Hương Bưởi Bên Cầu Phù Sa

Chương2: Tiếng búa xưởng rèn

Cỡ chữ
Sương sớm trên dòng sông Tiền còn chưa kịp tan, từng dải mây trắng mỏng manh như dải lụa là là mặt nước đỏ quạch phù sa, quấn quýt lấy những rặng bần de ra mé rạch. Không khí buổi ban mai ở cù lao An Bình mang theo cái se lạnh dìu dịu, nhưng khi lướt qua rặng vườn nhà ông Ba Sang, luồng gió ấy bỗng chốc trở nên khô khốc, xào xạc luồn qua những tán lá bưởi khô quắt queo và ngai ngái mùi đất cằn. Trong căn nhà lá ba gian xiêu vẹo, tiếng ngáy mệt nhọc xen lẫn tiếng trở mình nặng nề của ông Ba Sang vẫn vọng qua vách nứa. Cơn đau lưng sau chuỗi ngày dài dãi nắng dường như vẫn chưa chịu buông tha cho người nông dân già. Cẩm Tú khẽ khàng vén tấm màn gió, bước từng bước thật êm ra gian sau. Cô vục gáo dừa múc nước mưa mát lạnh từ chiếc lu da lươn kê bên hiên vỗ lên mặt, để cái lạnh thấu da đánh thức từng tế bào đang trĩu nặng sau một đêm dài thao thức trắng mắt. Đôi mắt cô hơi trũng sâu vì thiếu ngủ, nhưng bên dưới hàng mi rợp bóng là một tia sáng kiên định, rắn rỏi lạ thường. Cô quay vào buồng, xách ra chiếc ba lô du lịch cũ kỹ sờn mép. Bên trong không có áo quần lụa là chốn thị thành, mà là những món đồ nghề quý giá nhất mà cô đã cẩn thận gom góp mang về từ phòng thí nghiệm: một bộ kit đo đạc nông học dã chiến, giấy quỳ tím đo độ pH, bút đo nồng độ ion kim loại, dung dịch thử vi sinh, chiếc kính lúp phóng đại ba mươi lần và một cây thuổng lấy mẫu đất chuyên dụng bằng thép không gỉ. Tú xắn cao ống quần bà ba màu nâu sẫm, bước chân trần giẫm lên mặt đất vườn ráo hoảnh. Mặt trời bắt đầu nhú lên sau rặng dừa nước bên kia bờ mương, rọi những vệt sáng vàng vọt xuyên qua tán lá bưởi da xanh xơ xác. Cả khu vườn rộng hơn mười lăm công đất của tía cô từng là niềm tự hào trù phú của cả dải cù lao, nay trông chẳng khác nào một bãi chiến trường hoang tàn. Tú đi dọc theo những liếp vườn đắp mô cao vống, cẩn thận chọn năm điểm lấy mẫu theo đúng phương pháp đường chéo chữ X mà cô đã nằm lòng qua hàng trăm chuyến đi điền dã thời đại học. Cô quỳ gối xuống mô đất dưới một gốc bưởi lão hơn mười năm tuổi. Cây bưởi này chính tay ông Ba Sang trồng vào cái năm cô đỗ thủ khoa trên tỉnh, từng cho những lứa trái tròn lẳn, vỏ mỏng dính, tôm giòn mọng nước ngọt lịm. Nhưng giờ đây, cành nhánh của nó khẳng khiu như những cánh tay gầy guộc cầu cứu giữa trời xanh. Trên thân cây, rêu mốc và địa y bám thành từng mảng loang lổ màu xám tro; đầu cành khô đét, lá non teo tóp, ngả sang màu vàng vọt như người mắc bệnh hoàng đản. Tú cắm sâu lưỡi thuổng xuống tầng đất mặt, khéo léo bứng lên một lát cắt hình trụ sâu chừng hai mươi phân. Nhìn khối đất trong lòng bàn tay, sống mũi Tú cay xè. Đất mặt bị nén dẽ đến mức gần như không có một kẽ hở li ti cho không khí lưu thông. Lớp đất bên trên đóng một màng váng mỏng màu vàng rỉ sắt, xen lẫn những hạt trắng đục li ti của muối khoáng kết tinh. Cô bóp nhẹ, khối đất vỡ vụn thành những mảnh sắc cạnh, khô rang, không hề có lấy một chút mùn dẻo quánh của phù sa châu thổ bồi đắp. Tuyệt nhiên không thấy bóng dáng của một con trùn đất nào – những “thợ cày” tự nhiên báo hiệu sức sống màu mỡ của đất mẹ dường như đã bị hóa chất bức tử hoàn toàn. Tú cẩn thận gạt lớp đất bao quanh chùm rễ bên dưới. Khi nhìn thấy hệ thống rễ bưởi lộ ra dưới ánh mặt trời le lói, tim cô thắt lại từng cơn. Rễ bưởi khỏe mạnh bình thường phải có màu vàng ngà hoặc trắng muốt, tua tủa những sợi lông hút mịn màng để ngậm lấy dưỡng chất và mạch nước ngọt lành. Nhưng chùm rễ trước mắt cô lúc này đen sì, mềm nhũn và bốc lên mùi chua nồng của sự hoại tử yếm khí. Toàn bộ hệ rễ tơ – phần huyết mạch nuôi sống cây – đã bị thối rữa gần hết. Chỉ cần khẽ dùng đầu ngón tay vuốt nhẹ, lớp vỏ ngoài cùng đã tuột ra như sợi chỉ mục, để trơ lại phần lõi gỗ khẳng khiu, chết nghẹn. “Ngộ độc phân bón vô cơ nghiêm trọng... Rễ bị cháy do tích tụ muối khoáng dư thừa, kết hợp với nấm Phytophthora tấn công tầng rễ...” Tú lẩm bẩm một mình, giọng nghẹn lại trong lồng ngực. Cô mở chiếc hộp nhựa dã chiến, lấy ra một ít đất ở tầng rễ râm, hòa vào ống nghiệm chứa nước cất rồi lắc đều tay. Sau vài phút chờ lắng cặn, Tú kẹp một mẩu giấy quỳ nhúng vào dung dịch thử. Chỉ trong chớp mắt, dải giấy quỳ chuyển nhanh từ màu vàng nhạt sang màu đỏ cam đậm đặc. Tú đối chiếu với bảng màu tiêu chuẩn: độ pH chỉ đạt khoảng 4.0 đến 4.2. Đất đã bị chua hóa đến mức báo động đỏ. Với độ chua này, kết hợp với nồng độ mặn tồn dư từ con nước năm ngoái chưa rửa trôi hết, rễ cây bưởi hoàn toàn tê liệt, mất khả năng hấp thu dinh dưỡng. Tía cô càng nghe lời Năm Lợi bón thêm phân hóa học đắt tiền để kích trái nghịch vụ, cây lại càng ngộ độc nặng hơn, chẳng khác nào người bệnh đang ốm liệt giường bị ép uống thuốc độc liều cao. “Muốn cứu cây, trước tiên phải cứu đất. Nhưng trước khi đất kịp hồi sinh, phải chặn đứng sự thoát hơi nước và lây lan của nấm bệnh đã...” Tú đứng thẳng dậy, đưa mắt nhìn khắp lượt hơn hai trăm gốc bưởi xơ xác. Những cành khô, cành sâu bệnh và những cành vượt vô dụng đang rút cạn những giọt nhựa sống cuối cùng của thân cây. Phải cắt tỉa thật quyết liệt, loại bỏ toàn bộ những phần cành hoại tử, quét vôi diệt nấm ở các vết thương hở để cây tập trung dồn sức nuôi lại bộ rễ mới. Nghĩ là làm, Tú rảo bước trở vào chái bếp, lục lọi góc để nông cụ của tía. Nhưng chiếc kìm bấm cành duy nhất trong nhà đã bị mẻ một mảng lớn ở lưỡi cắt, chiếc cưa tỉa cành bằng thép lá thì rỉ sét đỏ quạch, ốc siết lỏng lẻo lắc lư như muốn rớt ra ngoài. Với những dụng cụ cùn mẻ này, nếu cố cắt tỉa sẽ chỉ làm dập nát vỏ thân, tạo điều kiện cho nấm khuẩn xâm nhập sâu hơn vào mạch dẫn. Tú nhớ lại lời tía hôm qua. Ở đầu xóm, ngay dốc cầu Phù Sa có xưởng cơ khí nhỏ. Cô gói ghém mấy chiếc kìm cùn và lưỡi cưa cũ vào một mảnh bao bố gai, quệt mồ hôi trên trán rồi rảo bước ra con đường đất liên xóm. Nắng sớm bắt đầu rải vàng trên những ngọn dừa nước xanh um. Con đường đan nhỏ hẹp chạy dọc theo con rạch ngoằn ngoèo, hai bên bờ hoa dâm bụt nở đỏ rực, xen lẫn những bụi hoa ngũ sắc tím ngắt dại khờ. Xa xa, tiếng máy đuôi tôm của những chiếc vỏ lãi chạy xé nước trên sông Tiền vọng lại, hòa cùng tiếng chim bìm bịp kêu con nước lớn tạo nên một bản hòa âm quen thuộc của chốn thôn dã. Cảnh sắc thanh bình dường như muốn ôm lấy tâm hồn đầy vết thương của Tú, xoa dịu những nhức nhối mà chốn thị thành đầy toan tính đã khắc sâu vào tim cô suốt bao năm qua. Càng đến gần chân cầu Phù Sa, những âm thanh lanh lảnh, trầm đục của kim loại va vào nhau càng rõ nét. “Keng! Keng! Keng... Xèo...” Tiếng búa sắt nện dứt khoát trên đe, tiếp nối là tiếng xì xèo của thép nung đỏ bị nhúng vào thùng nước lạnh, bốc lên những cuộn khói trắng mờ mang theo mùi khen khét đặc trưng của than đá và dầu máy. Tú dừng chân trước một căn xưởng lợp mái tôn xi măng rộng rãi. Bên ngoài khoảng sân đất nện bày la liệt đủ loại máy móc nông nghiệp: từ những chiếc đầu máy nổ Kohler cũ kỹ dính đầy bùn đất, những cánh quạt nước tạo oxy cho ao tôm, đến những bộ dàn cày, lưỡi xới rỉ sét đang chờ được bàn tay người thợ phục chế. Trên tấm biển gỗ treo nghiêng nghiêng trước hiên, dòng chữ quét sơn đỏ đã phai màu ghi vỏn vẹn: “Xưởng Cơ Khí – Tiện Hàn Quốc Thái”. Tú bước qua ngạch cửa, đưa mắt nhìn vào gian xưởng tranh tối tranh sáng. Ngay giữa xưởng, bên cạnh lò than đang rực lửa đỏ hồng, một bóng người đàn ông cao lớn đang đứng thẳng lưng bên đe thép. Anh mặc một chiếc áo thun ba lỗ màu xanh công nhân đã bạc màu, lấm lem những vệt dầu nhớt đen sì và mạt sắt. Đôi vai anh rộng bè bè, cơ bắp cuồn cuộn ở bắp tay gồ lên theo từng nhịp búa giáng xuống thanh sắt đỏ rực. Mồ hôi túa ra như tắm, chảy ròng ròng trên v*m ng*c vạm vỡ và khuôn mặt góc cạnh phong trần nhuốm màu nắng gió phù sa. “Dạ... cho hỏi có phải anh Thái đó hông?” Tú cất tiếng hỏi, giọng ngập ngừng xen lẫn e dè. Tiếng búa bỗng chốc ngưng bặt. Người thợ máy dừng tay, chiếc búa nặng trịch trong tay anh hạ xuống nhẹ bẫng trên mặt đe. Anh đưa mu bàn tay thô ráp quệt ngang trán gạt đi dòng mồ hôi đang chảy tràn vào khóe mắt, rồi quay người lại. Đôi mắt anh nheo lại dưới ánh sáng chói lóa từ ngoài sân hắt vào. Nhưng chỉ một giây sau, ánh nhìn thâm trầm, điềm tĩnh ấy bỗng mở to, lóe lên sự kinh ngạc tột cùng. “Tú?... Cẩm Tú phải hông?” Giọng nói trầm ấm, đầy nội lực vang lên. Thái vội vàng đặt chiếc kẹp sắt xuống lò, hai tay lúng túng chùi vội vào chiếc giẻ lau treo bên hông quần bò, như thể sợ vết dầu mỡ trên người mình sẽ làm bẩn không khí xung quanh cô gái nhỏ nhắn. “Dạ, em nè anh Thái!” Tú nở một nụ cười rạng rỡ, bao nhiêu mệt mỏi trong buổi sáng bỗng chốc tan biến. Trước mắt cô không còn là cậu thiếu niên gầy nhẳng, đen nhẻm thuở nào từng lội mương hái trộm ổi cùng cô, mà là một người đàn ông trưởng thành, rắn rỏi và vững chãi như một cây tràm cổ thụ đứng sừng sững giữa đầu sóng ngọn gió. Chỉ có ánh mắt hiền lành, chân chất và nụ cười để lộ hàm răng trắng bóng là vẫn vẹn nguyên như trong ký ức tuổi thơ. Thái bước lại gần, bước chân dứt khoát nhưng có phần ngượng ngùng khi nhìn thấy bộ bà ba giản dị cùng đôi lọn tóc bím vắt ngang vai của Tú: “Em về hồi nào vậy Tú? Bữa qua tía em có nhắc, mà tui cứ ngỡ... ngỡ em bận bịu nghiên cứu dữ lắm trên trển, dễ gì về cù lao này lâu được.” “Em mới về chiều hôm qua chuyến phà chót anh ơi,” Tú cười nhẹ, ánh mắt nhìn lướt qua xưởng máy gọn gàng, ngăn nắp một cách đáng kinh ngạc dù toàn là sắt thép, ốc vít. “Về tới nơi thấy vườn tược nhà mình lụn bại quá, em xót ruột hổng chịu nổi.” Ánh mắt Thái khẽ chùng xuống khi nghe nhắc đến chuyện vườn tược. Anh kéo một chiếc ghế đẩu bằng gỗ đã được lau sạch sẽ, đặt xuống bên cạnh bàn trà gọt đẽo từ gốc tràm: “Ngồi xuống uống miếng nước đi Tú. Đi đường đất sớm vậy chắc bụi bặm lắm. Để tui rót miếng trà tim sen má tui mới sao hôm qua.” Thái cẩn thận rót nước vào chiếc tách sành, đưa cho cô bằng cả hai bàn tay dày cộp, chai sần đầy những vết sẹo nhỏ của nghề cơ khí. Tú đón lấy chén trà, hơi ấm từ gốm sành lan tỏa vào lòng bàn tay mềm mại, thơm ngát mùi sen quyện cùng vị ngọt hậu nơi đầu lưỡi. “Anh mở xưởng ở đây lâu chưa? Em nghe tía em khen máy móc của anh Thái làm dữ lắm, bà con cù lao ai hư máy nổ, gãy láp xuồng cũng chạy qua tìm anh.” Thái cười hiền, nụ cười làm những nếp nhăn nơi khóe mắt anh giãn ra: “Cũng gần bốn năm rồi Tú. Hồi đó... nhà gặp biến cố, tía tui ngã bệnh nặng rồi nợ nần tiền thuốc men dữ quá, tui hổng thể đeo đuổi tiếp cái bằng thạc sĩ trên Cần Thơ được nữa. Đành gác lại sách vở, xách đồ nghề về cù lao mở cái xưởng rèn, xưởng tiện này. Ban đầu cũng chật vật trầy vi tróc vảy, nhưng rồi thấy bà con mình mần ruộng, mần vườn cực quá chừng mà máy móc ngoài chợ thì mắc mỏ, lại mau hư. Tui mày mò chế biến lại mấy cái máy xới cỏ, máy bơm xịt thuốc mi-ni cho vừa túi tiền người nông dân. Mần riết rồi quen tay, coi như lấy công làm lời, giúp được chòm xóm phần nào hay phần nấy.” Giọng Thái trầm trầm, nhẹ tênh như đang kể chuyện của ai khác, không một lời than vãn, không một chút oán trách số phận trớ trêu. Nhưng Tú hiểu, đằng sau sự bình thản ấy là cả một sự hy sinh thầm lặng đến thắt lòng của một chàng trai tài năng, từng ấp ủ biết bao hoài bão lớn lao nơi giảng đường đại học. Nỗi đau dang dở của Thái dường như có một sự đồng điệu kỳ lạ với nỗi uất nghẹn bị cướp đoạt công trình mà cô đang mang trong lòng. Tú đặt tách trà xuống, mở bọc bao bố gai ra, để lộ những lưỡi kìm và cưa cùn rỉ: “Hôm nay em qua làm phiền anh Thái đây nè. Em muốn tỉa lại mấy liếp bưởi sâu bệnh cho tía, mà đồ nghề ở nhà mục gãy hết trơn rồi. Anh coi có kìm cắt cành hay cưa bén nào cho em mượn đỡ, hoặc liếc lại giùm em mấy cái này với.” Thái cầm chiếc kìm cắt cành lên, ngón tay cái miết nhẹ qua vết mẻ trên lưỡi thép. Anh nhíu mày nhìn vết cắt nham nhở: “Kìm này bằng thép nhíp xe cán mỏng, người ta mài dối quá nên giòn, bấm trúng cành bưởi già là mẻ liền. Cưa này thì bước răng dày quá, ăn mùn cưa hổng thoát được nên mau kẹt, dễ làm tưa vỏ cây. Để đó cho tui. Tui mài lại góc bén ba mươi độ, tôi lại thép cho dẻo dai rồi tra dầu vô lò xo cho. Đảm bảo em bấm cành ngọt xớt như cắt chuối non.” Nói rồi, không đợi Tú trả lời, Thái liền mang kìm sang bên chiếc máy mài đá q*** t**. Anh bật công tắc điện, tiếng mô-tơ rít lên đều đặn. Dưới bàn tay điêu luyện và chuẩn xác của người thợ cơ khí lành nghề, từng tia lửa điện màu cam sáng rực bắn tung tóe theo từng nhịp miết thép. Ánh lửa bập bùng soi rõ góc nghiêng cương nghị, tập trung cao độ của Thái. Anh không chỉ là một thợ rèn đơn thuần, từng cử chỉ xoay trở góc cắt, từng nhát búa ghè lại chốt tán đều toát lên kiến thức sâu sắc của một người nắm vững nguyên lý cơ học vật liệu.Vừa mài thép, Thái vừa nghiêng đầu hỏi Tú, giọng anh át đi tiếng rít của đá mài: “Mà này Tú, tía em nói đợt này em về nghỉ phép ngắn ngày hả? Sao tui thấy tướng em gom đồ nghề vi sinh, sách vở chuyên ngành về nhiều dữ vậy?” Cẩm Tú thoáng giật mình. Cô cúi đầu, hai ngón tay mân mê vành tách trà sành, im lặng một hồi lâu. Giữa không gian nồng đượm mùi sắt thép và lửa hồng, sự quan tâm chân thành, không gợn chút tò mò soi mói của Thái khiến bức tường phòng thủ trong lòng cô bỗng chốc sụp đổ. “Em... em nghỉ việc trên thành phố luôn rồi anh Thái,” giọng Tú nhỏ dần, nghẹn ngào. “Người ta cướp mất đề tài nghiên cứu phân bón hữu cơ vi sinh của em. Người mà em từng tin tưởng nhất, tôn trọng nhất... lại chính là người phản bội em, biến công sức ba năm trời em lặn lội thức trắng đêm trong phòng thí nghiệm thành tên của họ trên mặt báo. Em kiệt sức rồi. Em thấy chốn thị thành đó hổng có chỗ cho sự tử tế mộc mạc... Nên em trốn về đây.” Tiếng máy mài bỗng chốc dừng lại. Không gian trong xưởng chìm vào một sự tĩnh lặng đến nao lòng, chỉ còn nghe tiếng than lách tách trong lò rèn và tiếng gió rít qua rặng bần ngoài bến rạch. Thái không quay lại nhìn cô ngay. Anh cẩn thận nhúng lưỡi kìm vừa mài xong vào chậu nước nguội, lắng nghe tiếng “xèo” thanh thản vang lên. Rồi anh chậm rãi quay người, đôi mắt thâm trầm nhìn thẳng vào đôi mắt đang ngấn lệ của Tú. Không có sự thương hại rẻ rúng, không có những lời an ủi sáo rỗng, ánh mắt Thái ấm áp và vững chãi như bờ đất phù sa che chở cho mầm cây non trước cơn giông bão. “Người ta cướp được cái tên trên tờ giấy báo cáo, chớ đâu có cướp được cái đầu với cái tâm của em, đúng hông Tú?” Thái cất tiếng, từng lời chắc nịch như đinh đóng vào cột: “Về quê hổng phải là trốn chạy đâu em. Đất cù lao mình tuy nghèo, tuy hay chịu phèn mặn, nhưng đất hổng bao giờ biết nói dối, cũng hổng biết phản trắc như lòng người chốn thị thành. Em có học thức, có tay nghề, đất này cần em hơn những tòa nhà chọc trời ngoài kia nhiều lắm.” Lời nói mộc mạc của Thái như một dòng suối mát lành tưới thẳng vào mảnh đất cằn cỗi trong tâm hồn Tú. Bao nhiêu uất ức, bao nhiêu đắng cay cô cố nén chặt suốt mấy ngày qua bỗng chốc được giải tỏa. Cô cắn môi, khẽ gật đầu, lau vội giọt nước mắt chực trào nơi khóe mi. “Tú ơi! Phải con Tú con anh Ba Sang đó hông con?” Một giọng nói đôn hậu, run run vang lên từ phía cửa sau gian bếp. Một người phụ nữ trung niên với mái tóc hoa râm búi gọn sau gáy, mặc chiếc áo bà ba màu tro bước ra. Đôi mắt bà đã hơi mờ đục vì năm tháng cặm cụi bên khung dệt chiếu, nhưng nét mặt toát lên vẻ phúc hậu, hiền từ vô cùng. Đó là bà Năm Nhàn – mẹ của Thái. “Dạ, con chào thím Năm!” Tú vội vàng đứng dậy, hai tay vòng trước ngực lễ phép. “Trời đất ơi, ngó bộ con nhỏ coi kìa! Mới mấy năm hổng gặp mà ra dáng cô kỹ sư xinh đẹp quá chừng chừng!” Bà Năm Nhàn bước nhanh tới, nắm lấy đôi bàn tay Tú, x** n*n hồi lâu với ánh mắt xót xa. “Mà sao gầy nhom vậy nè con? Mặt mày xanh xao quá, chắc trên trển người ta mần ăn cực khổ lắm hả? Nghe tiếng tụi bây nói chuyện ngoài này, thím múc chè bưởi ra cho ăn nè.” Nói rồi, bà Năm đặt chiếc khay nhôm lên bàn trà. Trên khay là hai chiếc bát sứ trắng muốt đựng đầy những miếng chè bưởi màu vàng mơ óng ả, phủ bên trên một lớp nước cốt dừa sền sệt trắng tinh, rắc thêm một nhúm đậu phộng rang giã dập thơm lừng. “Ăn đi con, chè thím tự tay nấu đó. Bưởi sau vườn nhà mình, thím lột lấy cùi trắng, ngâm muối bóp xả tới bảy lần nước cho sạch hết the đắng rồi mới sên đường phèn, áo bột năng nấu với đậu xanh lòng. Ngọt thanh mà mát ruột lắm, ăn cho lại sức nghen con.” Hương thơm thanh khiết của hoa bưởi hòa quyện cùng mùi béo ngậy của nước cốt dừa và thoang thoảng hương lá dứa bốc lên nghi ngút. Tú cầm chiếc muỗng nhôm nhỏ, múc một miếng cùi bưởi đưa vào miệng. Vị giòn sần sật của cùi bưởi đã được xử lý khéo léo không còn vương một chút vị đắng chát nào, quyện cùng vị ngọt dịu thanh tao của đường phèn, vị bùi bùi của đậu xanh và vị béo ngậy, mằn mặn nhẹ của nước cốt dừa tươi nơi đầu lưỡi. Đó không chỉ là vị ngọt của một món quà quê dân dã, mà là vị ngọt của tình thương, của sự chở che gia đình mà suốt những năm tháng bươn chải nơi đất khách quê người cô chưa từng được nếm trải trọn vẹn. “Ngon quá thím Năm ơi... Cùi bưởi giòn mà thơm lừng lững luôn á thím,” Tú tấm tắc khen, lòng ngập tràn một cảm giác ấm áp lạ kỳ. Bà Năm Nhàn nhìn cô gái nhỏ ăn ngon lành, miệng móm mém cười hiền: “Ngon thì ăn hết chén đi con. Thằng Thái nó cũng hạp món này lắm. Hồi nhỏ hai đứa bây hay giành nhau cái vỏ bưởi làm lồng đèn trung thu, nhớ hông?” Thái đang đứng bên bàn nguội, nghe mẹ nhắc lại chuyện cũ thì gãi đầu cười bẽn lẽn. Anh với lấy chiếc khăn lau tay, bước lại gần đưa cho Tú chiếc kìm cắt cành và chiếc cưa tỉa: “Xong rồi nè Tú. Tui mài bén ngót rồi đó. Mấy con ốc tán tui thay bằng ốc inox chống rỉ, có chêm thêm long-đền cao su để em bấm đỡ mỏi tay. Lưỡi cưa tui dũa lại răng so-le, cưa cành mục hổng sợ kẹt nữa đâu.” Tú đón lấy chiếc kìm. Cầm thanh kim loại vừa được tôi luyện lại trong tay, cô cảm nhận được độ đầm, chắc nịch và đường cắt ngọt lịm khi bấm thử vào một mẩu gỗ vụn. Đôi mắt Thái nhìn cô đầy vẻ quan tâm, như muốn truyền cho cô tất cả sức mạnh vững chãi từ đôi bàn tay người thợ. Đúng lúc ấy, từ phía con đường đan chạy ngang qua xưởng rèn, tiếng cười nói rổn rảng xen lẫn tiếng dép lẹp kẹp của mấy người đàn bà đi chợ sớm vọng vào. Đó là thím Bảy Hạnh và cô Ba Tía – những người buôn bán cá tôm có tiếng là bộc trực nhưng cũng hay đưa chuyện nhất nhì cái xóm cồn này. Vừa đi ngang qua cổng xưởng, nhìn thấy Tú đang ngồi ăn chè bên cạnh Thái, bước chân hai người bỗng chậm lại, mắt liếc xéo vào trong nhà rồi ghé tai nhau thì thầm to nhỏ. Nhưng cái thói quen nói to của dân sông nước khiến những lời thì thào ấy chẳng khác nào tiếng chuông đồng vọng thẳng vào gian xưởng yên ắng: “Ê... con nhỏ ngồi trong xưởng thằng Thái phải con Tú nhà ông Ba Sang hổng mậy?” “Chớ ai vô đó nữa! Bữa qua nghe đồn rùm beng ngoài bến phà, con nhỏ xách vali đùm túm về quê rồi. Tưởng thủ khoa đại học gì ghê gớm lắm, làm kỹ sư lương mấy chục triệu trên Sài Gòn, sao tự dưng dắt díu về đây mần chi hổng biết?” “Xời ơi, học cao hiểu rộng cho lắm rồi cũng gãy cánh chớ gì! Nghe đâu trên trển người ta đuổi việc, thất nghiệp không có chỗ dung thân mới trốn về ăn bám ông già! Tội nghiệp ông Ba Sang, lưng còng gãy khúc, nợ nần ngập đầu ngập cổ nuôi con ăn học cho cố xác, giờ rước về một của nợ hổng biết mần ăn gì ra hồn...” “Bởi vậy tui nói, con gái học chi cho lắm! Cứ như con Hai nhà tui, học hết lớp chín rồi đi làm công nhân may mặc, tháng nào cũng gởi tiền về nuôi cha mẹ có hiếu hơn hông? Học làm ông này bà nọ rồi về ôm đống đất phèn mà khóc!” Từng lời, từng chữ sắc nhọn như những chiếc đinh gỉ găm thẳng vào màng nhĩ Cẩm Tú. Mặt cô tái mét đi. Chiếc muỗng nhôm trong tay Tú khẽ run lên, va vào thành bát sành phát ra tiếng “leng keng” khô khốc. Cảm giác bẽ bàng, tủi nhục và sự bất lực tột cùng từng bóp nghẹt tim cô ở thành phố như một bóng ma độc ác lại trỗi dậy, đè nặng lồng ngực cô giữa chính quê hương mình. Hóa ra, miệng lưỡi thế gian ở đâu cũng tàn nhẫn như nhau; sự vấp ngã của một người luôn là mồi ngon cho những lời đàm tiếu vô tình của thiên hạ. Bà Năm Nhàn biến sắc, toan bước ra sân mắng mỏ mấy bà nhiều chuyện, nhưng một bóng đen đã nhanh hơn bà một bước. Thái sầm mặt lại. Đôi lông mày rậm rạp của anh nhíu chặt lại thành một đường thẳng tắp, vẻ giận dữ từ người đàn ông quanh năm quai búa, dập đe bỗng chốc bốc lên hừng hực. Anh bước phăng phăng ra cổng xưởng, chiếc búa sắt trên tay vẫn chưa kịp đặt xuống, giáng mạnh đuôi cán gỗ xuống mặt bàn nguội phát ra một tiếng “rầm” chấn động. Tiếng động chát chúa làm hai người đàn bà đang đi ngoài đường giật thót mình, sững sờ dừng bước. Thái đứng sừng sững ngay trước cổng xưởng như một bức tường thành bằng đồng hun, ánh mắt anh quắc lên lạnh như băng thép nung dập nguội, nhìn xoáy thẳng vào mặt hai người phụ nữ nhiều chuyện: “Hai thím đi chợ mua cá mua mắm thì đi cho lẹ nước, hổng mua đồ cơ khí thì đừng có đứng trước cửa xưởng tui mà xát muối vô lòng người khác! Cù lao này đất rộng sông dài, hổng thiếu chỗ cho người có ăn học đàng hoàng người ta mần ăn chân chính đâu. Đừng có đứng đó mà khẩu nghiệp, tội con người ta!” Giọng Thái không gầm thét, nhưng đanh thép, trầm vang và đầy uy lực khiến hai bà thím mặt cắt không còn hột máu. Họ lúng búng trong miệng vài câu chữa thẹn rồi lật đật kéo nhau rảo bước đi thật nhanh về phía dốc cầu, không dám ngoái đầu nhìn lại lấy một lần. Thái hít sâu một hơi, cố đè nén cơn giận trong lồng ngực. Anh quay lưng lại, bước từng bước chậm rãi trở vào trong xưởng. Nhìn thấy Tú vẫn ngồi bất động bên bàn trà, đôi vai gầy khẽ run rẩy, hai bàn tay siết chặt lấy gấu áo bà ba đến mức trắng bệch, lòng anh thắt lại một nỗi xót xa vô hạn. Thái bước đến trước mặt Tú. Anh ngồi thụp một chân xuống đất để tầm mắt mình ngang bằng với ánh mắt đang nhìn xuống của cô gái nhỏ. Anh vươn đôi bàn tay thô ráp, cẩn thận cầm lấy chiếc kìm cắt cành sáng loáng vừa được mài giũa tỉ mỉ, đặt dứt khoát vào lòng bàn tay mềm mại nhưng đã bắt đầu xuất hiện những vết chai nhỏ của Tú. Bàn tay anh bao bọc lấy những ngón tay cô, siết nhẹ một cái như truyền đi ngọn lửa ấm áp và niềm tin son sắt từ đáy lòng mình. “Tú, ngước mặt lên nhìn tui nè.” Giọng Thái trầm xuống, dịu dàng nhưng kiên định như ngọn núi lớn giữa dòng phù sa cuộn sóng: “Kìm bén rồi nè Tú. Muốn cho cây đâm chồi mới, thì cành nào sâu mọt, cành nào khô chết mình phải dứt khoát đưa lưỡi kìm vô bấm bỏ, đừng có tiếc nuối làm chi. Lời người ta nói cũng y như mấy cái cành gai cành mục đó, em để trong lòng chỉ tổ làm rách da rách thịt mình thôi. Cứ cầm chắc cái kìm này, bước ra vườn mà tỉa sạch tụi nó đi.” Tú ngước mắt lên. Bắt gặp ánh mắt thâm trầm, sáng ngời niềm tin và sự chở che vững chãi của Thái, những giọt nước mắt yếu mềm trong cô bỗng chốc bốc hơi sạch sẽ dưới ngọn lửa ấm áp ấy. Bàn tay cô siết chặt lấy chuôi kìm thép mát lạnh, cảm nhận từng đường gân, thớ thép sắc bén đang nằm gọn trong tầm kiểm soát của mình. Đúng vậy. Cô là thủ khoa nông học, cô mang trong mình tri thức khoa học và tình yêu máu thịt với mảnh đất cù lao này. Cô không việc gì phải cúi đầu trước những lời dèm pha độc địa! Cành sâu phải cắt, đất độc phải giải, và mảnh vườn của cha cô nhất định sẽ phải trổ hoa đơm trái một lần nữa trên chính mảnh đất này. “Em cảm ơn anh Thái,” Tú cất tiếng, giọng cô trong trẻo nhưng đanh thép, vang vọng trong gian xưởng rèn nồng đượm mùi lửa than. “Em về vườn đây. Chiều nay, em sẽ bắt đầu nhát cắt đầu tiên!” , , vn, live , vn

Bạn cũng là tác giả hoặc dịch giả?

Đăng sáng tác hoặc bản dịch của riêng bạn lên Say Truyện — miễn phí, chỉ mất vài phút.

Đăng truyện ngay

Bình luận (0)

Đang tải bình luận...