bên miệng cống

Cỡ chữ
Tiếng còi báo động khẩn cấp từ trụ sở xã vừa dứt thì một bầu không khí hỗn loạn chưa từng thấy đã lập tức bao trùm lấy cù lao An Bình. Tiếng người í ới gọi nhau từ đầu ngõ tới cuối xóm, tiếng chân chạy thình thịch trên mặt đường đan, tiếng chó sủa ran ran quyện trong tiếng ghe máy gầm rú xé toạc mặt sông Tiền đang độ con nước lớn. Lê Cẩm Tú siết chặt chiếc bút đo độ mặn điện tử trong túi áo bà ba, quay sang nhìn Huỳnh Quốc Thái. Bắp tay phải của anh vẫn còn quấn lớp băng gạc trắng muốt mà cô vừa tỉ mẩn khâu buộc lúc rạng sáng, vạt áo lính bạc màu lấm lem dầu mỡ và khói hàn. Nhưng trong đôi mắt sâu rười rượi của người thợ cơ khí không hề có lấy một tia hoảng loạn. Anh chỉ khẽ siết lấy bàn tay ráp ranh của cô một cái thật chặt, cái chạm tay ấm nóng như muốn truyền sang cô tất cả sự điềm tĩnh và vững chãi của đất mẹ. “Đực Nhỏ! Út Lành!” Thái cất giọng trầm đanh, dứt khoát: “Hai đứa ở lại canh chừng hệ thống béc tưới cho vườn tía Ba. Gom hết rơm khô phủ dày thêm năm phân quanh gốc bưởi, giữ ẩm tuyệt đối. Tú, đi với anh ra cống Cây Da!” “Anh Hai, tay anh còn rỉ máu kìa…” Út Lành mếu máo, níu lấy tay áo Thái. “Máu thịt gì tầm này nữa út! Cống sập, nước mặn tràn vô đồng thì dân cù lao chết trôi hết cả chì lẫn chài!” Thái gạt phắt đi, với lấy chiếc cờ-lê mỏ lết móc vào đai quần rồi cùng Tú lao nhanh về phía bờ bắc cù lao. Đoạn đường đan dài hơn một cây số từ vườn nhà Tú ra tới cống Cây Da sớm nay dài dằng dặc như vô tận. Càng tới gần vàm sông, mùi mặn chát của bùn biển dâng theo triều cường càng xộc thẳng vào cánh mũi, hăng hắc, nồng nặc và tanh tưởi khác hẳn mùi ngai ngái ngọt lành của đất phù sa quen thuộc. Ven đường, những mương vườn của bà con hàng xóm đã bắt đầu sủi bọt trắng xóa. Cây lá ven bờ dừa nước rũ rượi, những tán bưởi năm roi, da xanh đang độ ra hoa kết trái gặp hơi muối mặn bốc lên từ lòng mương liền cuộn mép lại, khô khốc như bị hơ qua lửa ngọn. Tại miệng cống Cây Da, cảnh tượng trước mắt khiến Tú không khỏi thắt nghẹn lồng ngực. Cây cống xi măng cốt thép được xây dựng từ mười lăm năm trước – thành trì duy nhất ngăn cách dòng nước sông Tiền hung dữ với hàng trăm héc-ta miệt vườn trù phú của cù lao – nay đã bị xé toạc một mảng lớn ngay trụ van xả đáy. Áp lực triều cường cùng những đợt sóng cuộn của tàu chở cát tải trọng lớn chạy ngoài luồng đã bẻ gãy thanh trục truyền động bằng gang đã rỉ sét. Cánh cửa cống bằng sắt dày cộp bị chệch khỏi đường ray trượt, vênh lên một khoảng trống hoác gần một mét. Nước sông Tiền màu nâu sẫm cuồn cuộn sôi réo, tạo thành những xoáy nước đục ngầu gầm thét như dã thú, điên cuồng ùa vào lòng kênh nội đồng. Những mảng lục bình trôi dạt vào miệng cống bị dòng nước vặn xoắn nát vụn, dập dềnh bọt bèo nhớt nhát. Bên bờ kênh, hàng trăm người dân An Bình đứng ngồi nhốn nháo trong tuyệt vọng. Có những cụ già râu tóc bạc phơ chống gậy đứng chôn chân nhìn con nước dữ mà hai bờ môi run bần bật. “Trời đất ngó xuống mà coi… Cống bể rồi! Đóng hổng được nữa rồi bà con ơi!” Tiếng thím Bảy Cò gào lên the thé, rồi người đàn bà cả đời gắn bó với mười công bưởi đường lá cam quỵ sụp xuống bãi cỏ may, hai tay vỗ đét đét vào đùi bành bạch: “Chết hết rồi! Bao nhiêu vốn liếng, mồ hôi nước mắt đổ vô vụ bưởi nghịch này coi như trôi sông trôi biển! Tổ phụ ơi, phen này con chỉ có nước đi thắt cổ!” “Hết rồi… Năm ngoái hạn mặn có hai phần nghìn mà rụng sạch bông. Giờ nước cuộn réo vầy, cầm chắc trên bốn, năm phần nghìn rồi, sống sao nổi nữa!” Chú Tư Thổ – người nông dân khét tiếng lì lợm của cồn – cũng gục đầu vào đầu gối, hai bàn tay thô ráp ôm chặt lấy gương mặt xám ngoét vì đau đớn. Tú bước nhanh xuống mép nước sủi bọt, cẩn thận nhúng đầu điện cực của chiếc bút đo mặn vào dòng xoáy. Màn hình kỹ thuật số lập tức nhấp nháy, con số nhảy vọt lên từng giây: 3.8‰… 4.5‰… rồi dừng lại ở con số nghiệt ngã: 5.2‰! Nước mặn 5.2‰! Một mức mặn tử thần đối với bất kỳ giống cây có múi nào. Với độ mặn này, chỉ cần ngấm vào tầng rễ tơ trong vòng bốn mươi tám tiếng đồng hồ, hiện tượng thẩm thấu ngược sẽ hút cạn từng giọt nhựa sống trong thân cây, làm cháy đen toàn bộ đầu rễ, rụng trụi lá non và biến những vườn bưởi trĩu quả thành những bãi củi khô cằn cỗi. “Tú, sao rồi em?” Thái bước tới sau lưng cô, giọng trầm xuống. Tú ngẩng lên, hai mắt đỏ hoe nhưng ánh nhìn đanh lại: “Năm phần hai, anh Thái. Nước này mà tràn đầy các mương vườn trong ba bữa nữa thì cù lao này coi như bị xóa sổ trên bản đồ trái cây miền Tây.” Tiếng khóc than của bà con nông dân càng lúc càng ai oán, hòa lẫn trong tiếng sóng vỗ bập bềnh vào bờ kè rách nát. Lòng người lúc này còn rách nát hơn cả thân cống bê tông nứt toác. Sự bất lực trước sức mạnh tàn khốc của thiên tai đang bóp nghẹt từng hơi thở, gieo rắc sự buông xuôi rợn ngợp lên từng khuôn mặt lam lũ. Đúng lúc nỗi tuyệt vọng chạm tới đỉnh điểm, từ phía đầu cầu Phù Sa – nơi con lộ đan dẫn ra bến phà ngang nối với đất liền – bỗng vang lên tiếng còi xe ô tô bim bim giòn giã, chói gắt đến chướng tai gai mắt. Một chiếc xe bán tải đời mới bóng loáng màu bạc chậm rãi trườn tới, theo sau là hai chiếc xe máy tay ga đắt tiền. Cửa xe mở ra, Năm Lợi bước xuống trong bộ đồ đũi thêu hoa văn sang trọng, bụng phệ nhô ra phía trước, cổ đeo sợi dây chuyền vàng to bản lủng lẳng mặt nanh heo rừng. Nụ cười giả lả, bóng nhẫy thường ngày của gã nở rộng trên gương mặt chữ điền rám nắng giả tạo. Đi cùng gã là hai tay trợ lý mặc âu phục phẳng phiu mang cặp da đen, và một gã đàn ông trung niên mang kính trắng, tự xưng là công chứng viên lưu động. Bọn họ nhanh chóng kê một chiếc bàn nhựa màu đỏ ngay dưới bóng mát râm ran của rặng bần đầu cầu Phù Sa, cắm một cây dù lớn che nắng, rồi lôi từ trong cốp xe ra những cọc tiền polyme mệnh giá năm trăm ngàn đồng dày cộm, buộc dây thun chằng chịt, xếp thành từng chồng cao ngất ngưởng ngay trên mặt bàn. Cảnh tượng những cọc tiền mới cóng, thơm mùi mực in bày ra giữa lúc người nông dân đang khóc ròng bên bờ cống vỡ chẳng khác nào một sự sỉ nhục trơ tráo, nhưng lại mang ma lực cám dỗ ghê gớm đối với những tâm hồn đang kiệt quệ vì nợ nần. Năm Lợi cầm chiếc loa cầm tay mini, tằng hắng mấy tiếng thật to rồi cất giọng sang sảng, từng lời từng chữ như nhát dao găm thẳng vào tim bà con: “Bà con cô bác An Bình nghe tôi nói một lời ngay thẳng nè! Cống Cây Da bể nát rồi, sắt thép mục rữa hết trơn, ban chỉ huy xã có điều sà lan chở đá hộc về vá thì cũng mất ít nhất nửa tháng! Mà nửa tháng nữa thì nước mặn năm phần nghìn nó luộc chín hết rễ bưởi của bà con rồi! Vụ này coi như trắng tay, qua năm sau đất ngậm muối ba năm chưa chắc trồng lại được cây ớt, cây cà, nói chi bưởi da xanh!” Gã đưa tay chỉ vào những xấp tiền xanh mướt trên bàn, mắt ti hí đảo một vòng quanh đám đông đang im phăng phắc: “Công ty Bất động sản và Nông nghiệp Hoàng Thịnh người ta có lòng nhân đức, thấy bà con cù lao mình lâm nạn nên cử tôi đại diện xuống tận nơi hỗ trợ giải ngân tươi rói! Ai có vườn cặp mé sông, mé lộ, ký giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngay hôm nay, công ty bao trọn gói tiền sang tên đổi chủ, chồng tiền mặt liền tay ba trăm triệu một công! Tiền tươi thóc thật, cầm mớ này dắt díu vợ con lên Bình Dương, Đồng Nai mần công nhân, cất cái nhà tường êm ấm mà sống sung sướng. Chứ ôm mấy gốc củi khô này làm chi nữa cho nợ nần chồng chất, rồi ngân hàng người ta cũng siết nhà siết đất!” Lời Năm Lợi vừa dứt, đám đông nông dân bỗng xôn xao, nhốn nháo như ong vỡ tổ. Ba trăm triệu một công đất vườn! Một mức giá rẻ mạt chỉ bằng một phần ba giá trị thực tế của đất cù lao An Bình màu mỡ trước đây, nhưng trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc, khi trước mắt chỉ là dòng nước mặn giết chóc và những khoản nợ phân bón, thuốc trừ sâu của chính đại lý Năm Lợi đang treo lơ lửng trên đầu, số tiền ấy bỗng biến thành chiếc phao cứu sinh ma quỷ. “Có… có tiền tươi thiệt hôn chú Năm?” Một người đàn ông trung niên áo rách vai, run rẩy bước tới mép bàn: “Vườn bưởi nhà tui sáu công… nợ đại lý chú hết tám mươi triệu tiền phân bón… Giờ bán có trừ nợ liền hôn?” “Trừ liền, giải ngân phần còn lại ngay tại chỗ, có công chứng viên mộc đỏ đàng hoàng!” Năm Lợi cười tít mắt, rút phắt một cây bút bi nhét vào tay người nông dân: “Ký lẹ đi chú Ba, chần chừ tới chiều nước ngập sâu, cây rụng lá là công ty hạ giá xuống còn hai trăm rưỡi ráng chịu nghen!” Người nông dân run rẩy cầm cây bút, ngón tay đen đúa cáu bẩn vì bùn đất đặt lên mép tờ giấy giao kèo in sẵn. Xung quanh, mấy người phụ nữ bắt đầu sụt sùi, vài ba thanh niên trẻ tuổi cũng nhấp nhổm muốn bước tới. Nỗi sợ hãi đã làm tê liệt ý chí của những con người chất phác. Họ sắp sửa dâng nốt tấc đất mồ hôi nước mắt của tổ tiên cho một tập đoàn địa ốc chỉ chực biến cù lao xanh tươi này thành những khu biệt thự nghỉ dưỡng bê tông cốt thép lạnh lùng. “Dừng tay lại! Không ai được ký hết!” Một tiếng thét trong trẻo nhưng đanh thép vang lên xé toạc không gian ngột ngạt bên cầu Phù Sa. Mọi ánh mắt đổ dồn về phía con đường đan. Lê Cẩm Tú sải bước tiến lên, vạt áo bà ba bay phần phật trong gió sông lồng lộng. Đi ngay phía sau cô, Huỳnh Quốc Thái cùng Đực Nhỏ và bốn thanh niên lực lưỡng trong xóm đang gò lưng đẩy một chiếc xe lôi tự chế. Trên thùng xe lôi lót ván gỗ kiên cố, một cỗ máy kỳ dị bằng kim loại sáng bóng đang nằm sừng sững. Đó chính là cỗ máy lọc mặn RO dã chiến mà Tú và Thái vừa hoàn thiện sau đêm thức trắng kinh hoàng tại xưởng cơ khí. Khung thép chữ V sơn chống rỉ màu xám, củ bơm cao áp bằng gang đúc bóng loáng, ba cột lọc thô bằng ống nhựa PVC loại lớn nhồi đầy cát thạch anh, than hoạt tính gáo dừa và bông ép, cùng hai ống màng lọc thẩm thấu ngược màu trắng dài ngoằng xếp song song. Trên nóc khung máy, chiếc bình tích áp bằng thép đúc dày dặn vừa được Thái tiện ren hàn chết đêm qua ánh lên vẻ chắc chắn, bất khả chiến bại. “Chèn ơi… Cái máy gì ngộ dữ vậy kìa?” “Máy xịt thuốc sâu hay máy bơm cát vậy bây?” Bà con xì xào, tự động dạt ra hai bên nhường lối cho chiếc xe lôi tiến thẳng vào bãi đất trống ngay đầu cầu Phù Sa, đối diện bàn công chứng của Năm Lợi. Năm Lợi nheo đôi mắt ti hí lại, nụ cười trên môi gã chợt đông cứng, nhưng rồi gã nhanh chóng lấy lại vẻ trịch thượng, khinh khỉnh: “Úi dào! Tưởng ai, té ra là cô kỹ sư thất nghiệp trên Sài Gòn dắt theo thằng thợ hàn phế liệu! Mấy người tha cái đống sắt vụn này ra đây làm trò hề cho thiên hạ coi đó hả? Định đem cái máy bơm tào lao này ra tát cạn nước mặn sông Tiền chắc?” Tú không thèm liếc nhìn Năm Lợi lấy nửa con mắt. Cô quay sang Thái, khẽ gật đầu: “Anh Thái, vận hành máy!”“Đực Nhỏ, quăng ống hút xuống sông! Đè chặt đầu rọ lọc xuống tầng nước sâu!” Thái dõng dạc chỉ huy. Đực Nhỏ thoăn thoắt ôm cuộn ống gân xoắn màu xanh nhảy phắt xuống mép sông, cắm ngập chiếc rọ lọc bằng lưới inox hai lớp xuống dòng nước mặn đang cuộn sóng. Thái bước tới bên cỗ máy, bàn tay trái thuần thục kiểm tra các van xả áp, rồi giật mạnh dây khởi động của chiếc động cơ xăng mini kéo đầu máy phát điện. Tạch… tạch… bành… bành… bành! Tiếng máy nổ giòn giã vang lên, phá tan bầu không khí ảm đạm. Thái gạt cầu dao điện. Chiếc mô tơ ba pha lập tức hú lên một tiếng trầm ấm, truyền động qua dây curoa kéo củ bơm cao áp quay tít mù. Đồng hồ đo áp suất gắn trên thân bình thép đúc bắt đầu nhảy số: 20 bar… 35 bar… rồi kim dừng lại vững chãi ở mức 45 bar đúng như thiết kế! Tiếng nước rít qua các khe hở siêu nhỏ của màng lọc RO nghe rào rào như tiếng mưa rào mùa hạ. Ở đuôi máy, hai đường ống xả bắt đầu hoạt động. Một đường ống lớn xả ngược dòng nước mặn đậm đặc thải ra lại lòng sông; và một đường ống silicon trong suốt bằng ngón tay cái bắt đầu phun ra một dòng nước chảy xối xả vào chiếc thùng nhôm trắng muốt đặt sẵn trên mặt đất. Dòng nước trong vắt, không một gợn phù sa, lấp lánh dưới ánh nắng trưa chang chang. Tú bước tới, cúi người múc một gáo nước đầy từ thùng nhôm. Cô cắm chiếc bút đo mặn vào trước sự chứng kiến của hàng trăm cặp mắt tò mò đang nín thở. Màn hình điện tử hiển thị rõ mồn một: 0.15‰! “Bà con cô bác ngó kỹ giùm con!” Tú cất cao giọng, dõng dạc nói: “Nước sông Tiền ngoài kia mặn năm phần hai, nhưng qua cỗ máy này, độ mặn chỉ còn không phẩy mười lăm phần nghìn! Đây là nước ngọt tinh khiết, ngọt hơn cả nước mưa đầu mùa!” Nói đoạn, Tú bưng chiếc gáo dừa lên, uống cạn một hơi dài trước mặt tất cả mọi người. Nét mặt cô rạng rỡ, giọt nước mát lành còn đọng lại trên khóe môi tươi tắn. “Trời đất… Thiệt hôn đó?” Chú Tư Thổ không kìm được tò mò, nhào tới chắp hai bàn tay hứng lấy dòng nước đang tuôn ra từ ống xả. Chú nếm thử, rồi tròn xoe mắt, vỗ đùi đánh đét: “Ngọt lịm bà con ơi! Nước ngọt thiệt! Không có một mảy may vị mặn hay chát ngắt nào hết!” “Cho tui nếm với! Cho tui thử miếng coi!” Đám đông bỗng chốc sôi sục. Mấy chục người nông dân chen nhau bước tới quanh cỗ máy của Thái, tranh nhau hứng từng ngụm nước đưa lên miệng nếm, xoa lên mặt, lên trán. Những giọt nước ngọt mát lành chạm vào đầu lưỡi xua tan đi cái đắng chát, nghẹn ngào suốt mấy ngày qua. Tiếng trầm trồ, reo hò kinh ngạc bắt đầu râm ran lan rộng khắp bến sông. Gương mặt Năm Lợi xám ngoét lại như gà nuốt dây thun. Gã đập mạnh tay xuống bàn, gắt gỏng qua chiếc loa cầm tay: “Bà con đừng có để con nhỏ này nó gạt! Một cái máy nhỏ xíu bằng cái chuồng heo đó thì lọc được mấy gáo nước? Trong khi vườn tược cả cù lao này cần hàng triệu khối nước! Muối bỏ biển, làm màu mị dân chứ giải quyết được cái tích sự gì!” Tiếng la hét của Năm Lợi khiến đám đông hơi khựng lại. Đúng vậy, dù cỗ máy có lọc được nước ngọt thật, nhưng công suất của nó làm sao đủ để bơm tưới tràn trề cho hàng ngàn công bưởi đang khát cháy? Hiểu rõ mối nghi ngại đang đè nặng trong lòng bà con, Tú bước lên một bậc đá cao ngay đầu cầu Phù Sa, đứng sừng sững giữa gió sông, đôi mắt sáng ngời quét qua từng gương mặt thân thương của xóm giềng. “Chú Năm Lợi nói đúng một nửa!” Tú cất giọng dõng dạc, từng lời nói rành rọt, mạch lạc mang theo tri thức khoa học vững chắc của một cựu thủ khoa nông nghiệp: “Cỗ máy này của anh Thái chế tạo một ngày đêm chạy tối đa chỉ lọc được khoảng mười tới mười lăm khối nước ngọt. Nếu bà con đem tưới xả tràn ngập mương như tập quán cũ, thì một góc vườn cũng hổng đủ thấm!” Bà con lại bắt đầu xôn xao lo lắng, nhưng Tú giơ cao tay ra hiệu trấn an: “Nhưng tại sao chúng ta phải tưới tràn? Trong lúc đại hạn, mục tiêu của chúng ta không phải là để cây bưởi no nước đâm chồi, mà là tưới cầm cự để cứu rễ, giữ mạng cho cây sống sót qua đợt mặn này! Con đã tính toán kỹ rồi: Cây bưởi đang mùa hạn không cần ngập nước. Chúng ta chỉ cần áp dụng kỹ thuật tưới nhỏ giọt cục bộ quanh vùng rễ tơ, kết hợp với phương pháp phủ bổi sinh học giữ ẩm!” Tú chỉ tay về phía những dải lục bình xanh ngắt đang trôi dạt đầy ven sông Tiền: “Lục bình ngoài sông chính là vàng của chúng ta lúc này! Chiều nay, toàn bộ thanh niên, bà con hãy chèo xuồng vớt bèo lục bình lên, băm nhỏ và ủ quanh gốc bưởi một lớp dày hai mươi phân. Thân lục bình ngậm nước ngọt cực kỳ tốt, lại chứa nhiều kali và vi lượng, vừa ngăn ánh nắng mặt trời làm bốc hơi nước, vừa làm mát tầng đất mặt. Mỗi gốc bưởi cổ thụ, chúng ta chỉ cần tưới đúng năm lít nước ngọt tinh khiết này một ngày, chia làm hai lần sáng sớm và chiều muộn bằng hệ thống dây truyền dịch hoặc bình tưới nhỏ giọt. Mười khối nước mỗi ngày của anh Thái đủ sức duy trì sự sống cho hơn hai ngàn gốc bưởi của cả xóm mình trong suốt một tháng trời hạn mặn!” Cả bờ cống bỗng im phăng phắc. Mọi người sững sờ lắng nghe từng lời phân tích khoa học nhưng vô cùng mộc mạc, dễ hiểu của Tú. Một lối thoát rõ ràng, khả thi và tràn đầy hy vọng bỗng mở toang ra ngay trước mắt họ, xua tan đi màn sương mù tăm tối của sự sợ hãi. Tú nhìn thẳng vào mắt chú Ba – người nông dân vừa suýt nữa đặt bút ký giấy bán đất – giọng cô chùng xuống, da diết và xúc động nghẹn ngào: “Bà con cô bác ơi! Cù lao An Bình này là mồ hôi, nước mắt, là xương máu của ông bà tổ tiên mình từ thời mang gươm đi mở cõi, đắp từng bờ bao, cắm từng nhánh bưởi xuống mảnh đất bãi bồi này để nuôi nấng biết bao thế hệ chúng ta khôn lớn. Đất cù lao mình một tấc là một tấc vàng, phù sa màu mỡ bậc nhất phương Nam. Chú Năm Lợi và cái tập đoàn Hoàng Thịnh kia bày tiền ra đây đâu phải để cứu giúp bà con? Họ đang chực chờ lúc chúng ta ngã lòng, hoảng loạn nhất để cướp đi đất đai, cướp đi sinh kế đời đời kiếp kiếp của con cháu mình!” Cô đưa tay chỉ về phía cỗ máy lọc đang chạy rì rầm: “Anh Thái vì muốn cứu vườn bưởi, thức trắng ba đêm chế máy, mảnh thép nổ găm rách toạc bắp tay chảy đầm đìa máu vẫn không chịu bỏ cuộc! Tía Ba Sang của con liệt cả cột sống nằm liệt giường vẫn ráng chống gậy ra vườn hứng từng giọt nước ngọt! Tại sao người ngoài người ta tìm cách dìm chết mình, mà ruột thịt xóm giềng mình lại chịu cúi đầu buông xuôi bán đất làm nô lệ cho họ? Chúng ta có sức người, có sông nước, có tri thức và máy móc cơ khí của anh Thái ở đây! Chỉ cần bà con đồng lòng, gom công gom sức chia nhau từng can nước ngọt, con cam đoan với bà con: vườn bưởi của cù lao An Bình nhất định sẽ sống sót vượt qua mùa hạn này!” Những lời gan ruột của Tú như ngọn lửa bùng cháy, thiêu rụi hoàn toàn nỗi hoang mang dao động trong lòng người dân. Chú Ba run run buông rơi cây bút bi xuống mặt bàn, giật phắt lại cuốn sổ đỏ của gia đình nhét chặt vào trong ngực áo, đôi mắt ầng ậng nước: “Con nhỏ nói chí phải… Tía má tao để lại cho tao sáu công đất hương hỏa, tao mà bán cho tụi mày ba trăm triệu bạc đặng đi tha phương cầu thực thì chết xuống suối vàng tao còn mặt mũi nào nhìn tổ tiên!” “Đúng rồi! Không bán chác gì hết!” “Giữ đất! Cùng nhau cứu vườn bưởi bà con ơi!” “Đực Nhỏ, lấy xuồng ra vớt bèo lục bình mau lên con!” Khí thế của đám đông bỗng chốc đảo chiều dữ dội. Những người nông dân vừa nãy còn ủ rũ, khóc lóc nay bỗng đứng thẳng lưng, nắm chặt tay nhau, ánh mắt bừng bừng quyết tâm. Họ quay lưng lại hoàn toàn với những xấp tiền polyme lạnh lẽo của Năm Lợi, vây quanh cỗ máy lọc nước của Thái và Tú, người đòi góp tiền dầu, người đòi xách thùng phụ tải nước, rộn rã như một ngày hội non sông. Bên chiếc bàn nhựa đỏ, Năm Lợi đứng trơ trọi như một pho tượng sáp. Gương mặt gã chuyển từ đỏ gay sang tím tái vì tức tối. Kế hoạch thâu tóm hàng trăm công đất vườn cù lao với giá bèo bọt mà gã dày công sắp đặt cùng Tập đoàn Hoàng Thịnh, bỗng chốc đứng trước nguy cơ tan tành mây khói chỉ vì một con nhỏ kỹ sư vắt mũi chưa sạch và một cỗ máy lọc dã chiến chết tiệt. Từ trong chiếc xe bán tải bóng loáng, cánh cửa kính sẫm màu hé mở. Một người đàn ông trung niên mặc comple sang trọng – đại diện cấp cao của Hoàng Thịnh – trừng mắt nhìn Năm Lợi với ánh nhìn lạnh lẽo, đầy vẻ đe dọa rồi kéo kính lên cái rụp. Năm Lợi run bắn người. Cơn thịnh nộ và sự hoảng loạn bốc lên ngùn ngụt trong tâm can gã. Gã nghiến răng trét trét, mắt vằn lên những tia máu hung hiểm. Nếu cỗ máy này còn chạy, nếu bà con còn đoàn kết giữ đất, gã không những mất trắng tiền hoa hồng tiền tỷ mà còn bị tập đoàn trừng phạt vì tội thất hứa. Gã lùi dần ra phía sau đám đông đang ồn ã quanh xe lôi, đảo mắt ra hiệu cho hai tên đàn em mặt mày bặm trợn đang đứng lảng vảng gần đó. Một tên kín đáo luồn tay vào vạt áo gió rộng thùng thình, lôi ra một hòn đá tảng nham nhở cạnh sắc, mắt dán chặt vào buồng bơm áp lực bằng gang mỏng manh của chiếc máy lọc. Năm Lợi nhe răng cười hiểm ác, khẽ nháy mắt ra hiệu. Chỉ cần một cú ném chí mạng làm vỡ buồng bơm, cỗ máy sẽ nổ tung, hy vọng của đám dân đen sẽ tan thành mây khói, và chiến thắng lại thuộc về gã. Gã trợn trừng mắt, bước xấn tới một bước định dùng thân mình che chắn góc nhìn để đàn em ra tay. Bàn tay mập ú, nhớp nháp mồ hôi của Năm Lợi vừa giơ lên toan đẩy mạnh vào đường ống áp lực nối với màng lọc… Bụp! Bỗng nhiên, một bàn tay gân guốc, khô đét nhưng cứng như gọng kìm thép từ phía sau vươn ra, chộp chặt lấy cổ tay đầy ngấn mỡ của gã! Cái siết mạnh đến mức khiến các khớp xương của Năm Lợi kêu răng rắc. Gã đau đớn thét lên một tiếng thất thanh, kinh hãi quay ngoắt đầu lại. Đập vào mắt gã là một khuôn mặt già nua hằn sâu những vết đồi mồi vì sương gió, đôi mắt quắc thước đỏ ngầu rực lửa căm hờn, và hơi thở dồn dập đanh thép phả thẳng vào mặt gã… , , vn, live , vn

Bạn cũng là tác giả hoặc dịch giả?

Đăng sáng tác hoặc bản dịch của riêng bạn lên Say Truyện — miễn phí, chỉ mất vài phút.

Đăng truyện ngay

Bình luận (0)

Đang tải bình luận...