Người Gác Hải Đăng Cuối Cùng

Chương3: Hải đồ vẽ tay

Cỡ chữ
Ngón tay Thảo miết chậm rãi qua lề dưới bức ảnh, nơi dòng mực tím của hai mươi năm trước đã ngả sang sắc bầm tím thẫm như vết máu đọng dưới da thịt. “Nợ Khiêm một mạng. Đèn tắt, hồn rạn, người tan.” Căn phòng tầng bốn của tháp đèn chìm trong một thứ tĩnh lặng rợn ngợp, chỉ còn tiếng bấc đèn bão cháy tí tách nghe như tiếng kim đồng hồ điểm từng nhịp khô khốc. Gió ngoài khơi đập vào vách đá hoa cương dày cả mét, tạo thành những luồng xung lực trầm đục dội thẳng vào lồng ngực Thảo. Cô khẽ gập ngón tay, cảm nhận góc cạnh lạnh ngắt của bức ảnh ố vàng và chiếc la bàn trong túi áo ngực đang ghì chặt vào xương sườn mình. Hai mươi năm. Hai mươi năm ròng rã mẹ con cô sống trong sự mỏi mòn của những bản kết luận điều tra hành chính: Tàu vận tải Thuận Phong 04 mất tích trong bão, toàn bộ thuyền viên mất tích, không tìm thấy thi thể. Nhưng người đàn ông trong tấm ảnh này — người đồng đội có đôi mắt rụt rè tựa vai cha cô trên boong tàu năm ấy — vẫn sống. Lão sống lầm lũi trên mỏm đá trơ trọi này suốt hai thập kỷ, tự giam mình trong ngọn tháp để gặm nhấm nỗi đọa đày của một kẻ sống sót. Thảo hít một hơi dài, mùi ẩm mốc của giấy cũ và mùi tanh nồng của muối biển xộc thẳng vào cuống họng. Bản năng và kỷ luật của một kỹ sư không cho phép cô gục ngã trong những cơn bàng hoàng vô định. Bằng đôi tay còn vương chút run rẩy, cô cẩn thận đặt bức ảnh xuống góc bàn gỗ lim, lật giở từng trang của cuốn sổ nhật ký bọc vải dầu. Những dòng ghi chép của Tư Ngạn không hề là những lời mê sảng của một kẻ loạn trí. Chúng dày đặc những con số, góc phương vị và thông số kỹ thuật chuẩn xác đến mức kinh ngạc. Từng góc quét, từng độ mở của màn chắn quang học, từng tỉ lệ pha chế dầu hỏa với cồn biến tính đều được ghi chép tỉ mẩn theo chu kỳ từng tháng, chuẩn xác đến từng độ phút của la bàn hàng hải. Thảo cầm ngọn đèn bão, bước nhanh sang mảng tường đối diện góc bàn làm việc. Ghim chặt trên phiến đá granite xám xịt là một tấm hải đồ vẽ tay khổ lớn, viền mép bọc băng keo vải đã ố vàng, loang lổ những vệt nấm mốc hoa cau. Tấm bản đồ không vẽ theo quy chuẩn hải đồ thủy đạc hiện đại của Cục Hàng hải, mà được phác bằng mực tàu pha mật mía trên nền giấy xi măng dày dặn. Từng đường đồng mức độ sâu quanh đảo Hòn Gạc hiện lên sắc nét, chằng chịt những ký hiệu chữ thập đỏ và các vệt mực gạch chéo biểu thị những dải đá san hô ngầm hiểm trở. Ánh mắt Thảo dừng lại ở một rẻ quạt khổng lồ được kẻ bằng bút chì đỏ, xuất phát từ tâm tháp đèn Hòn Gạc và quét chếch về hướng 45 độ Đông Bắc — thẳng tắp ra rạn Quỷ Môn. Cô mở tập hồ sơ kỹ thuật mang theo từ đất liền, đối chiếu từng góc quét quang học mà Tư Ngạn ghi lại trong đêm ba mươi âm lịch suốt hai mươi năm qua: Độ cao buồng đèn: 35 mét so với mực nước biển trung bình. Tiêu cự thấu kính Fresnel: 920 milimét. Tốc độ quay: 1 vòng mỗi 12 giây, ghìm chốt hãm tại góc 45 độ trong đúng 3 giây. Nhiên liệu đốt: Dầu hỏa tinh lọc pha 15% cồn biến tính nguyên chất. Đầu óc Thảo xoay chuyển nhanh như các bánh răng cơ khí. Cô là dân chuyên ngành máy móc và thiết bị quang học hàng hải, từng bảo vệ xuất sắc đồ án tốt nghiệp về hiện tượng vi khúc xạ ánh sáng trên mặt biển nhiệt đới. Bức màn ma mị bao phủ lấy ngọn tháp suốt bao năm bỗng chốc được bóc trần từng lớp dưới ánh sáng rực rỡ của các quy luật vật lý. Rạn Quỷ Môn là một vùng trũng hải lưu đặc thù, nơi gặp nhau giữa dòng hải lưu lạnh từ phía bắc đổ xuống và dòng nước ấm ven bờ vịnh Dung Quất trôi ngược ra. Vào những đêm trăng non cuối thu, khi áp thấp nhiệt đới hình thành ngoài biển Đông, một tầng nghịch nhiệt cực mạnh sẽ xuất hiện ngay sát mặt biển: lớp không khí ẩm lạnh sát mặt nước bị kẹp chặt dưới một tầng khí nóng khô bên trên. Dầu hỏa pha cồn của lão Tư khi cháy sẽ tạo ra ngọn lửa vàng có nhiệt độ cao hơn bình thường, phát ra quang phổ bước sóng dài có khả năng xuyên thấu sương muối cực tốt. Khi cụm thấu kính Fresnel khổng lồ xoay đến góc 45 độ và bị c**ng b*c ghìm lại bằng chốt hãm thủ công, chùm tia sáng hội tụ cực mạnh quét sượt qua mép rạn Quỷ Môn. Vào thời điểm triều kiệt kiệt cùng của đêm ba mươi, phần sống tàu và những thanh xương sắt hoen rỉ của xác tàu Thuận Phong 04 sẽ nhô lên khỏi ngọn sóng ngầm. Khi chùm sáng hội tụ rọi trúng vào phần khung xác nhô lên ấy, các tia phản xạ đi qua các tầng nghịch nhiệt dày đặc hơi muối bị bẻ cong liên tục, phóng đại kích thước rồi chiếu ngược lên màn sương mù mịt ngoài khơi xa. Đó chính là hiện tượng ảo ảnh Fata Morgana biển đảo! Một ảo ảnh quang học phức hợp, phóng đại và tái tạo hình ảnh của một xác tàu chìm dưới đáy biển lên tầng không khí lơ lửng, tạo cảm giác như một con tàu ma nguyên vẹn đang lướt đi trên đầu ngọn sóng mà không để lại vết rẽ nước. Lão Tư Ngạn không hề thắp đèn cho người sống. Lão dùng chính ngọn hải đăng của nhà nước, dùng toàn bộ kỹ thuật tinh vi của bộ thấu kính thời Pháp để dựng nên một bức màn hoài niệm khổng lồ, trò chuyện với linh hồn của con tàu chìm hai mươi năm trước. “Tại sao lại là đêm ba mươi?” Thảo lẩm bẩm, ngón tay run rẩy gõ nhẹ lên góc hải đồ. “Bởi vì đêm ba mươi không có ánh trăng làm nhiễu loạn quang phổ... và đêm ba mươi năm ấy, tàu Thuận Phong 04 đã chìm.” Một tiếng nổ máy trầm đục, rời rạc bất ngờ vang lên từ ngoài vụng biển. Phành... phành... phạch! Tiếng máy nổ đuôi tôm cũ kỹ, thô bạo xé toạc màn mưa gió đang rít gào quanh tháp đèn. Thảo giật mình, quay phắt ra phía cửa sổ hướng về vũng biển phía nam. Giữa những đợt sóng bạc đầu đang chồm lên như những bờ tường bọt nước trắng xóa, một chiếc thuyền gỗ nan gắn máy đuôi tôm đang dập dềnh như chiếc lá khô, chật vật lách qua khe đá dẫn vào âu thuyền tự nhiên của Hòn Gạc. Chú Sáu Rạn! Thảo vơ vội chiếc áo mưa dã chiến, kẹp chặt cuốn sổ và chiếc đèn bão vào nách rồi lao xuống cầu thang xoắn ốc. Một trăm hai mươi bậc gang rung lên bần bật dưới từng bước chân gấp gáp của cô. Tiếng gió bão lùa qua các lỗ châu mai tạo thành những âm thanh gầm rú như tiếng kèn đồng bi ai của biển cả. Mỗi bậc thang sắt rỉ sét đều run rẩy theo từng nhịp sóng vỗ ầm ầm vào chân bệ đá. Khi Thảo đẩy được cánh cửa sắt nặng trịch ở chân tháp ra ngoài, gió muối quất rát bỏng vào mặt cô. Thềm đá hoa cương trơn trượt như bôi mỡ. Phía dưới bờ vụng, chiếc thuyền gỗ của chú Sáu đang bị những con sóng cao hơn hai mét nhồi lên dập xuống, đập mạng sườn ken két vào gờ đá lởm chởm. “Con nhỏ kia! Đứng yên đó, đừng có nhào xuống rớt bể gáo nghen con!” Tiếng chú Sáu Rạn gầm lên qua bão gió, khàn đặc và ồm ồm. Chú mặc bộ áo tơi lá cồng kềnh, hàm râu kẽm ướt đẫm bọt sóng, hai tay ghì chặt cần lái máy nổ, dùng hết sức bình sinh gí mũi thuyền vào một khe đá có bọc lốp xe cũ. Thảo không nghe, cô khom người, bám chặt vào sợi xích sắt neo đường công vụ, trượt dần xuống mép sóng. Gió tạt nước biển vào khóe mắt xót buốt, nhưng đôi chân cô vẫn bám chặt từng khe nứt trên thềm đá. “Chú Sáu! Sao chú quay lại? Đài báo bão cấp mười rồi, chú điên rồi sao chú Sáu!” “Điên cái đầu mi!” Chú Sáu quăng một sợi dây thừng to bằng cổ tay lên bờ đá, hét lớn: “Tròng vô cái cọc bích đằng kia mau! Nhanh cái tay, sóng nó bẻ lái chừ!” Thảo lao tới, đón lấy đầu dây thừng ướt sũng, vòng ba vòng qua chiếc cọc sắt cắm sâu vào vỉa đá granite rồi gài nút khóa chéo. Chiếc thuyền tạm thời được ghìm lại, nhưng đuôi thuyền vẫn văng qua văng lại dữ dội theo từng con triều rút. Chú Sáu lồm cồm bò lên mũi thuyền, vác theo một can nhựa màu xanh loại ba mươi lít và một bao tải dứa buộc chặt miệng. Chú canh con sóng vừa đội thuyền lên cao thì phóng người nhảy phốc lên thềm đá, suýt ngã sấp mặt nếu Thảo không kịp đưa cả hai tay ra đỡ lấy bờ vai lực lưỡng của chú. Can dầu rơi xuống đá kêu bịch một tiếng nặng trịch. Mùi dầu hỏa tinh lọc nguyên chất nồng nặc bốc lên, át cả vị tanh nồng của rong rêu rạn đá. “Dầu hỏa... với bao gạo sấy,” chú Sáu thở hổn hển, quẹt ngang dòng nước mặn đang chảy ròng ròng trên mặt, hàm răng ám khói thuốc lào lập cập va vào nhau vì lạnh. “Lão Tư... lão dặn tui từ tuần trước, sống chết chi trước ngày ba mươi cũng phải chở mẻ dầu ni ra cho lão. Tui ngó chừng trời sụp sớm quá, sợ lão chết đói chết khát ngoài ni...” Chú Sáu dáo dác nhìn quanh quất, giọng chùng xuống: “Ủa, mà lão Tư mô rồi? Răng có mình mi ướt như chuột lột ở đây?” Thảo đứng chắn trước luồng gió, nhìn xoáy vào đôi mắt vằn đỏ vì thiếu ngủ và nước mặn của người ngư dân già. “Lão trốn rồi,” Thảo nói, giọng cô lạnh tanh nhưng đanh lại trong tiếng gió rít. “Lão đang trốn ở mấy hốc đá dưới rạn kia kìa. Chú Sáu, chú biết hết mọi chuyện đúng không? Chú biết chiếc can dầu này dùng để làm gì. Và chú biết... tàu Thuận Phong 04.” Khuôn mặt sạm đen vì nắng gió của chú Sáu Rạn bỗng chốc cứng đờ. Đôi con ngươi đảo liên tục, né tránh ánh nhìn sắc như dao cạo của cô kỹ sư trẻ. Chú lùi lại nửa bước, bàn tay thô ráp vô thức nắm chặt lấy quai can dầu. “Mi... mi nói cái giống chi rứa? Tàu bè chi ở đây...” “Cha cháu là Nguyễn Văn Khiêm!” Thảo hét lên, âm thanh xé toạc màn mưa phùn mịt mùng. Cô rút chiếc la bàn bằng đồng thau từ trong ngực áo ra, giơ thẳng trước mặt chú Sáu. “Thuyền trưởng Khiêm! Đây là la bàn của ông ấy! Chú nhìn đi! Ông Tư Ngạn là thủy thủ phó trên con tàu đó! Hai mươi năm trước, đêm ba mươi tháng bảy năm 1978, chuyện gì đã xảy ra ngoài rạn Quỷ Môn?” Chú Sáu nhìn chòng chọc vào chiếc la bàn hàng hải cũ kỹ, nơi mặt kính đã rạn và kim chỉ hướng đang run rẩy chỉ về hướng đông bắc. Đôi vai vạm vỡ của người đàn ông miền biển bỗng chùng xuống, như thể một tảng đá ngàn cân vừa đè sập lên tấm lưng áo tơi tả tơi của chú. Chú ngồi thụp xuống mép đá, bất chấp sóng biển thỉnh thoảng lại chồm lên phủ ướt nửa th*n d***. “Trời đất quỷ thần ơi...” Tiếng than của chú Sáu nghẹn lại giữa cuống họng, vỡ vụn ra theo từng tiếng nấc. “Mi là... con gái thằng Khiêm thiệt hả mi? Con Thảo... con nhỏ bảy tuổi hồi đó hay ngồi trên cầu cảng Sa Huỳnh đợi ba về đó hả?”“Nói cho cháu biết đi!” Mắt Thảo đỏ hoe, nước mưa chảy tràn vào khóe môi mặn chát. “Tại sao chỉ có một mình ông Tư sống sót? Tại sao bức ảnh lại ghi ‘Nợ Khiêm một mạng’? Tại sao ông ấy phải thắp mẻ dầu này suốt hai mươi năm qua?” Chú Sáu ngửa mặt lên nhìn ngọn tháp đá cao vút đang ẩn hiện trong màn sương mù xám đục, hai bàn tay vò nát vạt áo tơi. Những nếp nhăn sâu hoắm trên gò má chú run lên bần bật theo từng cơn gió giật. “Oan nghiệt lắm con ơi... biển dã ngàn đời nó độc địa khôn lường!” Chú Sáu run rẩy rút trong túi áo ra một bao thuốc lá ướt sũng, vứt toẹt xuống chân rồi nói dồn dập, giọng đặc sệt phương ngữ ven biển Sa Huỳnh: “Năm nớ, tàu Thuận Phong chở gạo cứu đói từ trong nam ra bắc, gặp bão lớn gãy bánh lái, trôi dạt vô rạn Quỷ Môn. Đá ngầm rạch toang cái đáy tàu như rạch bụng con cá trích. Nước tràn vô buồng máy như thác đổ.” Chú Sáu ngừng lại, đưa mu bàn tay quệt nước mắt hòa lẫn nước biển: “Lúc nớ trên tàu chỉ còn một cái phao bè cứu sinh lành lặn nhất. Thằng Tư Ngạn bị thanh xà gãy đè dập nát cái chân phải, nằm kêu la thảm thiết dưới sàn boong. Thằng Khiêm... ba mi đó, ổng vác thằng Tư lên, dùng dây trói chặt thằng Tư vô cái phao bè độc nhất nớ. Thằng Tư khóc lóc, nó van xin thằng Khiêm cùng nhảy xuống. Nhưng buồng máy kẹt cứng rồi, chân thằng Khiêm bị kẹt vô bánh đà cơ khí khi ổng cố tắt van hơi để tàu không nổ tung. Ổng hét vô mặt thằng Tư: ‘Mày phải sống! Về Hòn Gạc, xin làm chân gác đèn cho tao! Giữ ngọn đèn này quay, giữ cho cái luồng biển này sáng, đừng để tàu nào chết trôi vô cái rạn ch* đ* ni nữa!’ .” Gió bão như ngừng lại trong một khoảnh khắc ngột ngạt đến tột cùng. Trái tim Thảo thắt lại, đau nhói như bị ai bóp nghẹn. Từng câu từng chữ của chú Sáu như những mũi khoan cắm sâu vào tâm can cô. “Rồi răng nữa chú?” Thảo nghe giọng mình run rẩy như sắp vỡ. “Thằng Khiêm đạp cái phao bè ra biển,” chú Sáu nấc lên từng chặp, ngực phập phồng nghẹn ngào. “Sóng cuốn thằng Tư dạt vô bờ cát Sa Huỳnh sáng hôm sau. Mười hai anh em còn lại... chìm nghỉm dưới đáy rạn Quỷ Môn, trọi lỉa không còn một xác nào trôi vô bờ hết! Thằng Tư sống sót, nhưng cái hồn nó chết ngắc ở rạn đá đêm đó rồi con ơi. Nó ra đảo ni hai mươi năm, cạy cục xin bằng được chân gác đèn. Nó không chịu lấy vợ, không chịu vô bờ. Nó bảo mạng nó là do thằng Khiêm đổi bằng cả xương máu, ngọn hải đăng ni mà tắt lửa, thì mười hai oan hồn dưới rạn Quỷ Môn sẽ lạnh lẽo, sẽ vĩnh viễn không tìm được đường về quê mẹ...” ẦM! Một tiếng nổ rền vang lên từ phía cửa vụng cắt ngang lời kể của chú Sáu. Từ ngoài khơi xa, một con sóng lừng khổng lồ đen ngòm như bức tường thành đổ sụp, cuốn phăng tất cả những gì ngáng đường nó tiến vào âu thuyền. Nước biển đội chiếc thuyền gỗ của chú Sáu lên cao ngang mặt thềm đá rồi quật mạnh xuống rạn đá ngầm. Rắc! Phựt! Sợi dây thừng to bản tròng quanh cọc bích căng ra hết cỡ, phát ra tiếng rít ghê rợn rồi đứt phựt như một sợi chỉ mục. “Thuyền của tui!” Chú Sáu thảng thốt gầm lên, không màng hiểm nguy lao bổ xuống mép đá để chộp lấy đầu dây neo. “Chú Sáu! Nguy hiểm, lùi lại!” Thảo hét lên kinh hoàng, chộp lấy vạt áo tơi của chú nhưng nước biển tràn lên trơn tuột khiến bàn tay cô vuột mất. Chú Sáu vừa nhoài người tới mép nước ghìm mũi thuyền thì một đợt sóng lừng thứ hai, dữ tợn và cuồn cuộn bọt trắng, ập thẳng vào vụng đá. Cú va đập kinh thiên động địa bẻ gãy gập bánh lái, giật phăng cả chiếc thuyền gỗ lẫn thân hình vạm vỡ của chú Sáu ra giữa luồng nước xoáy. Con thuyền bị lật nghiêng sang một bên, nước biển tràn vào khoang ầm ầm. “Chú Sáu!” Thảo gào thét trong tuyệt vọng, toan lao mình xuống bậc đá ngập nước. “Đứng yên đó! Đừng có xuống!” Tiếng chú Sáu vang lên giữa ngọn sóng cuồn cuộn. Là một lão ngư dạn dày sóng gió trọn đời ăn ngủ với biển khơi, chú lập tức nhận ra con thuyền đã vô phương cứu vãn giữa âu đá hẹp. Thay vì vùng vẫy chống lại dòng nước xoáy tử thần, chú nhanh như cắt túm lấy chiếc phao tròn cứu sinh cột chặt nơi mũi thuyền, dùng một tay ghìm chặt thân thuyền nan đang lật úp, nương theo dòng chảy xiết của luồng hải lưu đang cuộn tròn vòng qua mũi nam hòn đảo. “Bão vô sớm rồi, đây là sóng lừng của mắt bão!” Chú Sáu hét lớn qua màn mưa trắng xóa, giọng ngắt quãng theo từng nhịp sóng đội: “Tui nương dòng dạt về bãi cát mé Tây... bãi cát mé Tây sóng êm hơn, tui vô đó tấp vô bờ được! Mi lên tháp mau! Khóa chặt cửa tháp lại!” “Chú Sáu ơi!” Thảo quỳ sụp trên thềm đá, hai bàn tay cào rách da trên mặt đá hoa cương, ánh mắt gắt gao dõi theo người ngư dân già đang nhấp nhô giữa muôn trùng bọt nước. “Lên tháp đi con!” Tiếng gầm của chú Sáu vọng lại qua bức tường mưa gió mịt mùng, tiếng thét mang trọn vẹn sự can trường và tình thương của người đi biển: “Giữ lấy ngọn đèn! Đừng để nó tắt... Cứu thằng Tư... nó muốn chết ngoài rạn đó... Nhớ nghen con!” Bóng chú Sáu bám chặt vào mạn thuyền nương dòng chảy dạt nhanh về phía eo biển phía tây, rồi khuất hẳn sau màn mưa xám xịt của cơn dông biển Đông. Thảo đứng trơ trọi trên thềm đá hoang vu. Bão biển Đông đã chính thức ập xuống Hòn Gạc sớm hơn dự báo gần nửa ngày. Bầu trời sụp xuống tối tăm mù mịt như một hũ mực khổng lồ bị lật úp. Từng cơn gió giật cấp mười một, cấp mười hai rít lên qua khe đá nhọn hoắt, bẻ gãy gập những bụi xương rồng dại và cuốn phăng những mảng muống biển tím ngắt xuống vực sâu. Thảo nghiến chặt răng, nuốt ngược nước mắt vào trong. Sự cứng cỏi của một đứa con vùng biển và bản lĩnh của người kỹ sư cơ khí hàng hải bùng cháy trong huyết quản. Cô cúi rạp người xuống trước cơn gió bão cuồng loạn, dùng hai tay nhấc bổng can dầu ba mươi lít đặt lên vai, tay còn lại xốc chặt bao tải dứa chứa gạo sấy khô. Từng bước, từng bước một, đôi ủng cao su của Thảo bấm chặt vào những gờ đá trơn trượt đầy rêu nhớt. Nước biển tràn qua mắt cá chân, chực chờ kéo giật cô xuống đáy vực sâu đen ngòm, nhưng cô vẫn nghiến răng bước tới, che chắn can dầu hỏa tinh chế quý giá bằng chính thân mình. Vào được bên trong chân tháp, Thảo dùng toàn bộ sức nặng cơ thể đẩy cánh cửa sắt dày cộp lại, cài then đồng thau kiên cố. Tiếng gió gầm gào ngoài kia lập tức bị ngăn lại sau lớp kim loại dày, chỉ còn lại tiếng rền rĩ trầm đục của khối đá hoa cương ngàn tấn đang rung chuyển dữ dội dưới sức ép của cuồng phong. Thảo tựa lưng vào cánh cửa sắt, trượt dần xuống sàn đá, lồng ngực phập phồng th* d*c. Mùi dầu hỏa, mùi mồ hôi và hơi muối biển quyện vào nhau cay nồng. Bỗng nhiên, từ trên đỉnh tháp cao ba mươi lăm mét truyền xuống một âm thanh rợn tóc gáy. Két... rắc... RẮC! Đó là tiếng kim loại chịu lực quá tải cực hạn bị xé toạc ra. Ngay trên đầu Thảo, trong trục rỗng hun hút của lõi cầu thang xoắn ốc, sợi cáp thép bện chịu tải dùng để treo cụm quả tạ xích điều tốc nặng hơn một tấn của thấu kính Fresnel — quả tạ giữ cho bộ máy quay đều đặn và chuẩn xác suốt nhiều thập niên — bị lực vặn xoắn của cuồng phong giật mạnh đến mức bung từng tao thép rỉ sét. PHỰT! Tiếng cáp thép đứt toác rền vang như một phát súng đại bác nổ giữa không trung. RẦM! Khối kim loại nặng hơn ngàn cân rơi tự do dọc theo trục giếng sâu hun hút của tháp đá, va đập điên cuồng vào các gờ đá hoa cương tạo nên những tràng tia lửa sáng lòa, rồi dập nát xuống đáy giếng với một tiếng chấn động kinh hoàng làm rung chuyển toàn bộ nền móng ngọn tháp cổ. Và rồi, ngay khi bụi đá và tia lửa còn chưa kịp lắng xuống, một thứ âm thanh khác trỗi dậy, dồn dập và hoảng loạn đến nghẹt thở: Keng! Keng! Keng! Keng!... Tiếng chuông đồng cảnh báo cơ học khẩn cấp — thứ chuông báo tử chỉ gióng lên khi thấu kính ngừng xoay và hệ thống truyền động bị phá hủy hoàn toàn — bắt đầu vang vọng liên hồi từ đáy hầm ngầm tăm tối sâu thẳm dưới lòng ngọn tháp. , , vn, live , vn

Bạn cũng là tác giả hoặc dịch giả?

Đăng sáng tác hoặc bản dịch của riêng bạn lên Say Truyện — miễn phí, chỉ mất vài phút.

Đăng truyện ngay

Bình luận (0)

Đang tải bình luận...