Gieo Mầm Linh Thảo Dưới Chân Côn Lôn

Chương7: Phiên Chợ Nhân Gian Ấm Áp

Cỡ chữ
Màn sương sớm bảng lảng bao phủ lấy thung lũng Lạc Hà tựa như một tấm sa mỏng dệt từ hơi nước và linh khí loãng của rặng tuyết sơn. Tiếng gà gáy le te từ phía đầu thôn vọng lại, hòa cùng tiếng dòng suối Lạc Hà róc rách chảy qua những ghềnh đá phủ rêu xanh. Dạ Thanh Sương mở mắt. Hắn ngồi xếp bằng trên tấm phản gỗ đơn sơ kê sát cửa sổ gian chòi tranh. Theo thói quen hơn một trăm năm tu đạo trên đỉnh Hàn Tiêu quanh năm tuyết phủ, việc đầu tiên hắn làm mỗi sớm mai là vận chuyển linh lực tuần hoàn một chu thiên để kiểm tra thương thế. Trong đan điền, hàn độc của con cóc ngàn năm tuy vẫn còn co cụm thành một khối khí đen mờ ám muội bám quanh linh đài, nhưng nhờ những chén canh thảo dược và cháo linh mễ ngũ sắc mấy ngày qua của Vân Triệt, những vết nứt toác trên đạo cơ đã bắt đầu khép miệng, phủ lên một lớp màng sinh khí mỏng manh nhưng dẻo dai. Thần kiếm Vô Trần nằm im lìm trong biển ý thức, lớp xích sắt đen sì phong ấn mũi kiếm dường như cũng bớt đi vài phần buốt giá. Hắn khẽ thở ra một ngụm trọc khí, đưa bàn tay thon dài nhưng chằng chịt vết chai sạn lên nhìn ngắm. Bàn tay từng nắm giữ sinh sát của vạn người, từng một kiếm chém đứt ba ngọn núi băng Côn Lôn, giờ đây lòng bàn tay lại phồng rộp những vết chai mới – vết chai của kẻ cầm cuốc vỡ đất. “A Sương! Dậy chưa? Mau ra phụ một tay, trễ giờ họp chợ mất!” Tiếng gọi trong trẻo, lanh lảnh như tiếng chim sơn ca buổi sớm của Vân Triệt vang lên từ khoảng sân trước, cắt đứt dòng suy tưởng miên man của cựu Kiếm tôn. Thanh Sương khẽ nhíu mày, nhưng khóe môi lại vô thức thả lỏng một độ cong khó nhận ra. Hắn đứng dậy, chỉnh lại vạt áo xám tro thô mộc ngắn cũn cỡn vốn là y phục cũ của Vân Triệt, rồi sải bước dài bước ra khỏi cửa. Trước sân, cảnh tượng bận rộn đập vào mắt hắn khiến không khí buổi sớm bỗng chốc trở nên ấm áp lạ thường. Vân Triệt đang lúi húi bên một chiếc xe cút kít bằng gỗ mun đã cũ kỹ, một bên bánh xe còn hơi xộc xệch được chêm tạm bằng một chiếc nêm tre. Trên xe chất ngay ngắn từng bó thảo dược khô được bọc cẩn thận bằng lá chuối tiêu và buộc lại bằng sợi rơm vàng óng. Mùi hương của dược liệu phơi qua nắng sớm tỏa ra ngào ngạt: mùi the mát dịu nhẹ của Băng Tâm Thảo phơi sương, mùi đắng ngọt thanh tao của rễ Bách Hợp sao vàng, lại thêm mùi thơm nồng nàn, ấm sực của những nhánh Cúc Dại sấy giòn trên bếp trấu. Tất cả hòa quyện vào nhau, tạo thành một luồng sinh khí mộc mạc mà dễ chịu, xua tan hoàn toàn cái lạnh se sắt tràn xuống từ triền núi. “Hôm nay là mùng một đầu tháng.” Vân Triệt vừa thoăn thoắt thắt nút một sợi rơm vừa ngẩng đầu lên cười rạng rỡ, những lọn tóc mai lơ thơ bay trước trán đẫm vài giọt mồ hôi li ti: “Dưới trấn Lạc Hà mở phiên chợ lớn nhất mùa xuân. Chúng ta mang mẻ dược liệu khô đầu tiên này xuống tiệm thuốc Hồi Xuân để đổi lấy chút muối ăn, dầu đèn, sẵn tiện mua ít hạt giống vụ hè. Ngươi đứng ngẩn ra đó làm gì? Mau lại đẩy xe!” Dạ Thanh Sương sững người. Hắn – một đại năng Hóa Thần từng được vạn tiên kính ngưỡng, người chỉ cần cất một bước là đạp mây lướt gió, nay lại phải đi… đẩy xe ba gác phàm trần? “Sao thế? Chê xe nặng à?” Thấy hắn đứng bất động, Vân Triệt liền chớp chớp mắt, nụ cười trên môi mang theo vài phần tinh quái: “Đừng quên giao kèo đấy nhé. Mỗi ngày làm tá điền trừ được năm đồng tiền công cứu mạng. Hôm nay theo ta xuống trấn đẩy xe gánh hàng, ta hào phóng tính cho ngươi gấp đôi, trừ hẳn mười đồng. Có làm không thì bảo?” Nhìn đôi mắt sáng lấp lánh như sương mai và dáng vẻ tính toán rạch ròi đầy sức sống của thiếu niên, sự kiêu hãnh lạnh lùng tích tụ suốt một trăm năm qua của Dạ Thanh Sương bỗng chốc tan biến như bọt nước. Hắn không nói một lời, lặng lẽ bước tới, đặt đôi bàn tay to lớn, khớp xương rõ ràng lên hai tay cầm bằng gỗ mòn nhẵn của chiếc xe cút kít. Hắn khẽ vận một tia kình lực nơi thắt lưng. Chiếc xe kẽo kẹt kêu lên một tiếng giòn tan rồi bon bon lăn bánh về phía cổng rào bện bằng dây leo xanh biếc. Vân Triệt bật cười khanh khách, vỗ vỗ lên vai hắn: “Khá lắm! Đi thôi, tá điền của ta!” * Con đường đất đỏ uốn lượn men theo bờ suối Lạc Hà dẫn từ chân núi xuống thị trấn. Dạ Thanh Sương vừa đẩy xe vừa duy trì một tốc độ đều đặn. Chiếc xe cút kít tuy nặng trĩu những bó dược liệu, nhưng dưới sự khống chế lực đạo tinh chuẩn đến từng phân của một kiếm tu đỉnh phong, bánh xe gỗ lăn qua những ổ gà, sống trâu gập ghềnh một cách êm ru, gần như không phát ra một tiếng va đập mạnh nào. Dọc đường, sương mù tan dần dưới ánh nắng ban mai rực rỡ. Rất nhiều thôn dân Lạc Hà cũng đang gánh gồng, dắt lừa, mang theo nông sản hướng về phía trấn. “Ơ kìa, Tiểu Triệt! Đi chợ phiên đấy à cháu?” Một bà lão lưng còng gánh đôi sọt đầy ắp rau cải xanh mướt cất tiếng chào, nụ cười đôn hậu làm những nếp nhăn trên mặt xô lại như cánh hoa cúc. “Vâng ạ, thím Hai! Cháu đem ít thảo dược khô xuống đổi dầu muối!” Vân Triệt vui vẻ đáp lời, bước chân thoăn thoắt đi bên cạnh xe: “Rau cải nhà thím độ này mơn mởn quá, chắc chắn bán đắt hàng lắm đây!” “Nhờ ơn trời đất mưa thuận gió hòa thôi cháu…” Ánh mắt bà lão chợt dừng lại trên người Dạ Thanh Sương đang lầm lũi đẩy xe bên cạnh. Bà ngạc nhiên chớp mắt: “Vị tráng sĩ tuấn tú này là ai thế? Nhìn lạ mặt quá, chẳng giống người vùng này chút nào.” Dạ Thanh Sương khẽ cứng người. Bàn tay nắm chặt lấy tay cầm xe, trong tiềm thức của một kẻ bị truy sát, hắn theo bản năng muốn phóng thích thần thức để dò xét phòng bị. Nhưng chưa kịp làm gì thì một bàn tay ấm áp đã vỗ nhẹ lên lưng hắn. “Dạ, đây là A Sương, bà con xa của cháu ở mạn bắc dạt về.” Vân Triệt thản nhiên đỡ lời, giọng điệu tự nhiên như nước chảy mây trôi: “Huynh ấy tính tình lầm lì ít nói nhưng khỏe mạnh lắm, đang ở lại phụ cháu mấy sào vườn tổ truyền.” “Ồ, thế thì tốt quá! Thanh niên trai tráng thế này phụ việc đồng áng thì còn gì bằng!” Bà lão cười xòa, từ trong sọt lấy ra hai củ cải trắng nõn nà dúi vào tay Vân Triệt: “Cầm lấy mà luộc ăn trưa nhé, đừng khách khí với thím!” “Cháu cảm ơn thím Hai!” Cảnh tượng ấy cứ lặp đi lặp lại suốt dọc đường. Những người nông dân chân lấm tay bùn, những người thợ săn mang theo vài con gà rừng, ai nấy đi ngang qua đều cất lời chào hỏi Vân Triệt. Họ không có tu vi kinh thiên động địa, họ thậm chí chỉ là những sinh mệnh phàm trần ngắn ngủi với tuổi thọ vài mươi năm, nhưng trong ánh mắt của họ không có sự toan tính, không có sát cơ âm hiểm lẩn khuất dưới nụ cười như những trưởng lão, đồng môn nơi tiên môn Côn Lôn. Dạ Thanh Sương im lặng quan sát tất cả. Một cảm giác kỳ lạ, vừa xa lạ vừa ấm áp, len lỏi vào sâu trong lồng ngực hắn. Hơn một trăm năm qua, thế giới của hắn chỉ có những bức tường băng giá, những buổi bế quan ngột ngạt trong mật thất tối tăm, và những trận chém giết máu chảy thành sông để tranh đoạt một cọng linh thảo hay một mảnh pháp bảo. Chưa từng có ai hỏi hắn mệt hay không, chưa từng có ai mỉm cười tặng hắn một củ cải trắng phàm trần mà chẳng cầu báo đáp. Đi chừng hai canh giờ, thị trấn Lạc Hà hiện ra trước mắt. Đó là một trấn nhỏ sầm uất nằm ngay ngã ba sông, nơi giao thương giữa vùng chân núi Côn Lôn và vùng đồng bằng phì nhiêu phía nam. Ngay từ cổng trấn xây bằng đá xanh thô ráp, không khí huyên náo của phiên chợ mùng một đã ùa tới, tấp nập và rộn rã như một dòng thác nhiệt tình cuộn chảy. Dạ Thanh Sương bước qua cổng trấn, bước chân bất giác chậm lại. Hắn ngơ ngẩn nhìn quanh. Hai bên con đường lát đá rộng thênh thang ken đặc những sạp hàng đủ mọi màu sắc. Tiếng rao hàng lanh lảnh đan xen nhau tạo thành một bản giao hưởng ồn ào nhưng tràn đầy sức sống trần thế: “Vải hoa Giang Nam mới về đây! Vải dày, bền màu, giá rẻ bất ngờ bà con ơi!” “Đồ gốm nung Lạc Hà, chum vại nồi niêu đủ cả đây!” “Thịt heo rừng tươi rói vừa săn sáng nay, mại dô mại dô!” Khói từ những quầy hàng ăn ven đường bốc lên nghi ngút, mang theo đủ loại mùi vị đậm đà k*ch th*ch khứu giác. Nơi này là chảo dầu sôi xèo xèo đang rán những chiếc bánh quẩy vàng ươm giòn rụm; nơi kia là nồi canh thịt bò hầm thảo quả quế hồi đang sôi sùng sục, tỏa hương thơm ngậy cả một góc phố. Lũ trẻ con mặc áo yếm đỏ đuổi nhau chạy vòng quanh các sạp hàng, tiếng cười giòn tan như chuông bạc ngân vang trong nắng sớm. Hơi thở của nhân gian. Nồng nàn, chân thực, sống động đến mức khiến một kẻ đứng trên đỉnh cao cô độc như Dạ Thanh Sương cảm thấy choáng váng. Hắn như một kẻ mù lòa vừa bước ra ánh sáng, vừa khao khát nhìn ngắm lại vừa sợ hãi sự rực rỡ quá đỗi này sẽ làm bỏng rát đôi mắt mình. “Sao thế? Hoa mắt rồi à?” Vân Triệt quay đầu lại, bắt gặp ánh mắt thẫn thờ của hắn liền mỉm cười giải thích: “Ở đây không có linh thạch, không có bảo khí lấp lánh, nhưng có cơm ăn áo mặc, có tiếng cười nói thực lòng. Chốn nhân gian này, đôi khi còn thú vị hơn tiên giới gấp vạn lần đấy.” “Nhân gian…” Dạ Thanh Sương lẩm bẩm hai chữ ấy, trong lòng trào dâng một cảm xúc phức tạp khôn nguôi. “Đi thôi, đến tiệm thuốc trước đã!” Vân Triệt dẫn đường, Thanh Sương đẩy xe theo sau, lách qua dòng người đông đúc để tiến vào một con phố nhỏ yên tĩnh hơn đôi chút, nơi có treo một tấm biển gỗ đề ba chữ lớn sơn son thiếp vàng: “Hồi Xuân Đường”. Chưởng quầy Hồi Xuân Đường là một lão nhân chừng sáu mươi tuổi, râu tóc bạc phơ, đang ngồi bắt mạch cho một người bệnh. Nhìn thấy Vân Triệt đẩy xe bước vào, đôi mắt lão lập tức sáng lên, vội vàng giao bệnh nhân cho đồ đệ rồi bước nhanh ra đón: “Tiểu Triệt đấy à! Mau vào đây! Ta đợi mẻ dược liệu đầu mùa của cháu từ mấy hôm nay rồi đấy!” “Cháu chào Tống chưởng quầy!” Vân Triệt lễ phép chắp tay chào: “Hôm nay cháu mang đến ba mươi bó Băng Tâm Thảo, hai mươi cân rễ Bách Hợp khô và mười bó Cúc Dại sấy trấu. Toàn bộ đều được phơi khô đúng cách, không dính một hạt mưa nào đâu ạ.” Tống chưởng quầy bước tới bên xe, cẩn thận mở một bọc lá chuối, bốc một nhúm Băng Tâm Thảo đưa lên mũi ngửi thật sâu, rồi lại bẻ đôi một nhánh rễ Bách Hợp khô giòn đưa vào miệng nhấm thử. Đôi mày hoa râm của lão khẽ giật giật, trong mắt lóe lên vẻ kinh ngạc không giấu giếm: “Kỳ lạ… thật sự quá kỳ lạ! Dược liệu cháu trồng dưới chân núi Côn Lôn, rõ ràng chỉ là tạp thổ phàm trần, thế nhưng dược tính bên trong sao lại thuần khiết, thanh tịnh đến mức này? Mùi vị không hề vướng một chút tạp chất đắng chát của đất phèn, ngược lại còn phảng phất một luồng mộc khí ôn hòa… Tốt! Rất tốt! Thậm chí còn vượt xa dược liệu mà đám đệ tử ngoại môn của mấy tông môn trên núi mang xuống bán!” Dạ Thanh Sương đứng tựa lưng vào cột gỗ bên ngoài cửa tiệm, nghe thấy những lời ấy thì khóe môi khẽ nhếch lên. Làm sao mà không tốt cho được? Mảnh vườn ba sào ấy ngày ngày được tưới bằng nước suối Lạc Hà có chứa linh khí địa mạch, lại được nguồn sinh khí mộc linh tinh thuần khác lạ cùng thuật gieo trồng tỉ mỉ của Vân Triệt chăm chút từng ngọn cỏ lá cây. Đan dược tông môn tuy nồng độ linh khí cao nhưng bạo liệt và đầy đan độc, làm sao so bì được với sự thuần hậu, an hòa của cây cỏ được nuôi dưỡng bằng đạo tự nhiên này? Sau một hồi tính toán sổ sách, Tống chưởng quầy sảng khoái vỗ bàn: “Tổng cộng tất cả là một lượng bạc vụn và ba trăm đồng tiền đồng! Ta còn thưởng thêm cho cháu năm mươi đồng vì chất lượng dược liệu thượng hạng!” Nói rồi, lão lấy ra một xâu tiền đồng nặng trịch và hai mẩu bạc vụn sáng loáng đặt vào tay Vân Triệt. Cầm số tiền trong tay, đôi mắt Vân Triệt cong cong như vầng trăng khuyết. Chàng cẩn thận cất mẩu bạc vụn vào túi áo trong ngực, rồi đếm ra mười đồng tiền đồng đưa về phía Dạ Thanh Sương: “Này, tiền công của tá điền hôm nay. Nhưng vì ngươi đang nợ ta, nên mười đồng này ta tạm thu giữ, ghi nợ vào sổ trừ đi nhé!” Dạ Thanh Sương nhìn gương mặt đắc ý của thiếu niên, trong lòng dở khóc dở cười. Đường đường là Hàn Tiêu Kiếm Tôn, một cái phất tay từng có thể khiến vạn viên thượng phẩm linh thạch rơi xuống như mưa, nay lại bị một thiếu niên nông phu dùng mười đồng tiền rách trêu chọc đến mức không phản bác được câu nào. Thế nhưng, nhìn thấy niềm vui thuần khiết, rạng ngời trong mắt Vân Triệt khi cầm lấy những đồng tiền mồ hôi nước mắt ấy, Thanh Sương bỗng nhận ra: Niềm vui của sự thu hoạch từ chính sức lao động của mình, hóa ra lại thanh thản và trọn vẹn hơn vạn lần cảm giác đoạt được bảo vật sau những trận huyết chiến tanh hôi. * Rời khỏi Hồi Xuân Đường, chiếc xe cút kít đã nhẹ đi rất nhiều. Vân Triệt mang vẻ mặt tươi tắn kéo Thanh Sương hòa vào dòng người tấp nập của phiên chợ. Họ ghé qua tiệm tạp hóa mua hai bao muối hột lớn, một vò dầu mè thơm lừng và một bọc hạt giống cải cúc, hạt ớt cho vụ sau. Toàn bộ đồ đạc được xếp gọn gàng vào một góc xe. “Đi nào, sang phố vải!” Vân Triệt bỗng nhiên kéo tay áo Thanh Sương, rảo bước về phía dãy hàng bán xiêm y. “Sang đó làm gì?” Thanh Sương ngơ ngác hỏi: “Chúng ta đã mua đủ muối và hạt giống rồi mà?” “Ngươi nhìn lại mình xem!” Vân Triệt dừng bước, chỉ vào bộ y phục trên người Thanh Sương: “Bộ đồ này của ta, ngươi mặc vào ống tay áo ngắn cũn cỡn hở cả cổ tay, gấu quần thì lơ lửng trên mắt cá, nhìn chẳng ra thể thống gì cả. Dù là tá điền của Vân gia ta thì cũng phải ăn mặc cho đàng hoàng, tề chỉnh, kẻo người ngoài nhìn vào lại bảo ta bóc lột, bạc đãi người làm!” Dạ Thanh Sương cúi đầu nhìn lại bản thân. Quả thật, vóc dáng hắn cao lớn, bờ vai rộng và săn chắc hơn Vân Triệt rất nhiều, bộ y phục vải thô màu xám tro vốn vừa vặn với thiếu niên khi khoác lên người hắn lại trở nên chật chội, căng cứng ở nách và ngực. Mấy ngày nay mải lo dưỡng thương và cuốc đất, hắn căn bản chẳng bận tâm đến chuyện áo quần, không ngờ Vân Triệt lại để ý từng chi tiết nhỏ nhặt như vậy. Vân Triệt kéo hắn đến trước một sạp vải lớn. Ánh mắt thiếu niên lướt qua những sấp vải bông, vải thô đủ màu sắc, ngón tay lướt nhẹ trên từng thớ vải để cảm nhận độ mềm mại. “Bộ này thế nào?” Vân Triệt rút ra một bộ trường bào vải thô đã may sẵn màu xanh thẫm, quay lại ướm thử lên người Thanh Sương. Màu xanh thẫm như màu của lá thông ngàn năm trong rừng sâu, trầm tĩnh, sâu lắng, lại không dễ bám bẩn khi làm việc đồng áng. Vân Triệt đứng sát lại gần, hai tay cầm hai mép áo kéo thẳng ra trước ngực hắn. Khoảng cách giữa hai người bỗng chốc thu hẹp lại, gần đến mức Dạ Thanh Sương có thể ngửi thấy mùi hương thảo mộc thanh khiết thoang thoảng nơi mái tóc của thiếu niên, và cả hơi thở ấm áp nhè nhẹ phả vào xương quai xanh của mình. Tim của vị cựu Kiếm tôn bỗng nhiên lỡ mất một nhịp. Hắn cứng đờ người, hơi thở nghẹn lại nơi cổ họng, hai mắt không biết nên nhìn đi đâu, đành ngước lên nhìn trần lán che bằng bạt thô. “Ừm, vừa vặn lắm!” Vân Triệt ngắm nghía một hồi rồi gật đầu hài lòng: “Màu xanh thẫm này rất hợp với khí chất lạnh lùng như tảng băng trôi của ngươi. Mặc vào trông chẳng khác nào một vị thư sinh nhã nhặn, ai mà ngờ được lại là một tên tá điền vụng về bổ gãy cả cán cuốc chứ!” “Ta… ta không cần đâu.” Thanh Sương lấy lại bình tĩnh, trầm giọng nói: “Y phục cũ vẫn mặc tốt. Ngươi giữ lấy bạc vụn mà mua thêm thảo dược.” “Nói nhảm gì thế!” Vân Triệt trừng mắt nhìn hắn, vẻ mặt nghiêm túc nhưng khóe môi lại cong lên: “Chủ điền bảo mặc thì cứ mặc! Bà chủ, lấy bộ này cho cháu!” Thiếu niên dứt khoát móc mẩu bạc vụn vừa kiếm được từ tiệm thuốc đưa cho bà chủ tiệm vải. Nhìn mẩu bạc vụn vơi đi non nửa, trong lòng Dạ Thanh Sương dâng lên một đợt sóng ấm áp cuộn trào. Trong chốn tu chân tàn khốc, một viên linh thạch cũng có thể khiến huynh đệ tương tàn, sư đồ trở mặt. Vậy mà thiếu niên này, chỉ vì một bộ y phục phàm trần cho một kẻ xa lạ mang thân phận tá điền, lại sẵn sàng bỏ ra số bạc mà bản thân phải vất vả phơi thuốc, sao chế suốt cả tháng trời. Sau khi nhận bọc y phục mới, hai người tiếp tục dạo bước qua các con ngõ nhỏ của chợ phiên. “Hồ lô ngào đường đây! Kẹo hồ lô giòn tan ngọt lịm đây!” Tiếng rao lanh lảnh của một ông lão vác trên vai cây cọc rơm cắm đầy những xâu kẹo đỏ rực thu hút sự chú ý của dòng người. Những quả sơn tra tròn trịa, đỏ au được bọc một lớp đường mạch nha trong suốt, lấp lánh dưới ánh nắng ban mai như những viên mã não tuyệt mỹ. Vân Triệt dừng lại, mắt sáng lên như trẻ con: “A Sương, dừng lại một chút!” Thiếu niên chạy tới bên ông lão, rút ra sáu đồng tiền đồng: “Cụ ơi, cho cháu hai xâu kẹo hồ lô!”“Được rồi, của cháu đây! Chọn hai xâu to nhất, mọng nhất nhé!” Ông lão cười tươi, rút hai xâu kẹo đưa cho chàng. Vân Triệt cầm hai xâu kẹo quay lại, chìa một xâu ra trước mặt Dạ Thanh Sương: “Cầm lấy này.” Thanh Sương ngơ ngác nhìn xâu kẹo đỏ rực đang tỏa ra mùi thơm ngọt ngào của đường cháy và vị chua thanh của quả dại. Hắn ngập ngừng: “Cái này… là thứ gì?” Vân Triệt phì cười, đôi mắt mở to ngạc nhiên: “Ngươi sống hơn một trăm năm trên núi Côn Lôn, chẳng lẽ chưa từng ăn kẹo hồ lô bao giờ sao?” Dạ Thanh Sương im lặng, khẽ lắc đầu. Từ năm sáu tuổi được đưa lên tiên môn, cuộc đời hắn chỉ xoay quanh việc ngồi thiền, luyện kiếm, đọc bí kíp và nuốt những viên Bích Cốc Đan nhạt nhẽo vô vị. Sư phụ dạy hắn rằng người tu kiếm phải đoạn tuyệt thất tình lục dục, không được vướng bận vào những thú vui tầm thường của phàm trần, ngũ cốc hoa màu chỉ làm vẩn đục kinh mạch và sinh ra tạp chất. Hắn chưa từng bước chân vào một phiên chợ, chưa từng nếm qua một món ăn vặt của nhân gian, và dĩ nhiên, chưa từng biết mùi vị của một viên kẹo ngọt ngào là như thế nào. Nhìn vẻ mặt mờ mịt, vụng về của hắn, ánh mắt Vân Triệt bỗng dịu lại, thoáng qua nét thương xót. Thiếu niên dịu giọng, nhẹ nhàng dúi xâu kẹo vào tay hắn: “Nếm thử đi. Ăn chút đồ ngọt, lòng dạ sẽ thấy vui vẻ hơn nhiều.” Dạ Thanh Sương nhìn xâu kẹo trong tay, rồi chầm chậm đưa lên miệng. Hắn khẽ cắn một miếng. Rắc. Lớp vỏ đường mạch nha mỏng tang, giòn rụm vỡ tan giữa hai hàm răng. Vị ngọt đậm đà, béo ngậy của đường mạch nha lập tức lan tỏa khắp khoang miệng, ngay sau đó là vị chua thanh, mọng nước của thịt quả sơn tra ùa tới, dung hòa hoàn hảo với vị ngọt gắt ban đầu. Chua chua, ngọt ngọt, giòn giòn, thanh mát. Một mùi vị giản dị, mộc mạc, không hề chứa đựng một tia linh khí nào, nhưng lại bừng nở trên đầu lưỡi như một ngọn lửa nhỏ ấm áp. Vị ngọt ấy dường như men theo thực quản, chảy thẳng vào lồng ngực, thẩm thấu qua những vết thương chằng chịt trong linh hồn hắn, xua tan đi cái lạnh lẽo ngàn năm của băng tuyết Côn Lôn và vị đắng chát của máu tươi trong những trận chiến sinh tử. Dạ Thanh Sương sững sờ. Đôi mắt phượng sâu thẳm vốn luôn phẳng lặng như mặt hồ đóng băng bỗng nhiên khẽ run lên. Một cảm giác xúc động mãnh liệt, vừa ấm áp vừa cay cay nơi khóe mắt, trào dâng khiến sống mũi hắn cay xè. Hắn vội vàng cúi đầu cắn thêm một miếng nữa để che giấu sự thất thố của mình. “Thế nào? Ngon không?” Vân Triệt vừa nhai kẹo phồng cả má vừa nghiêng đầu hỏi, nụ cười rạng rỡ như ánh mặt trời mùa xuân. “Ngon.” Thanh Sương khẽ đáp, thanh âm trầm thấp có chút khàn đặc: “Rất… ngọt.” “Ngọt là đúng rồi!” Vân Triệt cười khúc khích: “Lần sau có dịp, ta sẽ làm mứt táo và bánh hoa quế cho ngươi ăn. Đảm bảo còn ngon hơn kẹo hồ lô này nhiều!” Dạ Thanh Sương ngẩng đầu nhìn thiếu niên đang bước đi phía trước, tà áo nâu nhạt bay nhẹ trong gió, trong tay cầm xâu kẹo đỏ rực. Trong khoảnh khắc ấy, hắn bỗng hiểu ra vì sao có những tu sĩ đại năng thà từ bỏ đạo quả trường sinh để chuyển thế làm người phàm. Đỉnh cao vô thượng cô độc và lạnh lẽo biết bao, làm sao ấm áp bằng một xâu kẹo hồ lô giữa chốn nhân gian này? * Đi đến trưa, bụng cả hai bắt đầu réo rắt. Vân Triệt dẫn Thanh Sương ghé vào một quán trà ven đường dựng dưới bóng mát của một cây đa cổ thụ râm mát ngay ngã tư chợ. Quán trà bày biện đơn sơ với vài bộ bàn ghế tre mộc mạc. Trên bếp lò đắp bằng đất sét, một chiếc ấm đồng lớn đang sôi ùng ục, tỏa ra hương trà xanh nồng đượm. “Chủ quán, cho hai bát trà thô và bốn chiếc bánh bao thịt nóng!” Vân Triệt gọi lớn rồi kéo Thanh Sương ngồi xuống một chiếc ghế dài bằng tre. Chỉ lát sau, một đĩa bánh bao trắng phau, bốc khói nghi ngút và hai bát nước chè xanh sóng sánh đã được bưng lên. Chiếc bánh bao to bằng nắm tay, lớp vỏ bột mềm xốp, bên trong nhồi đầy thịt băm ướp hành hoa, mộc nhĩ và hạt tiêu cay nồng. Vừa cắn một miếng, nước thịt béo ngậy tứa ra ngập chân răng, thơm lừng quyến rũ. Thanh Sương ăn từng miếng nhỏ, vừa ăn vừa nhấp ngụm nước trà xanh chát nhẹ nhưng ngọt hậu. Hắn cảm nhận được cơ thể mình đang hấp thu từng chút sinh khí ấm áp từ những món ăn bình dị này, từng đường kinh mạch khô cằn dường như cũng đang reo vui. “Ha ha ha! Lão tử đã bảo là nhìn bóng lưng quen lắm mà, quả nhiên là hai đứa chúng mày!” Một tiếng cười sang sảng như sấm rền bỗng vang lên từ phía sau. Một bóng người vạm vỡ, cao lớn như gấu rừng sải bước tiến vào quán trà. Đó là Lão Trương – Trương Thiết Đầu, người thợ rèn kiêm trưởng thôn Lạc Hà. Lão Trương c** tr*n một bên vai, để lộ làn da màu đồng hun cuồn cuộn cơ bắp, râu tóc hung hung đỏ, trên người còn nồng nặc mùi than củi và khói sắt nung. “Trương đại thúc!” Vân Triệt reo lên, vội đứng dậy chắp tay: “Thúc cũng xuống trấn họp chợ ạ?” “Ừ, tao đem mớ dao rựa với lưỡi liềm xuống giao cho mấy phường buôn!” Lão Trương đặt mạnh một bọc vải thô nặng trịch lên bàn tre khiến chiếc bàn rung lên bần bật. Lão kéo ghế ngồi phịch xuống bên cạnh, đưa tay vỗ mạnh một cái vào bả vai Dạ Thanh Sương: “Thằng ranh con A Sương này, hôm nay nhìn bảnh bao ra phết nhỉ!” Bàn tay thô ráp đầy vết sẹo bỏng của người thợ rèn đập xuống vai Thanh Sương với một lực không hề nhỏ. Theo phản xạ của một kiếm khách, cơ bắp toàn thân Thanh Sương lập tức căng cứng, kiếm khí tàn dư trong đan điền chực bùng phát để hất văng đối phương. Nhưng nhận ra đây chỉ là sự hào sảng mộc mạc của lão Trương, hắn liền cắn răng kìm nén bản năng sát phạt, bình thản đón nhận cái vỗ vai như trời giáng ấy mà không hề nhúc nhích nửa phân. Lão Trương thấy hắn ngồi vững như bàn thạch thì hai mắt sáng rực lên, gật gù khen ngợi: “Khá lắm! Thân thủ vững vàng, khí tức trầm ổn! Tiểu Triệt nhặt được một tên tá điền đáng đồng tiền bát gạo đấy!” Nói rồi, lão Trương đưa tay mở bọc vải thô trên bàn ra. Bên trong lớp vải bố dơ dáy lộ ra một vật thể bằng kim loại đen nhánh, tỏa ra một luồng hàn quang sắc lạnh và nặng trĩu. Đó là một chiếc lưỡi cuốc. Nhưng chiếc lưỡi cuốc này hoàn toàn khác biệt với những chiếc cuốc sắt thông thường. Bản cuốc dày dặn, sống cuốc uốn cong một đường hoàn mỹ tạo góc độ bẩy đất tối ưu, lưỡi cuốc mỏng tang nhưng sắc bén phi thường, trên bề mặt màu đen tuyền còn ẩn hiện những đường vân xoắn tựa như mây cuộn, phát ra một luồng linh khí kim thuộc ẩn giấu vô cùng sắc bén. Dạ Thanh Sương nhìn chăm chú vào chiếc lưỡi cuốc, mắt khẽ co rút: “Huyền thiết?” “Ha ha, tinh mắt đấy nhãi con!” Lão Trương cười khà khà, vẻ mặt đầy đắc ý: “Mấy hôm trước mày làm gãy chiếc cuốc sắt gia truyền của thằng Triệt, tao thấy mày có chút kình lực cổ quái, sắt thường căn bản không chịu nổi sức mày. Sẵn tiện trong xưởng rèn của tao còn sót lại mấy mảnh huyền thiết phế liệu từ hồi trước, tao gom lại, nấu chảy trong lò than đá ba ngày ba đêm, đập rèn ròng rã cả trăm búa mới tạo ra được cái lưỡi cuốc này đấy!” Lão đẩy chiếc lưỡi cuốc về phía Dạ Thanh Sương, giọng nói bộc trực nhưng chứa chan tình cảm: “Cầm lấy! Lão Trương tao tặng mày đấy! Thôn Lạc Hà chúng ta tuy nghèo, nhưng người một nhà thì không bao giờ để nhau phải chịu thiệt thòi. Mày đã về đây phụ giúp thằng Triệt, thì mày chính là người của thôn Lạc Hà! Cầm lấy cái cuốc này mà làm ăn cho tử tế, đừng có làm gãy nữa đấy nhé, kiếm đâu ra huyền thiết đền lần thứ hai đâu!” Dạ Thanh Sương sững sờ. Hắn run run đưa hai tay ra, đón lấy chiếc lưỡi cuốc bằng huyền thiết từ tay người thợ rèn già. Kim loại huyền thiết lạnh ngắt tiếp xúc với da thịt, nhưng kỳ lạ thay, hắn lại cảm thấy nó nóng bỏng như một hòn than hồng. Huyền thiết ở tiên giới tuy không phải thần vật chí tôn, nhưng cũng là bảo tài dùng để đúc tiên kiếm, phi kiếm của các đệ tử nội môn. Vậy mà ở chốn phàm trần này, lão thợ rèn này lại dùng nó để rèn thành… một chiếc lưỡi cuốc. Một chiếc lưỡi cuốc dùng để xới đất, trồng rau, nuôi sống con người. “Người của thôn Lạc Hà…” Thanh Sương lẩm bẩm trong miệng, từng từ từng chữ như khắc sâu vào tâm khảm hắn. Hắn ngẩng đầu lên nhìn lão Trương, đôi mắt phượng vốn lạnh lùng giờ đây ngập tràn sự kính trọng chân thành. Hắn đứng dậy, hai tay ôm chiếc lưỡi cuốc, khom người hành một lễ thật sâu: “Đa tạ Trương đại thúc. A Sương… nhất định sẽ trân trọng nó.” “Ha ha ha! Được, được lắm! Đàn ông đại trượng phu nói ít làm nhiều thế mới tốt!” Lão Trương cười lớn, ngửa cổ uống cạn một hơi bát nước chè xanh: “Thôi, chúng mày ăn nhanh lên rồi còn về, ráng chiều sắp buông rồi đấy!” * Khi hai người rời khỏi thị trấn Lạc Hà, mặt trời đã bắt đầu ngả về phía tây. Ánh hoàng hôn rực rỡ nhuộm đỏ cả một góc trời Côn Lôn. Dãy núi tuyết ngàn năm sừng sững phía xa xa như được khoác lên một tấm áo choàng lộng lẫy dệt bằng tơ vàng và huyết ngọc. Gió chiều thổi qua thung lũng, mang theo hương thơm ngai ngái của cỏ dại và hơi ẩm của dòng suối, mơn man trên da thịt mát rượi. Chiếc xe cút kít lăn bánh trên con đường đất đỏ trở về thôn. Lúc này, trên xe chất đầy hai bao muối, vò dầu mè, bọc hạt giống vụ hè, gói y phục màu xanh thẫm mới tinh và chiếc lưỡi cuốc huyền thiết đen nhánh. Dạ Thanh Sương một tay đẩy xe, một tay thỉnh thoảng khẽ chạm vào chiếc lưỡi cuốc đặt bên cạnh. Bước chân hắn nhẹ tênh, chưa bao giờ trong suốt một trăm năm qua hắn cảm thấy tâm hồn mình lại thanh thản, tự tại và bình yên đến nhường này. Không có gánh nặng chém giết, không có áp lực tu vi, không có sự đề phòng phản trắc. Chỉ có mặt đất dưới chân, hoàng hôn trước mắt, và người đồng hành bên cạnh. Vân Triệt đi bên cạnh xe, miệng khẽ ngân nga một điệu hò dân dã của người hái thuốc, đôi bàn tay đung đưa theo nhịp bước. Chàng bỗng quay sang nhìn Thanh Sương, bắt gặp ánh mắt hắn đang nhìn mình. Bốn mắt nhìn nhau. Giữa ráng chiều đỏ rực như lửa, Dạ Thanh Sương nhìn thấy hình bóng mình in rõ trong đôi mắt trong veo lấp lánh của thiếu niên. Hắn không kìm được lòng, khóe môi khẽ cong lên, nở một nụ cười hiếm hoi. Nụ cười ấy mỏng manh như cánh hoa mai đầu mùa nở giữa tuyết trắng, nhưng lại khiến cả gương mặt tuấn tú, lạnh lùng của hắn bỗng chốc bừng sáng, ấm áp và rạng ngời đến mức khiến cảnh sắc hoàng hôn xung quanh cũng phải lu mờ. Vân Triệt ngẩn ngơ nhìn nụ cười ấy, bước chân bất giác khựng lại một nhịp, đôi gò má khẽ ửng hồng dưới ánh chiều tà. Thế nhưng, nụ cười trên môi Dạ Thanh Sương chỉ duy trì được trong đúng ba nhịp thở. Khi chiếc xe vừa lăn bánh qua cột mốc bằng đá xanh thô ráp đánh dấu ranh giới ở đầu trấn Lạc Hà, một cơn gió núi bỗng nhiên thốc tới, cuốn bay lớp bụi mù trên mặt đất. Cơn gió thổi lật một góc tờ giấy vàng ố dán khuất sau mặt tối của cột đá rêu phong. Ánh mắt sắc bén của một kiếm tu theo bản năng liếc qua. Và rồi, nụ cười trên gương mặt Dạ Thanh Sương hoàn toàn đông cứng lại. Đồng tử hắn co rút dữ dội thành hai chấm nhỏ, toàn thân hắn cứng đờ như một pho tượng đá giữa gió chiều, từng thớ cơ bắp lập tức siết chặt lại đến mức phát ra tiếng răn rắc. Khí tức ấm áp của nhân gian, vị ngọt ngào của kẹo hồ lô vừa tan nơi đầu lưỡi bỗng chốc biến thành vị đắng ngắt, lạnh buốt như băng tuyết ngàn năm dưới đáy vực sâu. Trên cây cột đá, dưới lớp bụi đường và rêu xanh, một tờ “Huyết Sắc Truy Nã Lệnh” màu vàng viền máu đập thẳng vào mắt hắn. Trên mặt giấy, một bức chân dung được vẽ bằng mực chu sa cực kỳ tinh xảo: Mày kiếm sắc bén xếch ngược, đôi mắt phượng lạnh lùng u uất, sống mũi cao thẳng và mái tóc đen buộc cao bằng dải lụa trắng. Từng đường nét, từng thần thái đều giống hắn như đúc, không sai một ly. Phía dưới bức họa là những dòng chữ đỏ như máu, tỏa ra sát khí nồng nặc khiến không khí xung quanh dường như ngưng đọng lại: “Côn Lôn Tiên Minh – Thanh Vân Phái ban bố Thiên Đạo Truy Nã Lệnh: Phản đồ Dạ Thanh Sương, nguyên phong hiệu Hàn Tiêu Kiếm Tôn, cấu kết ma đạo, phản bội tông môn, trộm cắp thần kiếm Vô Trần rồi trốn chạy xuống hạ giới. Nay ban lệnh tróc nã toàn cõi bắc cảnh. Kẻ nào cung cấp tin tức chuẩn xác, thưởng mười vạn linh thạch trung phẩm; kẻ nào bắt sống hoặc chém lấy thủ cấp mang về, được ban thưởng một viên Hóa Thần Đan cực phẩm cùng một kiện Địa giai Thần binh, được tôn làm Thái thượng Khách khanh của Thanh Vân Phái, hưởng vinh hoa phú quý ngàn năm. Phụng thiên hành đạo, trảm thảo trừ căn!” Gió chiều bỗng nhiên ngừng thổi. Không gian tĩnh lặng đến rợn người, chỉ còn lại tiếng lá khô xào xạc lăn qua mặt đường đá. Dạ Thanh Sương đứng chết trân trước cột đá, bàn tay đang vịn vào tay cầm xe gỗ siết chặt đến mức các đốt ngón tay trắng bệch, thanh gỗ mun cứng cáp phát ra tiếng “rắc” rạn nứt dưới kình lực vô hình. Một luồng hàn khí thấu xương từ đáy đan điền cuộn trào trở lại, thanh kiếm Vô Trần trong thức hải khẽ rung lên một tiếng rền rĩ bi thương và phẫn nộ. Bóng ma tàn khốc của Côn Lôn Tiên Minh, cuối cùng đã đuổi tới tận cửa ngõ chốn điền viên bình yên này. , , vn, live , vn

Bạn cũng là tác giả hoặc dịch giả?

Đăng sáng tác hoặc bản dịch của riêng bạn lên Say Truyện — miễn phí, chỉ mất vài phút.

Đăng truyện ngay

Bình luận (0)

Đang tải bình luận...