Bản Sonate Dưới Đáy Vực Sương
Chương3: Giao Điểm Của Hai Kẻ Săn Lùng
Cỡ chữ
Nòng thép nguội ngắt của khẩu súng ngắn tỳ hờ lên vùng gáy mỏng manh của người phụ nữ, nhưng ngón trỏ của Phan Nhật Nam vẫn giữ một khoảng hở hai milimét trên vòng cò. Đôi bàn tay anh, dẫu giấu kín sau lớp găng len hở ngón xơ xác, vẫn duy trì sự ổn định tuyệt đối của một giám định viên từng giải phẫu hàng trăm tử thi dưới ánh đèn mổ.
Trong bóng tối nhờ nhợ của đại sảnh biệt thự De La Vallée, Nam không nhìn vào gương mặt kẻ lạ mặt. Anh nhìn vào từng chuyển động vi mô trên cơ thể cô ta.
Bả vai của người phụ nữ căng cứng dưới lớp áo dã chiến màu rêu. Nhịp thở dồn dập khiến hai lá phổi phập phồng làm xao động lớp bụi không khí mờ đục quanh luồng sáng đèn pin. Nhưng cô ta không hề run rẩy vì sợ hãi. Đó là phản xạ của một con thú săn mồi vừa bị tước đoạt thế chủ động: các thớ cơ siết chặt, trọng tâm dồn thấp về phía mũi chân phải, bàn tay trái đang nắm chặt một vật thể nhỏ giấu trước ngực, sẵn sàng cho một cú xoay người phản kháng liều lĩnh.
“Tôi lặp lại,” giọng Nam vang lên, trầm đặc và khô khốc như tiếng hai thanh gỗ mục cọ vào nhau giữa đêm đông. “Hạ chậm đèn pin xuống góc bốn mươi lăm độ. Thả lỏng hai vai. Bất kỳ một luồng khí thở mạnh hay chuyển động đột ngột nào của cô vào lúc này cũng sẽ thổi bay lớp bột nhựa thông và tế bào biểu bì lơ lửng quanh thi thể. Đừng ép tôi phải bẻ khớp cổ tay cô.”
Người phụ nữ khẽ nghiến răng. Dưới ánh sáng phản chiếu le lói từ chân đế nến bằng đồng, Nam nhận thấy một góc quai hàm thanh tú nhưng đanh lại đầy bướng bỉnh.
“Anh không phải hung thủ,” cô gái cất tiếng. Giọng cô hơi khàn vì nhiễm lạnh, nhưng từng âm tiết phát ra dứt khoát đến kinh ngạc. “Kẻ vừa dàn dựng hiện trường này không dùng súng ngắn quân dụng K54 cũ với mùi dầu bảo quản vũ khí rẻ tiền của công an huyện. Và hắn cũng sẽ không quan tâm đến việc bảo toàn vi vết.”
Đôi mày rậm của Nam khẽ nhíu lại. Khả năng nhận diện mùi dầu súng và phán đoán xuất thân vũ khí chỉ qua một cú lên đạn — người phụ nữ này không phải dân thường tò mò hay một kẻ vô gia cư đi lạc tìm chỗ trú tuyết.
Trước khi Nam kịp đưa ra mệnh lệnh tiếp theo, tiếng đế ủng da nện rầm rập trên lớp gạch hoa mục nát từ hành lang phía ngoài đột ngột xé toạc bầu không khí nghẹt thở.
“Nam! Có động tĩnh gì không? Tôi vừa phát hiện một chiếc xe U-oát dân sự đỗ khuất sau rặng sa mu…”
Đại úy Đặng Minh Tuấn lao qua cánh cửa vòm, khẩu súng ngắn tiêu chuẩn trên tay anh chĩa thẳng về phía khoảng trống giữa hai người. Luồng ánh sáng công suất lớn từ chiếc đèn tuần tra quân dụng quét qua đại sảnh, làm bừng sáng khung cảnh ma quái: người phụ nữ nhỏ nhắn đang bị Nam áp sát từ phía sau, và chếch về bên phải, thi thể nữ nghệ sĩ vĩ cầm trong bộ đầm dạ hội đen vẫn ngồi bất động trên chiếc ghế bành bọc nhung rách nát.
“Đứng im! Công an đây!” Tuấn quát lớn, nhưng ngay giây tiếp theo, khi luồng sáng rọi thẳng vào gương mặt cắt ngắn ngang vai của cô gái, nòng súng của viên đại úy khẽ hạ xuống nửa tấc. “Khoan đã… Chu Lan Vy? Phóng viên Ban Nội chính Báo Pháp Luật?”
Nam không hề hạ vũ khí. Ánh mắt xám tro của anh vẫn khóa chặt vào từng góc cạnh trên khuôn mặt người phụ nữ.
“Cậu biết cô ta?” Nam hỏi Tuấn, giọng không chút gợn sóng.
“Biết. Thậm chí quá nhẵn mặt,” Tuấn thở hắt ra một làn khói trắng đục, hạ súng xuống nhưng vẻ mặt càng thêm căng thẳng. “Nửa năm trước cô ta bám theo chuyên án buôn lậu gỗ nghiến ở Mường Khương suýt làm lật cả chuyên án của tỉnh. Nhưng tại sao cô lại có mặt ở đây vào lúc bốn giờ sáng, hả cô Vy? Tòa soạn của cô cách đây bốn trăm cây số!”
Chu Lan Vy từ từ thở ra, nhưng không hề quay lại nhìn Nam mà chỉ liếc xéo qua khóe mắt, nơi họng súng vẫn đang khống chế mình.
“Bỏ súng ra trước đã, thưa chuyên gia pháp y giấu mặt,” Vy nói, giọng lạnh băng. “Tôi đến đây không phải để cướp tin bài hay can thiệp vào chuyên án của các anh. Tôi đến để tìm em gái tôi.”
Nam chậm rãi hạ súng, ngón tay trỏ khẽ gạt chốt an toàn khóa lại trước khi nhét khẩu K54 vào bao da dưới lớp áo khoác dạ. Anh lùi lại hai bước, giữ đúng khoảng cách an toàn nghiệp vụ, đôi mắt sắc lẹm lướt nhanh từ chiếc áo khoác dã chiến dính đầy bùn đất đỏ đặc thù của vách đá Thung lũng Mường Hoa xuống đến đôi găng tay len mỏng và chiếc máy ghi âm chuyên dụng lấp ló nơi túi áo ngực của cô.
“Em gái cô?” Nam cất giọng, ánh mắt liếc nhanh về phía thi thể trên ghế bành. “Nạn nhân kia?”
“Không phải,” Vy quay hẳn người lại. Dưới ánh đèn pin cực mạnh của Tuấn, gương mặt cô lộ rõ sự mệt mỏi cùng cực sau nhiều đêm mất ngủ, nhưng trong sâu thẳm đôi mắt nâu sẫm ấy là một ngọn lửa kiên định đến mức tàn nhẫn. “Nạn nhân đó không phải Chu Lan Anh. Nhưng em gái tôi chắc chắn đã ở đây. Con bé đã bị đưa đến chính căn phòng này.”
“Bằng chứng?” Nam hỏi cộc lốc. “Khu vực này đã bị cô xâm nhập trái phép. Mọi dấu vết đế giày trên mặt sàn từ bậc tam cấp vào đến đây đã bị xáo trộn ít nhất ba mươi phần trăm. Nếu cô chỉ nói dựa trên linh cảm của một người chị…”
“Tôi không làm việc bằng linh cảm!”
Vy ngắt lời anh bằng một giọng đanh thép. Cô giơ bàn tay trái lên. Giữa những ngón tay được bọc cẩn thận là một chiếc túi zip ni-lông chuyên dụng đựng vật chứng cỡ nhỏ. Bên trong lớp nhựa trong suốt, một chuỗi ngọc cẩm thạch màu lục nhạt xâu bằng sợi chỉ đỏ bện tay khẽ đung đưa dưới ánh sáng.
Nam nheo mắt lại. Bản năng của một cựu giám định viên hiện trường lập tức bị kích hoạt.
“Chiếc vòng này kẹt sâu trong khe nứt chân đế nến bằng đồng, cách vị trí chiếc ghế bành một mét hai mươi về hướng Tây Bắc,” Vy nói nhanh, hơi thở phả ra thành từng luồng khói mỏng. “Viên ngọc ở tâm có một vết mẻ hình bán nguyệt, do chính tay tôi nhìn thấy em tôi làm rơi vào mùa thu năm ngoái tại Nhạc viện Hà Nội. Sợi chỉ đỏ bị đứt giằng giật, lực kéo tác động từ dưới lên trên theo góc nghiêng, chứng tỏ có sự giằng co dữ dội trên mặt sàn. Và quan trọng nhất…” Cô chỉ ngón tay đeo găng vào lớp nhựa. “Có một vệt máu khô bám chặt vào phần nút thắt sợi chỉ.”
Tuấn bước vội tới, định vươn tay cầm lấy chiếc túi thì Nam đã vung cánh tay cản lại.
“Đừng chạm vào,” Nam lạnh lùng nói, ánh mắt dán chặt vào mẫu vật qua lớp ni-lông. “Máu ở nút thắt có màu nâu sẫm, rìa ngoài có hiện tượng co rút vi mô tạo thành viền gợn sóng đặc thù của việc khô tự nhiên trong môi trường độ ẩm trên chín mươi phần trăm và nhiệt độ dưới năm độ C. Thời gian khô hoàn toàn của vệt máu này dao động từ mười hai đến mười sáu tiếng trước. Không phải máu của thi thể trên ghế.”
Vy sững sờ nhìn người đàn ông trước mặt. Chỉ trong chưa đầy năm giây quan sát bằng mắt thường dưới ánh đèn pin tù mù, anh ta đã đọc ra cơ chế đông máu và thời gian hình thành vết tích một cách chính xác đến rợn người.
“Anh là ai?” Vy hỏi, giọng chùng xuống.
“Phan Nhật Nam,” Tuấn thở dài, lên tiếng phá vỡ sự im lặng ngột ngạt. “Cựu chuyên gia giám định dấu vết hình sự của Viện Khoa học Hình sự. Hiện tại… là cố vấn đặc biệt của tôi trong vụ án này.”
Cái tên “Phan Nhật Nam” dường như chạm vào một ngăn kéo ký ức nào đó trong đầu nữ phóng viên điều tra. Đôi ngươi của Vy khẽ co lại: “Phan Nhật Nam? Vụ án 'Sonate Dưới Đáy Vực' mười năm trước ở đèo Ô Quy Hồ… Người giám định viên duy nhất phản đối kết luận điều tra và sau đó đột ngột biến mất khỏi ngành?”
Nam không trả lời. Cơ hàm của anh khẽ siết lại dưới lớp da phong trần. Nỗi đau mười năm trước như một chiếc dằm mục cắm sâu vào tủy sống, chỉ cần một cái chạm nhẹ cũng đủ làm bùng lên cơn nhức nhối quen thuộc. Anh quay lưng lại với Vy, bước chậm rãi về phía chiếc hộp đồ nghề dã chiến đặt trên bậc thềm đá.
“Đại úy Tuấn,” Nam nói, giọng không mang một chút cảm xúc nào. “Lập biên bản thu giữ vật chứng chiếc vòng tay. Ghi rõ tình trạng thu thập: do người thứ ba bàn giao tại hiện trường sơ cấp. Sau đó, yêu cầu cô Vy đứng lùi lại sau hàng cột đá số hai. Nếu cô ấy bước qua vạch cách ly ba mét mà không có sự cho phép của tôi, cậu có quyền còng tay cô ấy đưa về đồn huyện.”
“Này!” Vy bước tới một bước, giọng đầy phẫn nộ. “Em gái tôi đang nằm trong tay kẻ thủ ác! Tôi có quyền được biết…”
“Quyền của cô lúc này là không biến hiện trường này thành một đống rác phế thải nghiệp vụ,” Nam quay phắt lại, ánh mắt sắc lẹm như lưỡi dao mổ vừa tuốt khỏi vỏ khử trùng, đóng băng mọi lời nói định thốt ra của Vy. “Nếu Lan Anh thực sự còn sống, cơ hội duy nhất để cứu cô ấy nằm ở những hạt bụi vi lượng bám trên thi thể kia, chứ không nằm ở những giọt nước mắt hay sự nóng vội của một phóng viên. Hiểu rõ chưa?”
Không gian chìm vào sự im lặng tuyệt đối. Chỉ còn tiếng gió rít gào qua những ô cửa kính vỡ trên tầng hai của tòa biệt thự cổ, nghe như tiếng khóc than của một linh hồn bị giam cầm trong đá lạnh.
Vy nghiến chặt môi dưới, lùi lại đúng ba bước, tựa lưng vào thân cột đá cẩm thạch nứt nẻ. Cô siết chặt hai bàn tay trong túi áo khoác, ép mình phải nuốt trọn cơn uất nghẹn vào lồng ngực. Người đàn ông này tàn nhẫn, lạnh lùng, nhưng từng lời anh ta nói ra đều mang tính chuẩn xác đến tột cùng của một kẻ hiểu rõ ranh giới giữa sự sống và cái chết.
Nam quỳ một bên gối xuống cạnh chiếc hộp kim loại. Bằng những động tác thuần thục như một cỗ máy đã được lập trình tinh vi, anh mở khóa hộp. Từng khay dụng cụ bật ra trong bóng tối: những lọ thuốc thử hóa học, đèn cực tím cầm tay bước sóng 365nm, thước kẹp điện tử kỹ thuật số, ống nghiệm vô trùng, băng dính thu thập vi vết và những đôi găng tay cao su nitrile màu tím than.
Anh cởi bỏ đôi găng tay len hở ngón, để lộ bàn tay thon dài, những ngón tay gầy guộc nhưng các khớp xương đều đặn hoàn mỹ. Nam xỏ hai lớp găng nitrile, tiếng cao su đàn hồi búng nhẹ vào cổ tay vang lên khô khốc.
“Bắt đầu quy trình khám nghiệm sơ bộ,” Nam cất tiếng, hướng về phía máy ghi âm hiện trường mà Tuấn vừa bật lên. “Nhiệt độ môi trường đo được tại sảnh: âm hai độ C. Độ ẩm không khí: chín mươi tư phần trăm. Nạn nhân là nữ giới, ước tính độ tuổi từ hai mươi đến hai mươi lăm, mặc đầm dạ hội nhung đen cộc tay, đi giày cao gót mũi nhọn cùng màu.”
Nam cầm chiếc đèn soi kiểm tra bề mặt da trên cánh tay nạn nhân. Làn da trắng bệch như sáp nến, phủ một lớp sương giá mỏng manh li ti.
“Quan sát vết hoen tử thi,” Nam dùng đầu ngón tay ấn mạnh vào vùng da ở mặt sau đùi và mông nạn nhân — nơi tiếp xúc trực tiếp với mặt đệm ghế nhung. “Vết hoen màu tím thẫm cố định, không biến mất khi dùng áp lực cơ học. Tuy nhiên…” Ánh mắt Nam lóe lên tia lạnh lùng. “Có sự bất thường nghiêm trọng giữa hoen ố tử thi và tư thế hiện trường.”
Tuấn nghiêng đầu rọi đèn: “Bất thường thế nào?”
“Vết hoen tập trung toàn bộ ở vùng lưng trên, gáy và mặt sau cẳng chân, chứng tỏ tư thế chết ban đầu của nạn nhân là nằm ngửa trên một mặt phẳng tuyệt đối. Tử thi chỉ mới được chuyển sang tư thế ngồi trên chiếc ghế bành này cách đây không quá ba đến bốn tiếng đồng hồ.”
Nam rút một nhiệt kế điện tử đầu dò kim loại dài từ trong hộp, cẩn thận luồn đầu dò qua lớp áo dạ hội, cắm sâu vào thùy gan nạn nhân để đo nhiệt độ sâu của tạng phủ. Anh nhìn vào màn hình kỹ thuật số đang nhảy số li ti.
“Nhiệt độ gan: mười một độ C. Trong điều kiện âm hai độ C của Sa Pa đêm nay, nếu nạn nhân chết tại căn phòng này từ tối qua, nhiệt độ tạng phủ phải tụt xuống dưới năm độ C từ lâu. Nhưng các khớp cơ lớn ở khuỷu tay và đầu gối lại có dấu hiệu mềm hóa bất thường, không hề có hiện tượng co cứng tử thi hoàn toàn theo quy luật Nysten.”Đứng từ xa sau hàng cột đá, Chu Lan Vy không kìm được sự thôi thúc nghề nghiệp, cất giọng phá vỡ sự im lặng: “Điều đó có nghĩa là gì?”
Nam không ngẩng đầu lên, nhưng giọng anh vang lên rành rọt giữa đại sảnh hoang tàn:
“Nghĩa là cô gái này đã bị sát hại ở một không gian khác. Sau khi chết, thi thể bị đưa vào một buồng bảo quản lạnh sâu — nhiệt độ khoảng âm mười tám độ C trong ít nhất tám đến mười tiếng đồng hồ để đóng băng hoàn toàn quá trình phân hủy sinh học. Sau đó, kẻ thủ ác rã đông thi thể bằng luồng nhiệt đối lưu chậm có kiểm soát trước khi vận chuyển đến đây. Hắn làm mềm các khớp cơ để có thể dễ dàng uốn nắn, xỏ dây thép qua xương cổ tay và khớp ngón tay, tạo hình tư thế kéo đàn vĩ cầm mà không làm gãy xương hay rách các bó cơ đã đông lạnh.”
Một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng cả ba người.
Một kẻ sát nhân không chỉ giết người, mà còn bảo quản, rã đông và dàn dựng xác chết với sự kiên nhẫn, tỉ mỉ và lạnh lùng như một nghệ nhân đang xử lý một khối đất sét vô tri.
Nam cầm chiếc thước kẹp điện tử kỹ thuật số, tiến sát vào vùng ngực nạn nhân. Ánh sáng tập trung vào khuông nhạc gồm năm đường rạch ngang đẫm máu trải dài từ xương đòn xuống tận mũi ức.
“Phân tích dấu vết rạch da,” Nam áp sát đầu thước kẹp vào mép vết thương đầu tiên. “Khoảng cách giữa các đường rạch: chính xác tám milimét. Sai số không vượt quá không phẩy hai milimét trên toàn bộ chiều dài mười hai xentimét của khuông nhạc.”
Anh dùng kính lúp cầm tay có độ phóng đại mười lần, quan sát kỹ phần rìa của từng vết cắt.
“Miệng vết cắt sắc ngọt, hai mép vết thương thẳng tắp, không có hiện tượng co kéo da hay vết răng cưa của dao bấm thông thường. Chiều sâu vết cắt ổn định ở mức một phẩy năm milimét, đi xuyên qua lớp biểu bì và trung bì, dừng lại chính xác ở lớp mỡ dưới da mà không làm tổn thương màng xương sườn. Đây là kỹ thuật sử dụng dao mổ y tế số 11 — loại dao phẫu thuật có mũi nhọn hình tam giác chuyên dùng cho các đường rạch nông đòi hỏi độ chính xác tuyệt đối.”
Nam ngước mắt nhìn Tuấn: “Người cầm con dao này phải có bàn tay của một phẫu thuật viên ngoại khoa hàng đầu, hoặc… một chuyên gia giải phẫu bệnh lý học đã thực hiện hàng ngàn ca mổ. Cơ tay của hắn không hề có một vi chấn nào trong suốt quá trình rạch năm đường kẻ này.”
“Còn máu?” Tuấn hỏi, chỉ vào những giọt máu đã khô đóng vảy trên ngực nạn nhân. “Tại sao lại có máu chảy dọc theo các rãnh cắt nếu cô ta đã chết từ trước?”
“Cơ chế hình thành vết máu nhân tạo,” Nam giải thích, ngón tay anh chỉ vào một giọt máu đọng hình bán cầu hoàn hảo ở cuối đường kẻ thứ ba. “Nếu vết cắt được thực hiện khi tim còn đập, áp lực máu sẽ tạo ra hiện tượng mép vết thương há miệng rộng và máu phun thành tia hoặc thấm đẫm các mô xung quanh. Ở đây, mép vết cắt hoàn toàn trơn láng, không có phản ứng sống. Máu này là máu chống đông, được hút ra từ tĩnh mạch nạn nhân trước đó, sau đó kẻ thủ ác dùng một ống tiêm thủy tinh có đầu kim nhỏ, cẩn thận bơm từng giọt máu lấp đầy các rãnh cắt để tạo hình khuông nhạc.”
Sự b*nh h**n trong từng chi tiết khiến Tuấn phải quay mặt đi, nuốt khan một ngụm nước bọt lạnh buốt.
Nhưng Nam vẫn không dừng lại. Đôi mắt anh như một chiếc máy quét vô hồn, rà soát từng milimét da thịt của người chết. Ánh mắt anh dừng lại ở góc dưới cùng bên phải của khuông nhạc, ngay phía trên xương sườn số sáu bên trái — nơi có một vết rạch chéo kỳ lạ mà Chu Lan Vy đã nhìn thấy trước đó.
“Đưa cho tôi cây đèn cực tím và kính lọc màu hổ phách,” Nam hạ giọng.
Tuấn lập tức đưa dụng cụ. Nam đeo chiếc kính lọc chuyên dụng lên mắt, bật công tắc đèn UV. Luồng ánh sáng tím sẫm quét qua v*m ng*c thi thể.
Dưới bước sóng 365nm, những chất dịch sinh học và dấu vết hóa chất vô hình dưới ánh sáng trắng đột ngột phát quang rực rỡ. Vết rạch chéo hiện lên với một đường viền huỳnh quang màu vàng xanh ma quái.
Đó là một nốt nhạc.
Một nốt móc đơn hoàn chỉnh. Thân nốt nhạc là một đường rạch thẳng đứng dài một xentimét rưỡi, đầu nốt nhạc là một hình bầu dục được khoét nông vào da, và phần đuôi móc đơn cong vút lên trên với một góc mở kỳ dị.
“Góc nghiêng ba mươi lăm độ… xoay ngược chiều kim đồng hồ,” Nam lẩm bẩm, hơi thở của anh bỗng trở nên ngắt quãng. “Đuôi móc đơn có hai vết khía răng cưa ở phần chóp nhọn…”
“Anh nhận ra nó?” Vy từ phía sau bước lên một bước, không kiềm chế được mà lên tiếng. “Nốt nhạc đó có ý nghĩa gì?”
Nam không quay lại, nhưng các ngón tay bọc cao su của anh vô thức siết chặt lấy thân đèn pin đến mức các khớp ngón trắng bệch.
“Đây không phải hệ thống ký âm hiện đại,” giọng Nam run rẩy một cách hiếm hoi, một sự chấn động ngầm đang phá vỡ lớp vỏ bọc băng giá của anh. “Đây là ký hiệu Solfège cổ điển thế kỷ mười bảy, biến thể Neume của các bản thánh ca Gregorian. Trong hệ thống này, vị trí của nốt nhạc nằm ở dòng kẻ phụ thứ nhất bên dưới khuông nhạc tương ứng với cao độ của nốt Đô — ‘Do’. Nhưng với góc nghiêng ba mươi lăm độ và đuôi móc ngược, theo bảng giải mã mật mã âm nhạc La-tinh cổ…”
Nam dừng lại, nuốt một ngụm khí lạnh như nuốt phải dăm băng.
“Nó đại diện cho chữ cái ‘A’. Khởi đầu.
Inizio
.”
“A?” Tuấn cau mày. “A nghĩa là gì? Tên của ai đó?”
“Lan Anh!” Vy thốt lên, giọng cô vỡ vụn trong bóng tối. “Em gái tôi là Lan Anh! Bắt đầu bằng chữ A!”
“Không chỉ có thế,” Nam thì thầm, đôi mắt anh dường như không còn nhìn vào thi thể trước mặt nữa, mà đang nhìn xuyên qua thời gian, xuyên qua mười năm chìm trong bóng tối và mặc cảm tội lỗi. “Mười năm trước… trên ngực của nạn nhân đầu tiên tại căn chòi gỗ trên đèo Ô Quy Hồ, cũng có một nốt móc đơn y hệt như thế này. Nó không chỉ là chữ cái. Nó là nốt nhạc mở đầu cho chương thứ nhất của một bản sonate bốn chương.”
Căn phòng rơi vào một khoảng lặng nghẹt thở. Cơn ác mộng tồi tệ nhất của Đặng Minh Tuấn đã trở thành sự thật. Kẻ cuồng sát biến mất sau vụ nổ xe mười năm trước không những chưa chết, mà hắn đã quay trở lại Sa Pa, tiếp tục bản hòa tấu đẫm máu mà hắn từng bỏ dở.
Bàn tay Nam đưa chiếc đèn cực tím di chuyển dọc theo xương ức của nạn nhân. Luồng sáng tím quét qua kh* ng*c sâu thẳm, nơi lớp da mỏng manh bao phủ xương ức.
Đột nhiên, bước chân của Nam khựng lại.
Dưới ánh sáng cực tím kết hợp với kính lọc sắc tố, bên dưới lớp biểu bì trong suốt của rãnh cắt trung tâm dọc xương ức — một đường rạch tưởng chừng như chỉ là một vết trầy xước nông vô hại — bộc lộ một dãy ký tự huỳnh quang siêu vi lượng.
Những ký tự này không được vẽ bằng máu. Chúng được khắc chạm bằng một mũi kim siêu nhỏ tẩm dung dịch huỳnh quang hữu cơ, ẩn sâu dưới màng xương (periosteum), hoàn toàn vô hình trước mắt thường và bất kỳ quy trình khám nghiệm thông thường nào nếu không biết chính xác bước sóng ánh sáng và góc quét ba mươi độ.
Từng nét chữ hiện lên, sắc sảo, lạnh lẽo, đầy vẻ ngạo mạn của một kẻ xem tội ác là nghệ thuật tối thượng:
“Opus 4. Mùa đông bất tận.”
Hơi thở của Nam ngưng bặt.
Một cơn đau nhói buốt như có hàng ngàn mũi kim đâm thẳng vào thái dương anh. Tiếng rít của vĩ cầm — ảo thanh kinh hoàng đã hành hạ anh suốt mười năm qua trong những đêm mưa tuyết — đột ngột dội về dữ dội trong màng nhĩ.
Rít… Kétttt…
Âm thanh chói gắt của dây đàn kim loại cọ xát trên phím gỗ vang vọng giữa đáy sọ Nam. Hình ảnh hiện trường vụ án năm xưa bùng lên: người thiếu nữ vĩ cầm gục chết trên vũng máu đóng băng, chiếc xe lao xuống vực Thác Bạc nổ tung thành một quả cầu lửa, và mẫu sợi vi lượng màu xám mà anh đã bỏ sót trên tay nắm cửa — sai lầm chí mạng đã cướp đi sinh mạng của người nhân chứng vô tội và đẩy cuộc đời anh xuống đáy vực sâu của sự đày ải.
Opus 4.
Tác phẩm số 4. Bản Sonate dang dở mười năm trước chỉ mới dừng lại ở Opus 3.
Kẻ sát nhân không hề bắt chước ai cả. Hắn chính là tên ác quỷ năm đó. Hắn đã trở lại để hoàn thành chương nhạc cuối cùng của cuộc đời mình.
Và con mồi tiếp theo được hắn chọn để tấu lên những nốt nhạc kết thúc bản sonate tử thần ấy… chính là Chu Lan Anh.
Dưới chân bục khánh tiết, chiếc đèn cực tím trên tay Phan Nhật Nam khẽ run lên, hắt những vệt sáng tím chập chờn lên gương mặt trắng bệch của người chết, như thể bóng ma của một thập kỷ trước vừa thức giấc từ cõi âm ty lạnh giá.
, , vn, live
,
vn
Bình luận (0)
Đang tải bình luận...